Thứ Hai, tháng 11 04, 2013

42. Học để tu ; Learning to cultivate

Thực hành dịch sang Anh ngữ tự học: số 42
Practice self-taught English translation: No. 42
( Hiệu chỉnh và dịch thuật : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dịch sang Anh ngữ; Translations into English: Học hành phải biết "chỗ sai"...Tầm cầu học hỏi, miệt mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body!

Học Để Tu
Learning to cultivate
Trang 636-646; Pages 636-646
Thuở xưa trong các hàng đệ tử của Phật, chỉ có ông A Nan là hạng bậc nghe nhiều, học rộng, chữ giỏi, văn học, hay...hơn hết ! ; Oldtimer in the Buddha's disciples, Ananda was only his grade classes heard, educated, good word, literature, or ... above all! Ông là em một họ của Đức Phật Thích Ca, thường đi theo hầu cận và khít bên chân Phật. ; He is a brother of the Buddha Shakyamuni they usually follow servant and his feet snugly inside. Ông nổi tiếng là bậc hạng "đa văn, quảng lý". ; He is renowned as class rank "multicultural, advertising management." Chính ông, là một vị đệ tử Phật, giỏi nhứt về sự nhớ dai. ; It was he, was a disciple of the Buddha, ace of a long memory. Các kinh tạng , soạn chép ra sau nầy: phần nhiều là do ông trùng tuyên đọc lại cho các vị A La Hán viết theo; nên, đầu mỗi quyển kinh, chúng ta hằng thấy, ông A Nan nói câu tường thuật, rằng : Ta nghe như vậy ! The Sutras, copycats out later: largely due to re-read his statement to coincide Arahat written; So each book early, we once saw, he said Ananda reported speech, saying, I heard that!
Ông A Nan đã là người thông minh, tài trí giỏi hay, thế mà đối với sự "học để tu" trong đạo Phật, ông là một người vô duyên nhất hạng, hơn ai, câu chuyện ấy như sau nầy : ; Ananda was the smart, good or intellect, and yet for the "learning to cultivate" in Buddhism, he is a most ungainly classes, more than anyone, this story was as follows:
Số phận là...sau khi đức Phật nhập diệt, Đại Đức Ca Diếp là vị đệ tử lớn nhứt, tu trì phạm hạnh; đã chứng quả A La Hán, được Phật trao truyền: "y-bát" Tổ sư , thay cho Phật. ; Fate is ... after the Buddha's death, Venerable Kassapa was the biggest disciple, holy religious; have attained Arhat, Buddha transmitted: "robe - bowl" Patriarch, instead of Buddha. Đại Đức Ca Diếp bèn ra lịnh nhóm họp chư Tăng A La Hán lại, để kiết tập: "kim ngôn pháp bảo" của Phật. Venerable Kassapa he ordered the monks gathered Arhat again, to compiler: "diction needle protection" of Buddha.
Note: kiết tập=biên dịch
Khi các chư vị A La Hán đã nhóm tựu xong, thế mà cả thảy không có người đứng ra: lập lại lời dạy của Phật được. Bấy giờ ai nấy đều "bạch...xin" với Đại Đức Ca Diếp cho thỉnh mời: ông A Nan ! Đại Đức Ca Diếp chẳng bằng lòng, mà nói rằng : "Ông ấy chẳng có tu và không đức hạnh ! Ông đó khinh đạo rất thường, và tự cao ỷ lại, sự học !" When the Arahat monks had finished achievement group, so that altogether no stand out: repeating the Buddha's teachings. Then everyone was "clear ... please" with the Venerable Kassapa invited: Mr. Ananda! Venerable Kassapa not satisfied, and said: "He had no training and no virtue! Mr. contempt religion that very often, and high self-reliant, the study!". Ông ấy trái ngược với đạo Phật xa lắm, nên dùng không được, ông ấy đạo đức không có, nếu để cho ông đọc và tường thuật những Pháp bảo của Phật; thì về sau những Pháp bảo ấy không còn giá trị nữa, bởi không có ai tu theo đắc quả, và vì người ta sẽ khinh ố ông ấy, mà khinh ố luôn cả sách kinh Phật. He was opposed to Buddhism far, should not be, he has no moral, if let him read and narrative of the Buddha Dharma; then later on the Dharma was not valid anymore, because nobody practicing attained, and because it will stain his contempt, but contempt stain where all of Buddhist scriptures.
Khi đó công việc kiết tập phải bị đình bãi, thế mà chư A La Hán nài nỉ nhiều phen, xin thỉnh ông A Nan nhưng Đại Đức Ca Diếp nhứt định không cho. Người ta bèn đem việc ấy tỏ lại với ông A Nan, ông nầy đi đến đành lễ Đại Đức Ca Diếp, mà bạch xin rằng : Bạch Đại Đức ! Đại Đức hãy nhận chịu đi, tôi tự thuật lại không sai sót một tiếng nào của Phật đâu. Đại Đức Ca Diếp nói : Không được ! Ông là người có học không có hạnh, ông không phải là người “học để tu”. Ông chưa đắc quả A La Hán. Vậy ông hãy đi tu đi. Đắc quả A La Hán rồi sẽ trở lại cũng không muộn. Ông nên biết rằng : Đạo Phật lưu truyền mãi từ đây về sau, là do kinh sách, kinh sách ấy phải có đủ đức tính trong sạch do nơi cửa miệng của một vị thánh đức thốt ra, thì về sau mới có hiệu nghiệm, và đạo Phật sẽ được vững chãi, ngoại đạo không có ai dám xen vào phá hoại. Hôm nay, ông vẫn còn phàm, mà nếu ông dịch thuật, thì có khác nào một kẻ quảng cáo kia, ở nơi giữa chợ, nó chỉ nói mà không có ai thật hành kết quả, thì hỏi vậy có ai thích nghe lời nó nói ấy hay chăng ? Dù nó có nói rằng : ông Phật nầy nói vầy, ông Thánh kia nói vậy đi nữa, người ta cũng xem thường nó, mà xem thường cả lời nói, thì lời nói ấy sẽ không còn linh nghiệm và trẻ con khác, trách sao khỏi sự khen chê, bàn tán, nghi nan, thêm dặm, ố chọi, thì mặc dầu lời ấy có đúng phải y sự thật đi nữa, cũng không còn giá trị gì.
Thế là Đại Đức Ca Diếp không ưng thuận, làm cho cả đại chúng ai cũng phải bối rối.
Khi ấy ông A Nan khổ sở quá, không biết tính làm sao, ông cố để nài nỉ thêm !
Đại Đức Ca Diếp nói : Ông nên biết rằng : Đạo Phật từ nay sẽ là quan trọng, mà nhứt là kinh luật lại quan trọng hơn về lịch sử, tôi không thể nào tư vị ông được, dầu ông là em một họ với Phật, ông là thế tử con cháu vua, ông là đệ từ hầu cận thân Phật, thông minh bực nhứt cũng vậy. Vì đạo Phật đối với chúng-sanh về sau là quan trọng, mà tôi yêu cầu ông phải đắc quả Thánh, cho được tâm trong sạch đi, rồi sẽ trở lại đây, ở đây chúng tôi thà ngồi không nhập định hoặc là chờ ông đến bao lâu nữa cũng được, còn bây giờ thì cả Giáo hội Thánh đây đều trong sạch lắm, tâm ông còn nhơ bẩn háo danh như thế, há đâu còn ở đây nữa được sao ?
Nói xong Đại Đức Ca Diếp liền đóng cửa Giáo hội, bỏ ông A Nan đứng nơi ngoài, mà dặn rằng : khi nào ông đắc đủ lục thông, thì ông sẽ tự chun vào lỗ khóa nầy, khỏi phải đợi ai mở cữa vì chẳng có ai được phép mở cho ông đâu, thôi hãy đi đi, chớ đừng đứng đó.
Thế là ông A Nan bị đuổi, chiều tối lại đến, lui tới không đường, đêm ấy ông đành phải chịu nghỉ dưới cụm rừng bên ngoài Giáo hội.
Bấy giờ ông A Nan sầu não khổ lắm, ông xét thấy, cái nghe cái học của ông vô ích, cái thông minh của ông vô dụng, thế mà nào ông có dè.
Trọn buổi đầu hôm, ông ngồi trơ chán nãn, không sao nằm xuống nghỉ được. Ông cố suy nghĩ mà nhận xét ra rằng : đây là lần thứ hai, trên con đường đạo đức, mà ông không còn muốn sống, không thể sống được. Nghĩ lại từ xưa, lúc thiếu niên, ông còn là Thế tử, chưa biết đạo Phật là chi. Bây giờ Phật kêu gọi ông đi xuất gia, ông đã đi tu mà còn luyến ái, nhớ nhà, nhớ vợ. Bao phen lẻn trốn phải bị Phật bắt gặp, và Phật phải cực khổ vì ông, dùng đủ phương tiện, dắt lên trời cõi tiên, dẫn xuống địa ngục và Phật bắt buộc phải theo sát bên chơn. Cho đến khi ông đã được thông minh hiểu ra đạo báu, vừa yên tâm trong đường đạo, thì gặp phải cảnh Phật nhập Niết-bàn, bơ vơ tẻ lạnh, khổ sở biết nhường nào, đó là sự trở ngại lần thứ nhất đối với ông, trên bước chơn trong cõi đạo. Mà trước kia ông ngỡ tưởng rằng : Mình chẳng còn phải khổ nhọc tu thiền định. Đức Phật sẽ độ được mình, vì mình là em, là thân cận. là tài trí thông minh danh vọng! Cũng vì sự ỷ lại và tự cao đó, mà khi đức Phật nhập diệt, Ông A Nan phải bị chới với điếng hồn, chân ông như không còn chỗ đứng, thân ông như đã mất nơi nương dựa, khi ấy ông đã khổ đau hết sức, sợ lo lắm, thế mà lại còn có sự bị sa thải, nhục nhã, đau đớn, của ngay nay lần thứ hai nữa.
Hồi gẫm lại, lỗi ấy tự mình, đạo Phật quý cao, còn tâm mình quá thấp, thì làm sao chung lộn được, ví dầu mà Đại Đức Ca Diếp có vui lòng thâu nhận đi nữa, thì khi chung lộn với chư thánh chúng ái mình phải gây thêm tội lỗi cống cao hợm hĩnh xấu xa, chớ không nên hay việc chi. Bởi thế cho nên ông kính phục Đại Đức Ca Diếp, mà nhận cho rằng sự khắc nghiêm ấy là rất đúng, vì thương ông, mà muốn cho ông nên, là phải làm y như vậy.
Khi ấy ông A Nan thật rất hối hận, mà xét đến những tội lỗi đã trãi qua ! Trước kia ở thế, thì ông ỷ mình sắc đẹp, giàu sang, danh vọng, tài hay, sức mạnh, khiến nên khi đi học đạo, được trí thông minh, mà sanh lòng kiêu mạn, vì người ngợi khen cho nên tự đắc, ỷ giỏi mà không kiêng dè, ham lo dạy người mà quên lo bổn phận, do đó mà đã một lần bị gái bắt, dẫn dụ, nhốt, giam, cũng vì sắc đẹp; một lần vì tự cao, mà Phật kêu gọi, lại giả tảng làm ngơ, một khi kia, múc nước có lộn bùn, làm biếng lược, mà đem cho Phật uống. Thêm một lúc nọ, đến gần Phật, đi ngang sát bên mình, đạp trên chéo y, lại bỏ đi luôn. Và nhiều lần lại tỏ ý khinh chê các vị sư A La Hán dốt học v.v...
Tội lỗi đủ thứ, tâm trạng như thế, thì làm sao được đức hạnh trong sạch, diệt phiền não, đoạn nghiệp, đắc quả tốt đẹp của A La Hán.
Giờ ấy ông ăn năn hối quá và rất sợ sệt, ông vái nguyện Đức Phật, ông sám hối lung tung, ông lại muốn chết, vì chắc mình, không tài gì đắc thánh tâm thanh tịnh nổi. Đến khuya ông nhập định ngồi luôn quyết lòng bỏ xác thân, không còn chi hy vọng. Ông ngồi mãi đến quá khuya gần sáng, tâm ông mới mát dịu lần lần, lòng tự ái cống cao đã được phủi tiêu trừ sạch. Cũng như một đứa bé, sau cơn ngạo mạn, bị đánh phạt bằng roi, chán chê tội lỗi, biết sợ cõi đời, không còn dám tưởng thấy mình, nhờ vậy mà sau con bị quả báo trừng phạt, là tội lỗi được sạch trong, thân tâm nhẹ nhàng thơ thới, ngủ nghỉ ấm êm vô tận, tâm hột đã chơn như , như già cứng. Lúc ấy ông A Nan sau cơn mõi mệt, không còn thế gì ngồi thêm rán nữa. Mắt ông vẫn nhắm, mình nghiêng dựa xuống gốc cây, trí tưởng xem như thân thể đã chết đi, nhẹ bay bổng trên không theo tưởng tượng chưa phải khi đụng mình tới đất. Bấy giờ ông đã đắc được bốn phép thần : Thiên nhân thông, mắt trời thông suốt, thiên nhĩ thông, tai trời nghe xa, tha tâm thông, biết rõ tâm người , thần túc thông, chơn thầy bay dạo trên mây đặng : bốn phép thần ấy phát sanh ra là do tâm ông đã được trong sạch bốn điều : thân, bịnh, y, pháp đã dứt bỏ trọn ven, không còn tự cao chấp nữa.
Sau đó ông ngồi trở lại nhập định thêm, ông dùng năm sức lực của năm căn trong sạch, vừa mới phát sanh, mà soi lần bảy giác, tâm ông an hưởng bảy giác vừa xong, tức thành A La Hán đắc phép túc mạng thông biết rõ mạng số xưa nay, về sau, và chứng lậu tận thông, an hòa tịnh lạc, khi ấy phiền não pháp trần tiêu tan mất hết. Bấy giờ trước khi đứng dậy, ông niệm tưởng đến tám pháp chánh đạo thường hành của bậc thánh, ghi giữ lấy nó, mà ông bước chân ra đi, thì trời cũng vừa rựng sáng, phương Đông vừng kim rạng mọc. Ông đến cửa Giáo hội, biến mình làm con bò hung theo lỗ khóa, y như lời ông Ca Diếp đã dạy từ buổi chiều hôm qua, ông đi ngay đến chỗ Đại Đức Ca Diếp đang ngồi tĩnh tọa, khi vừa bước tới, Đại Đức Ca Diếp mỉm cười ! Ông A Nan ôm chầm chân Ngài, mà cúi đầu và đành lễ tạ ơn. Rồi thì sao đó cuộc truyền kinh mới bắt đầu khai mạc. Cũng vì lẽ ấy, mà từ đó về sau, các chư Tỳ kheo Khất sĩ, thường bảo với nhau rằng : Học là để tu, chớ không phải học là để học, mà sanh lòng ngạo mạn. Và quả thánh là chỉ ở nơi đứa trẻ sau cơn bị đánh đòn.
Điều ấy nghĩa là : dứt lòng kiêu mạn, thì đắc qủa A La Hán. Cũng như không chấp chứa bẩn dơ, mới gọi là trong sạch. chính lòng kiêu mạn là chấp chứa bẩn dơ vậy.
Triết lý của đoạn nầy, cũng có thể giải rằng: cái thông minh, không bì với trí huệ đặng ! Đại Đức Ca Diếp tu về giới, định, huệ, do đức hạnh “chân như”, nên Ngài thấu đáo vũ trụ “chân như”, là chơn lý, một cách xác thật, bằng sự tu hành, tập mình trơ lặng như vũ trụ, thế là Ngài đi ngay vào trong huyền bí vũ trụ, mà giác ngộ chơn lý rõ rệt hơn. Ngài không cần sự học nghe chi cả. Cũng như một người kia đã ở trong khuyến khích tàng bảo vật, thì các món báu chi trong ấy, thảy ơ nơi tay người xác thật, chớ không phải mộng ảo, sự thấy biết rõ rệt ấy, ở tự mình có sẵn, khỏi cần nghe học nơi ai. Cái trí huệ của Ngài cũng y như thế, “chân như” sanh vạn pháp, mà Ngài đã ở trong cái chân như , là vạn pháp, có ở nơi Ngài rồi, tức là trí huệ sẵn chứa trong ấy, khỏi cần ai dạy, có khác hôn ông A Nan, học đâu biết đó, tâm “vọng động” không “chân thật”, như ở ngoài cửa “chân như” mà lại thêm ỷ mình ngạo mạn thì làm sao mà học thêm nhiều cho được, chính ông A Nan ỷ mình giỏi hơn người ta, tự cho mình đủ rồi, không chịu học thêm và cũng đâu có ai muốn dạy cho ông.
Vả lại sự học của ông, là đứng ở ngoài cửa ngoài, chỉ nghe người ta nói : món nầy món kia trong ấy, ghi nhớ thuộc lòng cho nhiều, mà tự đắc, cho là biết hết, lại tưởng lầm là mình có đủ hết của mình rồi, thì sái trật quá, chính mắt ông chưa tận thấy, tay chưa tận rờ, chưa phải của mình cất giữ, thì cái tưởng tượng nói nghe bóng dáng ấy, có nhầm chi đâu, cái thông minh sao cho bằng trí huệ, cũng y như thế. Đạo Phật là do chỗ hành mà giác-ngộ, chớ không phải nơi cái học mà đắc. Và đâu có thể nào ai học hết pháp vũ trụ đặng. Vậy nên ông Ca Diếp, lấy nơi chơn-lý mà hỏi một câu, ông A Nan trả lời không được, vì chưa có nghe Phật dạy, thế tức là ông đã bị khóa cửa đuổi ra ngoài đó ! bởi câu hỏi của ông Ca Diếp là ống khóa còn sự giải mở trả lời của ông A Nan là chìa khóa mà ông A Nan trả lời không thông, luận giải không rành, chừng đó mới biết rằng : Mình là dốt kém, không còn dám tự tôn trọng, mà biết sự trở lại. Sự trả lời không được ấy là bởi tánh tự cao, chấp mình, chấp thân, chấp trí, như cây sắt to lớn nặng nề, thì làm sao mở thọc được lổ khóa nhỏ hẹp cho được. Chính câu ông Ca Diếp hỏi đây, là về đức hạnh, còn ông A Nan lại nắm giữ cái thân cao, trí lớn, cố chấp, thì trả lời sao cho qua lọt. Nhưng khi nhờ biết sám hối, chán đời, hỗ thẹn mà dứt lòng tự trọng, tự nhận ra được thánh đức là nhỏ nhoi, nên khi tâm ông đã biết được nhỏ nhoi rồi, thì mới chui được lỗ khóa, là đã trả lời đúng phép, tỏ ra là đã đắc thánh tâm trong sạch, qui theo chơn-lý của đức Ca Diếp, là ôm theo được chơn Ngài. Thế là từ ấy, ông A an đã dứt lòng cao mạn dơ bẩn, biết quý trọng thiền định chơn như, xem ra thấy mình như dốt, do đó mà đắc trí huệ của bậc A La Hán.
Sự thật trong đời đúng y như vậy, lòng tự cao nước sóng dợn, khói bốc phừng, thì con người không thể đắc trí huệ, thánh đức an vui đâu, mà là trong thánh đức chơn như, thanh tịnh thì trí huệ sẽ thâu chứa đủ đầy giác-ngộ, ấy mới biết rằng : đối với vũ trụ đạo đức, cái học sẽ là dốt, còn dốt tức là học. Nghĩa là : kẻ ỷ học là dốt trở lại, còn kẻ biết mình dốt, là sẽ được học thêm. Hay cũng là : từ cái đó học về sự giả, thông minh, bề ngoài, mới đến cái dốt của sự thật, rồi từ đó cái dốt lẽ thật, mà đến được học cái thật, kêu là thật học, học bên trong. Điều nầy tức là chơn-lý vũ trụ ở bên trong nền đức hạnh thánh tâm, yên lặng, tự nhiên như dốt nát, chớ chẳng phải ở nơi ngoài sự khoe khoan loạn vọng của kẻ phàm phu, có sự hơn thua, giỏi dỡ, khen chê, cao thấp.
Thế nên từ xưa cho đến nay, các chư Phật Thánh nào cũng xem mình dốt cả. Vì vũ trụ chân như trơ lặng, cũng là cái dốt, chớ đâu phải cái học hay sao động. Kìa đức Phật Thích Ca. Ngài trước ở trong đời là giỏi học, sau theo đạo rồi dốt, nên Ngài chẳng bao giờ, viết chữ học bài. Còn đức Huệ Năng cũng dốt hơn Thần Tu. Cái dốt của các Ngài, là vị đức hạnh thánh tâm không thể xao động hơn nữa, bởi chơn-lý pháp bảo vô lượng vô biên, không cố chấp, diễn tả được. Vả chăng cái toàn học chỉ dựng chứa ở trong tâm chơn, mà thành cái giác, trí tuệ, chớ không thể lấy ra từng món cho hết; nên lúc nào các Ngài cũng chịu dốt hơn kẻ mê muội, mà không phải dấy lòng tranh cãi. Cũng như ở trong đời, kẻ dốt thì hay nói chữ, không cần đức hạnh , nên không tấn hóa, còn người có học, vì muốn cao siêu tốt đẹp, mà phải lặng thinh. Khác nào những kẻ học trò nhỏ ráp nhau lại gần, là học la inh ỏi, cãi cọ om sòm, còn thầy giáo gặp nhau, thì trang nghiêm im lặng, không hay có nói đến sự học.
Kìa như người ở đời, xấu hay khoe, tốt hay che, là cũng thế. Các bậc thánh đức là dốt, nhờ dốt mới thành thánh, cũng y như vậy. Nghĩa là : các Ngài đã qua khỏi sự học rồi, đã lên lớp trên rồi, thì không còn nhắc lập lại cái học thấp kém ấy, mà hãy bỏ lảng tránh đi, xem ra như tuồng dốt học, không biết lớp học đó nữa.
Cũng giống như một vị đại tiên kia, sau sự học xong, đến giờ luyện đạo, có đứa học trò nhỏ đến làm rộn ông, nó học đạo lung tung, mà ông không chú ý đến nên nó hỏi rằng : chắc ông nầy dốt, tôi hỏi không bao giờ ông trả lời được ! Ông ấy nói tôi đang chỉ biết trau tâm thôi, còn cái học hồi ấy, bây giờ đây tôi dốt lắm, ông nói thế để đặng nó đi xa cho rảnh chuyện. Sự thật kẻ trí huệ, thì ai cũng dốt việc đời hết chớ nào có ai biết đến nữa đâu, thì trách sao trẻ nhỏ lại chẳng khinh chê các Ngài.
Một kẻ kia miệng la bánh bánh, bụng đói xép teo, càng đói càng la thì càng thêm đói. Một người nọ ngồi ăn bánh, miệng chẳng nói chẳng rằng, càng ăn càng no ngon đầy bụng mà không thèm cần nói ra chi tiết, hoặc may họ có nói, là nói thầm trong trí rằng : Mặc kệ cho người ta la lối đói khát, còn ta, thì đã qua rồi cơn đói lả ấy, là hôm nay ta chỉ cứ ăn, ta chỉ biết cần ăn cho no bụng.
Trong đời một kẻ nói, và một kẻ hành, cũng như thế. Hành đạo là đắc đạo, chớ học đạo đâu. Học là biết đặng tu hành, chớ phải đâu học là để học, học mãi cho điên, cho chán, cho chết, cho hết thì giờ tự vận. Trong đời kẻ học mà để hành, là phải đâu đi học lún cố mênh-mông, đường nào cũng học, lập vập xa vời, để điên đầu rối ruột. Như người đọc truyện, đọc đủ thứ, đọc tối ngày, đọc mướn ăn tiền, buông ra quên hết, không ích lợi chi cho nó, và không được cái hành chi cả. Cho nên người tu trong đạo Phật , cần phải biết rằng : Từ văn học, là nghe nói, để tiến lên tu học, là suy gẫm, và đến hành học là học trong việc làm biết nơi sự đi, thì mới mong đắc học.
Mà nên nhớ rằng : con mắt ngó xa quá, thì chơn vấp té. Vậy thì muốn đi, trước ta phải biết mục-đích phương hướng, thỉnh thỏang ngó chừng, còn hiện tại là ta phải biết thấy nơi trước mỗi bước chơn, mới là đi được, mà đừng thèm ngó đâu đâu vơ vẩn. Từ xưa đến nay, cả chư Phật và Thánh nhân đều y như vậy ! From past to present, Buddhas and Saints are the same! Các "Ngài":  không có quảng cáo, không có tuyên truyền, rao giảng, kêu nài bất cứ ai đâu; The "Noble" no ads, no propaganda, preaching, appealed to anyone anywhere; các Ngài: chẳng phải chỉ lo dạy, độ rỗi cứu người, ham làm thầy giáo, mà không tự tu hành. Các Ngài, không phải tích cực hay tiêu cực. ; the "Noble" not only worried taught, free of saving people, eager teacher, but not self-cultivation. The Noble, not positive or negative(Trang 644-645; Pages 644-645). 
Các Ngài không có làm giáo sư cất lập lớp trường chi hết. Đối với các Ngài, tu là học, học là tu, vừa vặn. Có khi mỗi kiếp chỉ tu có một pháp, xong rồi pháp nầy mới tu đến pháp khác nữa cũng y như người uống thuốc chữa bịnh, mỗi lần uống một thứ thuốc trị cho xong từ chứng bịnh, mà chẳng chịu biết đến những việc xa vời.
Kìa như Đức Huệ năng, Ngài có phải dốt chữ đâu, Nếu Ngài chưa có thông minh, thì làm sao có trí huệ. Ngài không có xem kinh sách, ghi nhớ, biên chép, suy gẫm nói luận, thì làm sao mà tu huệ, như vậy há phải đâu Ngài dốt. Nhưng mà Ngài nói ngài dốt là bởi cái học trước kia quá mênh-mông không còn dùng ích lợi chi cho ngày nay, thì nói biết để làm gì, mà chẳng phải nên dè dặt, thận trọng nói lời chín chắn, là dốt không biết đến. Huệ Năng nghĩa là năng trau dồi trí huệ, trí huệ có ra do nhờ thiền định; trong sự vắng lặng thiền định, là chỉ có trí huệ, chớ đâu cón văn tự, hoặc cái chi trong ấy, mà không phải là dốt, với cái khoa học, mới học.
Vả chăng định là để nuôi huệ, huệ là nuôi định, định huệ là để chân như, đến với chân như. Vậy nên nếu kẻ nào không nuôi giữ chon, thì định huệ để làm chi. Cũng như học trò là để làm thầy giáo, thầy giáo là để đến đốc học hưu trí kết quả. kẻ mà không biết đến kết quả, kẻ ấy tới già chết vọng động mãi, thì có ích lợi gì cho họ và cho kẻ khác, bởi khi họ đã già lụm cụm mà còn làm việc vọng động sái trật của trẻ nhỏ nữa, thì tránh sao chẳng phải tai nạn hại lây cho tất cả, mà đi cố chấp làm chi.
Như thế thì trí huệ là để nuôi chơn như, không chơn như thì cần chi trí huệ, mà không phải là sự cố chấp rằng : tài học, trí hay, phiền não luân hồi sanh tử, là cao giỏi.
Vậy nên những ai muốn bỏ "phàm nhân" mà làm "thánh nhân", trau dồi "đạo đức" bỏ hẵn "chuyện đời", thì phải nên cần “học để tu”. So who wants to give "ordinary people" that make "saints" hone "moral" scrapped "life story", it should be "learning to cultivate". Khi còn đang tu, là phải xem mình như dốt nát," lơ-lơ" dường như "ám-độn"; đối với ai cũng phải nên chịu sự sút kém và nhẫn nhường. Có như thế, mới đặng dưỡng trau đức hạnh. Mà không nên so bì sự khôn lanh quỷ quyệt, xảo trá hơn người, thì tội lỗi "bẩn thiểu" tâm khổ nạn, mới nên được diệt bỏ tiêu trừ sạch. Vì ở trong đời chỉ có hạng bậc Phật Thánh hiền nhân, là quý báu hơn hết! When I'm practicing, is to see yourself as ignorant, "ignored ignored" seems "mean-fillers", for everyone should be subject to impairment and concessions. If so, is facing a new cultivate virtue. Which should not be afraid to be a tricky sly, cunning than people, then sin "filthy" mind suffering, should be to destroy the new clean eliminated. Because in life only Buddhas sage class rank, is more precious than all!
Tổ sư Minh Đăng Quang
(Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn !)
(Meditation, be still is, looking at the swastika!)
Văn bản gốc (đang điều chỉnh)
HỌC ĐỂ TU
Trang 636-646 (Chơn lý số 42)
Thuở xưa trong các hàng đệ tử của Phật, chỉ có ông A Nan là hạng bậc nghe nhiều, học rộng, chữ giỏi, văn học, hay...hơn hết ! Ông là em một họ của Đức Phật Thích Ca, thường đi theo hầu cận và khít bên chân Phật. Ông nổi tiếng là bậc hạng "đa văn quảng lý". Chính ông, là một vị đệ tử Phật, giỏi nhứt về sự nhớ dai. Các kinh tạng , soạn chép ra sau nầy: phần nhiều là do ông trùng tuyên đọc lại cho các vị A La Hán viết theo; nên, đầu mỗi quyển kinh, chúng ta hằng thấy, ông A Nan nói câu tường thuật, rằng : Ta nghe như vậy !
Ông A Nan đã là người thông minh, tài trí giỏi hay, thế mà đối với sự "học để tu" trong đạo Phật, ông là một người vô duyên nhất hạng, hơn ai, câu chuyện ấy như sau nầy :
Số phận là...sau khi đức Phật nhập diệt, Đại Đức Ca Diếp là vị đệ tử lớn nhứt, tu trì phạm hạnh; đã chứng quả A La Hán, được Phật trao truyền: "y-bát" Tổ sư , thay cho Phật. Đại Đức Ca Diếp bèn ra lịnh nhóm họp chư Tăng A La Hán lại, để kiết tập: "kim ngôn pháp bảo" của Phật.
Khi các chư vị A La Hán đã nhóm tựu xong, thế mà cả thảy không có người đứng ra: lập lại lời dạy của Phật được. Bấy giờ ai nấy đều "bạch...xin" với Đại Đức Ca Diếp cho thỉnh mời: ông A Nan ! Đại Đức Ca Diếp chẳng bằng lòng, mà nói rằng : "Ông ấy chẳng có tu và không đức hạnh ! Ông đó khinh đạo rất thường, và tự cao ỷ lại, sự học !" Ông ấy trái ngược với đạo Phật xa lắm, nên dùng không được, ông ấy đạo đức không có, nếu để cho ông đọc và tường thuật những Pháp bảo của Phật; thì về sau những Pháp bảo ấy không còn giá trị nữa, bởi không có ai tu theo đắc quả, và vì người ta sẽ khinh ố ông ấy, mà khinh ố luôn cả sách kinh Phật. 
Khi đó công việc kiết tập phải bị đình bãi, thế mà chư A La Hán nài nỉ nhiều phen, xin thỉnh ông A Nan nhưng Đại Đức Ca Diếp nhứt định không cho. Người ta bèn đem việc ấy tỏ lại với ông A Nan, ông nầy đi đến đành lễ Đại Đức Ca Diếp, mà bạch xin rằng : Bạch Đại Đức ! Đại Đức hãy nhận chịu đi, tôi tự thuật lại không sai sót một tiếng nào của Phật đâu. Đại Đức Ca Diếp nói : Không được ! Ông là người có học không có hạnh, ông không phải là người “học để tu”. Ông chưa đắc quả A La Hán. Vậy ông hãy đi tu đi. Đắc quả A La Hán rồi sẽ trở lại cũng không muộn. Ông nên biết rằng : Đạo Phật lưu truyền mãi từ đây về sau, là do kinh sách, kinh sách ấy phải có đủ đức tính trong sạch do nơi cửa miệng của một vị thánh đức thốt ra, thì về sau mới có hiệu nghiệm, và đạo Phật sẽ được vững chãi, ngoại đạo không có ai dám xen vào phá hoại. Hôm nay, ông vẫn còn phàm, mà nếu ông dịch thuật, thì có khác nào một kẻ quảng cáo kia, ở nơi giữa chợ, nó chỉ nói mà không có ai thật hành kết quả, thì hỏi vậy có ai thích nghe lời nó nói ấy hay chăng ? Dù nó có nói rằng : ông Phật nầy nói vầy, ông Thánh kia nói vậy đi nữa, người ta cũng xem thường nó, mà xem thường cả lời nói, thì lời nói ấy sẽ không còn linh nghiệm và trẻ con khác, trách sao khỏi sự khen chê, bàn tán, nghi nan, thêm dặm, ố chọi, thì mặc dầu lời ấy có đúng phải y sự thật đi nữa, cũng không còn giá trị gì.
Thế là Đại Đức Ca Diếp không ưng thuận, làm cho cả đại chúng ai cũng phải bối rối.
Khi ấy ông A Nan khổ sở quá, không biết tính làm sao, ông cố để nài nỉ thêm !
Đại Đức Ca Diếp nói : Ông nên biết rằng : Đạo Phật từ nay sẽ là quan trọng, mà nhứt là kinh luật lại quan trọng hơn về lịch sử, tôi không thể nào tư vị ông được, dầu ông là em một họ với Phật, ông là thế tử con cháu vua, ông là đệ từ hầu cận thân Phật, thông minh bực nhứt cũng vậy. Vì đạo Phật đối với chúng-sanh về sau là quan trọng, mà tôi yêu cầu ông phải đắc quả Thánh, cho được tâm trong sạch đi, rồi sẽ trở lại đây, ở đây chúng tôi thà ngồi không nhập định hoặc là chờ ông đến bao lâu nữa cũng được, còn bây giờ thì cả Giáo hội Thánh đây đều trong sạch lắm, tâm ông còn nhơ bẩn háo danh như thế, há đâu còn ở đây nữa được sao ?
Nói xong Đại Đức Ca Diếp liền đóng cửa Giáo hội, bỏ ông A Nan đứng nơi ngoài, mà dặn rằng : khi nào ông đắc đủ lục thông, thì ông sẽ tự chun vào lỗ khóa nầy, khỏi phải đợi ai mở cữa vì chẳng có ai được phép mở cho ông đâu, thôi hãy đi đi, chớ đừng đứng đó.
Thế là ông A Nan bị đuổi, chiều tối lại đến, lui tới không đường, đêm ấy ông đành phải chịu nghỉ dưới cụm rừng bên ngoài Giáo hội.
Bấy giờ ông A Nan sầu não khổ lắm, ông xét thấy, cái nghe cái học của ông vô ích, cái thông minh của ông vô dụng, thế mà nào ông có dè.
Trọn buổi đầu hôm, ông ngồi trơ chán nãn, không sao nằm xuống nghỉ được. Ông cố suy nghĩ mà nhận xét ra rằng : đây là lần thứ hai, trên con đường đạo đức, mà ông không còn muốn sống, không thể sống được. Nghĩ lại từ xưa, lúc thiếu niên, ông còn là Thế tử, chưa biết đạo Phật là chi. Bây giờ Phật kêu gọi ông đi xuất gia, ông đã đi tu mà còn luyến ái, nhớ nhà, nhớ vợ. Bao phen lẻn trốn phải bị Phật bắt gặp, và Phật phải cực khổ vì ông, dùng đủ phương tiện, dắt lên trời cõi tiên, dẫn xuống địa ngục và Phật bắt buộc phải theo sát bên chơn. Cho đến khi ông đã được thông minh hiểu ra đạo báu, vừa yên tâm trong đường đạo, thì gặp phải cảnh Phật nhập Niết-bàn, bơ vơ tẻ lạnh, khổ sở biết nhường nào, đó là sự trở ngại lần thứ nhất đối với ông, trên bước chơn trong cõi đạo. Mà trước kia ông ngỡ tưởng rằng : Mình chẳng còn phải khổ nhọc tu thiền định. Đức Phật sẽ độ được mình, vì mình là em, là thân cận. là tài trí thông minh danh vọng! Cũng vì sự ỷ lại và tự cao đó, mà khi đức Phật nhập diệt, Ông A Nan phải bị chới với điếng hồn, chân ông như không còn chỗ đứng, thân ông như đã mất nơi nương dựa, khi ấy ông đã khổ đau hết sức, sợ lo lắm, thế mà lại còn có sự bị sa thải, nhục nhã, đau đớn, của ngay nay lần thứ hai nữa.
Hồi gẫm lại, lỗi ấy tự mình, đạo Phật quý cao, còn tâm mình quá thấp, thì làm sao chung lộn được, ví dầu mà Đại Đức Ca Diếp có vui lòng thâu nhận đi nữa, thì khi chung lộn với chư thánh chúng ái mình phải gây thêm tội lỗi cống cao hợm hĩnh xấu xa, chớ không nên hay việc chi. Bởi thế cho nên ông kính phục Đại Đức Ca Diếp, mà nhận cho rằng sự khắc nghiêm ấy là rất đúng, vì thương ông, mà muốn cho ông nên, là phải làm y như vậy.
Khi ấy ông A Nan thật rất hối hận, mà xét đến những tội lỗi đã trãi qua ! Trước kia ở thế, thì ông ỷ mình sắc đẹp, giàu sang, danh vọng, tài hay, sức mạnh, khiến nên khi đi học đạo, được trí thông minh, mà sanh lòng kiêu mạn, vì người ngợi khen cho nên tự đắc, ỷ giỏi mà không kiêng dè, ham lo dạy người mà quên lo bổn phận, do đó mà đã một lần bị gái bắt, dẫn dụ, nhốt, giam, cũng vì sắc đẹp; một lần vì tự cao, mà Phật kêu gọi, lại giả tảng làm ngơ, một khi kia, múc nước có lộn bùn, làm biếng lược, mà đem cho Phật uống. Thêm một lúc nọ, đến gần Phật, đi ngang sát bên mình, đạp trên chéo y, lại bỏ đi luôn. Và nhiều lần lại tỏ ý khinh chê các vị sư A La Hán dốt học v.v...
Tội lỗi đủ thứ, tâm trạng như thế, thì làm sao được đức hạnh trong sạch, diệt phiền não, đoạn nghiệp, đắc quả tốt đẹp của A La Hán.
Giờ ấy ông ăn năn hối quá và rất sợ sệt, ông vái nguyện Đức Phật, ông sám hối lung tung, ông lại muốn chết, vì chắc mình, không tài gì đắc thánh tâm thanh tịnh nổi. Đến khuya ông nhập định ngồi luôn quyết lòng bỏ xác thân, không còn chi hy vọng. Ông ngồi mãi đến quá khuya gần sáng, tâm ông mới mát dịu lần lần, lòng tự ái cống cao đã được phủi tiêu trừ sạch. Cũng như một đứa bé, sau cơn ngạo mạn, bị đánh phạt bằng roi, chán chê tội lỗi, biết sợ cõi đời, không còn dám tưởng thấy mình, nhờ vậy mà sau con bị quả báo trừng phạt, là tội lỗi được sạch trong, thân tâm nhẹ nhàng thơ thới, ngủ nghỉ ấm êm vô tận, tâm hột đã chơn như , như già cứng. Lúc ấy ông A Nan sau cơn mõi mệt, không còn thế gì ngồi thêm rán nữa. Mắt ông vẫn nhắm, mình nghiêng dựa xuống gốc cây, trí tưởng xem như thân thể đã chết đi, nhẹ bay bổng trên không theo tưởng tượng chưa phải khi đụng mình tới đất. Bấy giờ ông đã đắc được bốn phép thần : Thiên nhân thông, mắt trời thông suốt, thiên nhĩ thông, tai trời nghe xa, tha tâm thông, biết rõ tâm người , thần túc thông, chơn thầy bay dạo trên mây đặng : bốn phép thần ấy phát sanh ra là do tâm ông đã được trong sạch bốn điều : thân, bịnh, y, pháp đã dứt bỏ trọn ven, không còn tự cao chấp nữa.
Sau đó ông ngồi trở lại nhập định thêm, ông dùng năm sức lực của năm căn trong sạch, vừa mới phát sanh, mà soi lần bảy giác, tâm ông an hưởng bảy giác vừa xong, tức thành A La Hán đắc phép túc mạng thông biết rõ mạng số xưa nay, về sau, và chứng lậu tận thông, an hòa tịnh lạc, khi ấy phiền não pháp trần tiêu tan mất hết. Bấy giờ trước khi đứng dậy, ông niệm tưởng đến tám pháp chánh đạo thường hành của bậc thánh, ghi giữ lấy nó, mà ông bước chân ra đi, thì trời cũng vừa rựng sáng, phương Đông vừng kim rạng mọc. Ông đến cửa Giáo hội, biến mình làm con bò hung theo lỗ khóa, y như lời ông Ca Diếp đã dạy từ buổi chiều hôm qua, ông đi ngay đến chỗ Đại Đức Ca Diếp đang ngồi tĩnh tọa, khi vừa bước tới, Đại Đức Ca Diếp mỉm cười ! Ông A Nan ôm chầm chân Ngài, mà cúi đầu và đành lễ tạ ơn. Rồi thì sao đó cuộc truyền kinh mới bắt đầu khai mạc. Cũng vì lẽ ấy, mà từ đó về sau, các chư Tỳ kheo Khất sĩ, thường bảo với nhau rằng : Học là để tu, chớ không phải học là để học, mà sanh lòng ngạo mạn. Và quả thánh là chỉ ở nơi đứa trẻ sau cơn bị đánh đòn.
Điều ấy nghĩa là : dứt lòng kiêu mạn, thì đắc qủa A La Hán. Cũng như không chấp chứa bẩn dơ, mới gọi là trong sạch. chính lòng kiêu mạn là chấp chứa bẩn dơ vậy.
Triết lý của đoạn nầy, cũng có thể giải rằng: cái thông minh, không bì với trí huệ đặng ! Đại Đức Ca Diếp tu về giới, định, huệ, do đức hạnh “chân như”, nên Ngài thấu đáo vũ trụ “chân như”, là chơn lý, một cách xác thật, bằng sự tu hành, tập mình trơ lặng như vũ trụ, thế là Ngài đi ngay vào trong huyền bí vũ trụ, mà giác ngộ chơn lý rõ rệt hơn. Ngài không cần sự học nghe chi cả. Cũng như một người kia đã ở trong khuyến khích tàng bảo vật, thì các món báu chi trong ấy, thảy ơ nơi tay người xác thật, chớ không phải mộng ảo, sự thấy biết rõ rệt ấy, ở tự mình có sẵn, khỏi cần nghe học nơi ai. Cái trí huệ của Ngài cũng y như thế, “chân như” sanh vạn pháp, mà Ngài đã ở trong cái chân như , là vạn pháp, có ở nơi Ngài rồi, tức là trí huệ sẵn chứa trong ấy, khỏi cần ai dạy, có khác hôn ông A Nan, học đâu biết đó, tâm “vọng động” không “chân thật”, như ở ngoài cửa “chân như” mà lại thêm ỷ mình ngạo mạn thì làm sao mà học thêm nhiều cho được, chính ông A Nan ỷ mình giỏi hơn người ta, tự cho mình đủ rồi, không chịu học thêm và cũng đâu có ai muốn dạy cho ông.
Vả lại sự học của ông, là đứng ở ngoài cửa ngoài, chỉ nghe người ta nói : món nầy món kia trong ấy, ghi nhớ thuộc lòng cho nhiều, mà tự đắc, cho là biết hết, lại tưởng lầm là mình có đủ hết của mình rồi, thì sái trật quá, chính mắt ông chưa tận thấy, tay chưa tận rờ, chưa phải của mình cất giữ, thì cái tưởng tượng nói nghe bóng dáng ấy, có nhầm chi đâu, cái thông minh sao cho bằng trí huệ, cũng y như thế. Đạo Phật là do chỗ hành mà giác-ngộ, chớ không phải nơi cái học mà đắc. Và đâu có thể nào ai học hết pháp vũ trụ đặng. Vậy nên ông Ca Diếp, lấy nơi chơn-lý mà hỏi một câu, ông A Nan trả lời không được, vì chưa có nghe Phật dạy, thế tức là ông đã bị khóa cửa đuổi ra ngoài đó ! bởi câu hỏi của ông Ca Diếp là ống khóa còn sự giải mở trả lời của ông A Nan là chìa khóa mà ông A Nan trả lời không thông, luận giải không rành, chừng đó mới biết rằng : Mình là dốt kém, không còn dám tự tôn trọng, mà biết sự trở lại. Sự trả lời không được ấy là bởi tánh tự cao, chấp mình, chấp thân, chấp trí, như cây sắt to lớn nặng nề, thì làm sao mở thọc được lổ khóa nhỏ hẹp cho được. Chính câu ông Ca Diếp hỏi đây, là về đức hạnh, còn ông A Nan lại nắm giữ cái thân cao, trí lớn, cố chấp, thì trả lời sao cho qua lọt. Nhưng khi nhờ biết sám hối, chán đời, hỗ thẹn mà dứt lòng tự trọng, tự nhận ra được thánh đức là nhỏ nhoi, nên khi tâm ông đã biết được nhỏ nhoi rồi, thì mới chui được lỗ khóa, là đã trả lời đúng phép, tỏ ra là đã đắc thánh tâm trong sạch, qui theo chơn-lý của đức Ca Diếp, là ôm theo được chơn Ngài. Thế là từ ấy, ông A an đã dứt lòng cao mạn dơ bẩn, biết quý trọng thiền định chơn như, xem ra thấy mình như dốt, do đó mà đắc trí huệ của bậc A La Hán.
Sự thật trong đời đúng y như vậy, lòng tự cao nước sóng dợn, khói bốc phừng, thì con người không thể đắc trí huệ, thánh đức an vui đâu, mà là trong thánh đức chơn như, thanh tịnh thì trí huệ sẽ thâu chứa đủ đầy giác-ngộ, ấy mới biết rằng : đối với vũ trụ đạo đức, cái học sẽ là dốt, còn dốt tức là học. Nghĩa là : kẻ ỷ học là dốt trở lại, còn kẻ biết mình dốt, là sẽ được học thêm. Hay cũng là : từ cái đó học về sự giả, thông minh, bề ngoài, mới đến cái dốt của sự thật, rồi từ đó cái dốt lẽ thật, mà đến được học cái thật, kêu là thật học, học bên trong. Điều nầy tức là chơn-lý vũ trụ ở bên trong nền đức hạnh thánh tâm, yên lặng, tự nhiên như dốt nát, chớ chẳng phải ở nơi ngoài sự khoe khoan loạn vọng của kẻ phàm phu, có sự hơn thua, giỏi dỡ, khen chê, cao thấp.
Thế nên từ xưa cho đến nay, các chư Phật Thánh nào cũng xem mình dốt cả. Vì vũ trụ chân như trơ lặng, cũng là cái dốt, chớ đâu phải cái học hay sao động. Kìa đức Phật Thích Ca. Ngài trước ở trong đời là giỏi học, sau theo đạo rồi dốt, nên Ngài chẳng bao giờ, viết chữ học bài. Còn đức Huệ Năng cũng dốt hơn Thần Tu. Cái dốt của các Ngài, là vị đức hạnh thánh tâm không thể xao động hơn nữa, bởi chơn-lý pháp bảo vô lượng vô biên, không cố chấp, diễn tả được. Vả chăng cái toàn học chỉ dựng chứa ở trong tâm chơn, mà thành cái giác, trí tuệ, chớ không thể lấy ra từng món cho hết; nên lúc nào các Ngài cũng chịu dốt hơn kẻ mê muội, mà không phải dấy lòng tranh cãi. Cũng như ở trong đời, kẻ dốt thì hay nói chữ, không cần đức hạnh , nên không tấn hóa, còn người có học, vì muốn cao siêu tốt đẹp, mà phải lặng thinh. Khác nào những kẻ học trò nhỏ ráp nhau lại gần, là học la inh ỏi, cãi cọ om sòm, còn thầy giáo gặp nhau, thì trang nghiêm im lặng, không hay có nói đến sự học.
Kìa như người ở đời, xấu hay khoe, tốt hay che, là cũng thế. Các bậc thánh đức là dốt, nhờ dốt mới thành thánh, cũng y như vậy. Nghĩa là : các Ngài đã qua khỏi sự học rồi, đã lên lớp trên rồi, thì không còn nhắc lập lại cái học thấp kém ấy, mà hãy bỏ lảng tránh đi, xem ra như tuồng dốt học, không biết lớp học đó nữa.
Cũng giống như một vị đại tiên kia, sau sự học xong, đến giờ luyện đạo, có đứa học trò nhỏ đến làm rộn ông, nó học đạo lung tung, mà ông không chú ý đến nên nó hỏi rằng : chắc ông nầy dốt, tôi hỏi không bao giờ ông trả lời được ! Ông ấy nói tôi đang chỉ biết trau tâm thôi, còn cái học hồi ấy, bây giờ đây tôi dốt lắm, ông nói thế để đặng nó đi xa cho rảnh chuyện. Sự thật kẻ trí huệ, thì ai cũng dốt việc đời hết chớ nào có ai biết đến nữa đâu, thì trách sao trẻ nhỏ lại chẳng khinh chê các Ngài.
Một kẻ kia miệng la bánh bánh, bụng đói xép teo, càng đói càng la thì càng thêm đói. Một người nọ ngồi ăn bánh, miệng chẳng nói chẳng rằng, càng ăn càng no ngon đầy bụng mà không thèm cần nói ra chi tiết, hoặc may họ có nói, là nói thầm trong trí rằng : Mặc kệ cho người ta la lối đói khát, còn ta, thì đã qua rồi cơn đói lả ấy, là hôm nay ta chỉ cứ ăn, ta chỉ biết cần ăn cho no bụng.
Trong đời một kẻ nói, và một kẻ hành, cũng như thế. Hành đạo là đắc đạo, chớ học đạo đâu. Học là biết đặng tu hành, chớ phải đâu học là để học, học mãi cho điên, cho chán, cho chết, cho hết thì giờ tự vận. Trong đời kẻ học mà để hành, là phải đâu đi học lún cố mênh-mông, đường nào cũng học, lập vập xa vời, để điên đầu rối ruột. Như người đọc truyện, đọc đủ thứ, đọc tối ngày, đọc mướn ăn tiền, buông ra quên hết, không ích lợi chi cho nó, và không được cái hành chi cả. Cho nên người tu trong đạo Phật , cần phải biết rằng : Từ văn học, là nghe nói, để tiến lên tu học, là suy gẫm, và đến hành học là học trong việc làm biết nơi sự đi, thì mới mong đắc học.
Mà nên nhớ rằng : con mắt ngó xa quá, thì chơn vấp té. Vậy thì muốn đi, trước ta phải biết mục-đích phương hướng, thỉnh thỏang ngó chừng, còn hiện tại là ta phải biết thấy nơi trước mỗi bước chơn, mới là đi được, mà đừng thèm ngó đâu đâu vơ vẩn. Từ xưa đến nay, cả chư Phật và Thánh nhân đều y như vậy ! Các "Ngài" không có quảng cáo, không có tuyên truyền, rao giảng, kêu nài bất cứ ai đâu, các "Ngài" chẳng phải chỉ lo dạy, độ rỗi cứu người, ham làm thầy giáo, mà không tự tu hành. Các Ngài, không phải tích cực hay tiêu cực.  (Trang 644-645 ) 
Các Ngài không có làm giáo sư cất lập lớp trường chi hết. Đối với các Ngài, tu là học, học là tu, vừa vặn. Có khi mỗi kiếp chỉ tu có một pháp, xong rồi pháp nầy mới tu đến pháp khác nữa cũng y như người uống thuốc chữa bịnh, mỗi lần uống một thứ thuốc trị cho xong từ chứng bịnh, mà chẳng chịu biết đến những việc xa vời.
Kìa như Đức Huệ năng, Ngài có phải dốt chữ đâu, Nếu Ngài chưa có thông minh, thì làm sao có trí huệ. Ngài không có xem kinh sách, ghi nhớ, biên chép, suy gẫm nói luận, thì làm sao mà tu huệ, như vậy há phải đâu Ngài dốt. Nhưng mà Ngài nói ngài dốt là bởi cái học trước kia quá mênh-mông không còn dùng ích lợi chi cho ngày nay, thì nói biết để làm gì, mà chẳng phải nên dè dặt, thận trọng nói lời chín chắn, là dốt không biết đến. Huệ Năng nghĩa là năng trau dồi trí huệ, trí huệ có ra do nhờ thiền định; trong sự vắng lặng thiền định, là chỉ có trí huệ, chớ đâu cón văn tự, hoặc cái chi trong ấy, mà không phải là dốt, với cái khoa học, mới học.
Vả chăng định là để nuôi huệ, huệ là nuôi định, định huệ là để chân như, đến với chân như. Vậy nên nếu kẻ nào không nuôi giữ chon, thì định huệ để làm chi. Cũng như học trò là để làm thầy giáo, thầy giáo là để đến đốc học hưu trí kết quả. kẻ mà không biết đến kết quả, kẻ ấy tới già chết vọng động mãi, thì có ích lợi gì cho họ và cho kẻ khác, bởi khi họ đã già lụm cụm mà còn làm việc vọng động sái trật của trẻ nhỏ nữa, thì tránh sao chẳng phải tai nạn hại lây cho tất cả, mà đi cố chấp làm chi.
Như thế thì trí huệ là để nuôi chơn như, không chơn như thì cần chi trí huệ, mà không phải là sự cố chấp rằng : tài học, trí hay, phiền não luân hồi sanh tử, là cao giỏi.
Vậy nên những ai muốn bỏ "phàm nhân" mà làm "thánh nhân", trau dồi "đạo đức" bỏ hẵn "chuyện đời", thì phải nên cần “học để tu”. Khi còn đang tu, là phải xem mình như dốt nát," lơ-lơ" dường như "ám-độn"; đối với ai cũng phải nên chịu sự sút kém và nhẫn nhường. Có như thế, mới đặng dưỡng trau đức hạnh. Mà không nên so bì sự khôn lanh quỷ quyệt, xảo trá hơn người, thì tội lỗi "bẩn thiểu" tâm khổ nạn, mới nên được diệt bỏ tiêu trừ sạch. Vì ở trong đời chỉ có hạng bậc Phật Thánh hiền nhân, là quý báu hơn hết! 
Tổ sư Minh Đăng Quang
(Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn !)
(Meditation, be still is, looking at the swastika!)
@@@

"Bấm vào chữ Dịch bên dưới" !  <= (mở trang nầy! trước khi Dịch ! đã có liên kết trang!)
(Hãy bấm  quay trở lại ! Sau khi đã copy bản dịch hoàn chỉnh !) (Copy văn bản dán vào ô Dịch)

Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Pháp
Phát hiện ngôn ngữ
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Trung (Giản Thể)












Tiêu đề của tôi





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét