Thứ Hai, tháng 8 05, 2013

05. BÁT CHÁNH ĐẠO ; Eightfold Path

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 05
Practice self-taught English translation: No. 05
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body!
Thực hành đọc Chơn lý ; Practice reading Truth
BÁT CHÁNH ĐẠO
Eightfold Path
( Trang 65-80 ; Pages 65-80 )
I.- BÁT CHÁNH ĐẠO, là gì?
 Eightfold Path, is what ?
Bát Chánh Đạo tức là tám cách: hành đạo, theo lý lẽ chánh của bậc thánh nhân, cũng gọi là bát thánh đạo; Eightfold Path which is eight-way: practice their religion, according argument of the holy district, also known as the Noble Eightfold Path; là pháp tự cứu độ cho mình, và cứu độ cho tha nhân, sống chung với tất cả, để cùng đưa nhau lên đến: nơi cùng tột là Niết Bàn. ; is their self-salvation, and salvation to others, living with all, to jointly put together up to: where ultimate Nirvana. Bát chánh đạo cũng gọi là chánh pháp hay con đường trung đạo, gồm cả sự học và hành. ; Eightfold Path also called Dharma or middle path, including the study and practice. Bát chánh đạo là tám cửa, tám đường vui, tám pháp giải thoát, tám tia sáng… là con đường tiến hóa của chúng sanh, tức là: Chơn lý của vũ trụ, mà muôn loại đều ở bên trong. ; Eightfold Path are eight gates, eight road fun, which liberate eight, eight rays of light ... the path of evolution of living beings, namely: Truth of the universe, that all humans are on the inside.
Bát chánh đạo là bà mẹ hay khí thở, hoặc như mặt đất, cái nhà, mà người hay Trời, không bao giờ thiếu sót hay lạc loài. ; Eightfold Path is the mother or breathing air, or as the ground, the house, that person or God, never omissions or stray. Tất cả chúng sanh đều ở trong đạo Bát chánh, cõi đời mà có cũng do Bát chánh đạo. ; All beings are in direct Eightfold, earth which is also due to the Noble Eightfold Path. Bát chánh đạo là sự sống, hay tâm hồn của chúng sanh, mà các tôn chỉ, giáo lý của văn minh, thảy từ đó mà ra tất cả. ; Eightfold Path is the life, or the soul of beings, that the principles and tenets of civilization, all from which all. Bát chánh đạo không phải riêng của một đạo giáo nào, chính đạo là nấc thang chung của toàn thể nhơn loại. ; Eightfold Path not own a public religion, religion is the main staircase of the entire humanity.
Tám đường chánh, ấy là:
Eight right way, that is:
1. Chánh kiến: đạo, là con đường: nhìn thấy chân chánh.
1. Right view: religion, is the path: see rightly.
2. Chánh tư duy: đạo, là con đường: suy gẫm chân chánh.
2. Right Thought: religion, is the way: a true reflection.
3. Chánh ngữ: đạo, là con đường: nói chân chánh.
3. Right Speech: religion, is the path: say true.
4. Chánh nghiệp: đạo, là con đường: làm chân chánh.
4. Right Action : religion, is the path: do righteousness.
5. Chánh mạng: đạo, là con đường: sống chân chánh.
5. Right Livelihood: religion, is the path: live righteously.
6. Chánh tinh tấn: đạo, là con đường: siêng năng chân chánh.
6. Right Effort: religion, is the path: true diligence.
7. Chánh niệm: đạo, là con đường: tưởng nhớ chân chánh.
7. Right Mindfulness: religion, is the path: a true tribute.
8. Chánh định: đạo, là con đường: yên nghỉ chân chánh.
8. Right Concentration: religion, is the path: a true resting.
Cũng có thể nói như vầy; Can also say like this :
1. Chánh kiến: đạo, là nhìn thấy: con đường chánh. ; Right view: religion, is seen: the right way.
2. Chánh tư duy: đạo, là suy gẫm: con đường chánh. ; Right Thought: religion, is to ask my self the right way.
3. Chánh ngữ: đạo, là nói: con đường chánh. ; Right Speech: religion, is talking: the right way.
4. Chánh nghiệp: đạo, là làm: con đường chánh. ; Right Action: religion, is doing: the right way.
5. Chánh mạng: đạo, là sống: con đường chánh. ; Right Livelihood: religion, is living: the right way.
6. Chánh tinh tấn: đạo, là siêng năng : con đường chánh. ; Right effort: religion, is diligent: the right way.
7. Chánh niệm: đạo, là tưởng nhớ: con đường chánh. Right Mindfulness: religion, is remembrance:  the rigth way.
8. Chánh định: đạo, là yên nghỉ: con đường chánh. ; Right Concentration: religion, the rest: the right way.
Nghĩa là: ; That is:
1. Sự thấy chân chánh , trước khi thấy, đang thấy, và sau khi thấy, sự thấy (bằng con mắt của trí huệ mà nhận xét) nghe, hiểu, biết, nên phải cho hợp lẽ chánh, chân thật. 
1. The righteous see, before the show, seeing, and after the show, the show (in the eyes of wisdom that comment) listen, understand, know, should have the primary justified, true.
2. Sự suy gẫm chân chánh, trước khi suy gẫm, đang suy gẫm, sau khi suy gẫm, tìm lý lẽ quán xét, nên phải cho hợp lẽ chánh chơn thật.
2. The true meditation, before meditation, reflection, after reflection, find arguments introspection, should be justified Right Truth. 
3. Sự phát biểu chân chánh, trước khi nói, đang nói, sau khi nói, lời lẽ phải thiện lành, trong sạch, nên hợp theo lý lẽ chánh, chân thật.
3. The righteous speech, before speaking, talking, after saying, words have to be good, clean, should the chief arguments, true.
4. Sự làm chân chánh, trước khi làm, đang làm, sau khi làm, việc làm phải đừng tham sân si, nên đi xin ăn cho hợp theo lý lẽ chánh chơn thật.
4. The righteous do, before you do, are doing, after the jobs have not greed, hatred and delusion, should go begging for the arguments Right Truth. 
5. Sự sống chân chánh, phút sống đã qua, phút đang sống, phút sống sắp đến, không tham sống sợ chết, sống theo lẽ phải không vị ác tà, sống theo đạo lý, nên cho hợp theo lẽ chánh, chân thật.
5. Life righteousness, minutes have passed, minutes live, live minutes to come, not life and fear of death, life probably is not the evil evil, moral living, should probably right, true.
6. Sự siêng năng chân chánh, việc đã qua, việc hiện tại, và việc chưa tới, phải bền chí mà lướt tới, không thối chuyển ngã lòng, cố gắng sự hành đạo, nên cho hợp theo lý lẽ chánh chơn thật.
6. Diligence righteousness, the past, the present, and the less, must persevere that glide forward, not retrogression depression, try the practice, should the allegations Right Truth. 
7. Sự niệm tưởng chân chánh, niệm tưởng việc qua rồi, việc hiện tại, và việc sẽ đến, phải ghi nhớ điều răn dạy, hằng ngó mắt xuống một chỗ tâm chơn, không cho vọng động, không quên lẽ đạo, nên cho hợp lý lẽ chánh chân thật.
7. The righteous thoughts, the thoughts passed, the present, and to come, to remember teachings, every eye looked down a mind to choose, not to hope, not forgotten religion, should have main argument true.
8. Sự yên nghỉ chân chánh, trước khi "nhập-định"; đang "nhập-định", sau khi nhập định , phải giữ sự yên lặng, ngừng nghỉ tất cả mọi việc, quyết định không sanh, bất thoái hóa, không rời bỏ đạo "Chân-Chánh", nhất định không xao lãng, không đổi dời, hằng nghỉ ngơi yên vui sau sự "thiện-huệ", nên cho hợp lý lẽ chánh chơn thật.
8. The rest righteousness, before the "enter"; "enter", after entering, to keep silence, stop everything, decided not to birth, no degradation, no left apostasy "Truthfulness-Chief", undistracted certain, unchanging, constant quiet relaxing after the "Thien-Hue", so for arguments Right Truth. 
II-Nhân duyên của "BÁT CHÁNH ĐẠO";Causes and conditions of the "Noble Eightfold Path":
Bát chánh đạo không phải tự nơi ý người chế lập, mà vẫn sẵn có ở trong đời , bậc giác ngộ sau nầy nói chỉ ra đó thôi.
Eightfold Path is not the place of the set, which is still available in the world, enlightened later said just out there. 
Như chúng ta thấy: ở trong không gian thì có khí. Trong không khí thì có nước. Trong nước thì có đất. Trong đất thì có lửa. Lửa thổi phù lên, nước đất cuốn tròn thành bọt. Bọt thủy tinh hay là quả địa cầu, khi nổi khi xẹp, vốn sẵn là cái “có” ở nơi “không".
As we can see: in the air space there. In the air, the water. In the water, the soil. In the land of fire. Fire blowing right up the water land rolled into foam. Foam or glass globes, as well as flat, which is available as a "yes" in place of "no".
Đoạn nầy, để chỉ, rằng: Lúc sống, thì tất cả "HỮU THỂ" tiến lần đến chết. Lúc chết thì "Vô Thể" cũng tiến lần đến sống. Trong lúc "cái CÓ" hoạt động, thì trong lúc "cái KHÔNG" cũng ngầm hoạt động. Như vậy, là chúng sanh vạn vật vẫn sống chớ không có chết, chỉ tạm đổi hình bóng của phương tiện, vốn dĩ của lý lẽ "câu chấp " bên ngoài đó thôi.
This section, to indicate, that time of life, all "beings" the time to death. At death the "incorporeal" is the time to live. While "the YES" activities, while the "None" and underground operations. So, things are still being alive and not dead, just temporarily change the silhouette of the vehicle, the argument is inherently "accept questions" outside there.
Bởi tại quan niệm của chúng ta, đang ở trong một cảnh giới CÓ nào đó, nên không thể hiểu biết được, bề trái của sự sống, nơi cảnh giới KHÔNG bên kia. Because in our conception, is in a certain realm YES, should not be able to understand, the reverse of life, DO NOT place across the realm. Cũng như một kẻ ở trong cái "không" và quyến thuộc, quyến thuộc không, tượng thành cái "có" lần lần, thì nó nói là chết mất rồi, không còn cái sống của cái "không" nữa; Just as one who is in the "no" and dear, dear no, object to the "yes" once too often, it is said to die then, no longer the life of the "no" again.; Vậy nên không và có, sống và chết, do sự nhận lầm của chúng sanh, đặt tên theo mỗi lúc, chớ chẳng có điều chi là chết, là không cả. So, no, and yes, life and death, due to the recognition of being wrong, each time named, do not have that which is dead, is not all; Cũng như kẻ kia nói: "Người chết trong vật chất rồi ! Người chết trong tinh thần rồi ! Vật chất người không có rồi ! Tinh thần người không có rồi !" Like the other guys said: "The dead in the material it!; Already dead in spirit! Not matter who got it! Spirit who do not have it!;" Như thế nghĩa là: không có trong cái này, là có trong cái kia, chết trong cái này, là sống trong cái kia. Thế là vẫn "có", vẫn sống , vẫn nảy nở, vẫn tiêu hủy : đổi lớp cũ, máy cũ hư mà sắm lần cái máy mới: tương đối. Nhảy ra, nhảy vào, ẩn, hiện, khi bên này, khi bên kia, như né tránh, như nhường đường.; Thus meaning: not in this, as in the other, in this dead, is living in the other. That is still "there", still alive, still flourish, still destroying: change of old, rotten old machine shop that once the new machines: relative. Jump up, jump in, hide, show, when this party, the other party, such as avoidance, as to give way.
Xác thân này loại bỏ, chất sống tứ đại vẫn còn có sống, mà nảy sanh xác thân khác. Tâm thức linh hồn này, chết tan biến hủy hoại, còn cái "điển thức" của cái biết, sống biết, vẫn còn trong không gian và "vạn vật hữu hình", nó sẽ sống lại lần lần, một tâm thức linh hồn khác.; This body is removed, the four elements of life are still alive, but another body popping birth. This soul consciousness, death destruction evaporated, and the "typical form" of the know, know life, still in space and "tangible things", it will rise again once once, a soul consciousness other. Cho nên nói rằng: "Cái đã sanh, cái đang sanh, cái chưa sanh" ; thế là tất cả CÓ KHÔNG...đều gọi "chúng sanh", tức là có, sống hết thảy, chớ đâu có cái không, cái chết. Chỉ có sự đổi xác thân đổi linh hồn, bỏ cũ lấy mới, càng đi tới, càng lăn tròn trở lại: cũng gọi mới mãi...,hay cũ mới không đầu, đuôi ! So said: "What has been born, so is born, the unborn"; YES NO...How is all are called "beings", ie, all live, not where there is nothing, death. Only by changing the body's soul, old quit taking new, more go to, the more rolled back: a new call forever ... well, old or new headless, tail! Đó là bánh xe chơn lý, luân hồi của vạn hữu, mà chúng sanh hằng ôm đeo: cái ta* không định, khổ bởi không thường,chấp lầm CÓ KHÔNG, sống chết, đến đi, còn hay mất, chẳng phút lặng ngừng, nghỉ ngơi, đứng vững, yên vui. Đành nhắm mắt cho "cái ta" nhập vào đâu ?...cũng mặc kệ ! It's the wheel of truth, reincarnation of all component things, which every living being hugged wear: the I * do not intend, suffering by not usually, accept YES NO wrong, life and death, to go, even or lose, no silent minute stop , rest, stand, peace and happiness. Had close your eyes to "what we" enter where? ... Also ignored
Cũng như một thân cây: từ đất, nước mọc lên, lớn lần, sức nặng, đất và nước thay hình; khi già chết, khô nhẹ, mục nát nhỏ tóp rồi...mất luôn, kế mọc lại cây khác nữa ! Cái sống trong vũ trụ không thay đổi, mà cái ta* cây, đã mất hình. Cũng như từ chưa có người, đến thành một ông già...,rồi chết ! Thịt và xương ông ấy tiêu rã, tóp nhỏ hình, biến mất, không không..., rồi thì lại có thân người khác, nảy tượng mà cái ta* già trước kia lại không có nữa; Just as a tree: soil, water springing up, big time, weight, instead of the soil and water; when the old die, slightly dry, worn and rotting little ... lost, other trees grow back again next! What life in the universe does not change, but the I * tree, has lost shape. As well as from no man, to as an old man ... and then die! Meat and bone decay he targets, small greaves form, disappear, no no ..., then again with another body, bouncing me * whom the old former do not have anymore.
Chơn lý của vạn hữu cũng y thế, nên chúng ta khỏi phải lo sợ rằng: vạn vật, chúng sanh, hay tứ đại địa cầu, quá đông quá nặng. Chỉ có điều cần là chúng ta ráng giữ làm sao cho cái ta* nào đó, được thường bền yên vui, đứng nghỉ, có mãi, nơi một cảnh giới là khỏe hơn. Điều ấy tức là giải thoát hay đạo, là con đường của chúng ta, vậy. Con đường ấy cũng sẵn có trong trần thế, chỉ có điều là ta chịu nhận xét quan tâm tất sẽ thấy ngay rõ rệt :
Truth care of things so well, so we do not have to fear that: things, beings, or the four elements earth, overcrowded too heavy. Only thing we need is how to try to keep us * certain ones, are often durable peace and happiness, stood off, there is always, where a plane is better. That means liberation or religion, is our path, so. The road was also available in the world, except that we have to review all concerned will immediately see clear:
1. Trong nước, có "sở kiến", là sự thấy. 2. Trong đất, có tư duy, là thức sống hay cái biết đang cử động. 3. Trong cỏ, có ngữ cảnh, là lời nói: do sự rung khua. 4. Trong cây, có nghiệp là trái hột của cải. 5. Trong thú, có mạng sống, là tư tưởng (sống lâu mau tự nó tìm ăn). 6. Trong người, có tinh tấn, là hành vi tiến hóa. 7. Trong Trời, có niệm, là sự ghi nhớ điều lành, nên được vui thanh nhẹ. 8. Trong Phật, có định, là sự đứng ngừng yên lặng, cái sống mới vững vàng. Từ nước đến PHẬT, từ kiến đến "ĐỊNH", là nấc thang tiến hóa kêu là Đạo, đến Phật, "Định", gọi là là đắc đạo. Kết quả của sự sống là đắc quả, hay là bậc giải thoát hoàn toàn. Định ! là dứt khổ. Định là có ta, dứt luân hồi...sống mãi đời đời.
1. In water, there is "basis is", is seen. 2. Land, thinking, or what is known form of life is movement. 3. In the grass, with the context, words: due to the vibration brandishing. 4. Under the tree, there is now the seeds of improvement left. 5. In animals, there is life, is thought (long life itself to find food quickly). 6. In humans, there are diligent, the evolutionary behavior. 7. In Heaven, there is conception, is the inculcation of good, light bars should be fun. 8. In Buddhism, there are provisions, the quiet standing stop, the strong new life. From water to Buddha, from reviews to "SAMADHI", the evolutionary ladder is called Religion, to Buddha, "Samadhi", called the enlightened. Results of life is attained, or the level of full liberation. Samadhi! is an end to suffering. Is Samadhi me, an end to reincarnation ... live forever.
III.- "Bát Chánh Đạo" con đường Phật pháp;"Eightfold Path" path of Buddhism:
Bát chánh đạo cũng là con đường từ đầu tới cuối, mà chư Phật đã đi qua rồi; Eightfold Path is the path from beginning to end, that the Buddhas have gone through already.
1. Chánh kiến: là sự nhận xét thấy tỏ rõ lẽ thật đạo pháp, liền xuất gia giải thoát, lìa bỏ sự tà kiến, vô minh, lầm lạc của đời ác trược, bỏ khổ tìm vui.
1. Right view: the comments show clear truth religion, ordained freed immediately, leave the wrong view, ignorant, perverted by evil world degenerations, leaving hard to find fun.
2. Chánh tư duy: là sự chiêm nghiệm, sưu tầm chơn lý, để được trí huệ, phải ở nơi chỗ vắng, núi, rừng, vườn một mình ít lâu.
3. Chánh ngữ: là tới lui cõi đời, để nói pháp dắt dẫn dạy khuyên người, sau khi đã thấu lý đạo đắc quả, để cho được cái học tự nơi nghe, nơi suy nghĩ, nơi sự hành động, cùng nơi sự nói luận, giảng giải.
4. Chánh nghiệp: là đi xin, ăn một ngọ chay, mặc một bộ áo vá 3 cái, ở lều lá gốc cây, bịnh không tự làm thuốc, vật chất không không, không một chỗ, không một vật. Đi khắp nơi học dạy trau tâm. Lấy sự cứu độ người làm nghề nghiệp, không tích trữ của cải, không tự lấy là tham, không tự làm là ác. Ta xin ăn của người mà sống, người xin học nơi ta mà sống; sống lo chuyền nhau, bỏ cái sở chấp ta, và của ta, gian ác. Ở nơi rừng lượm xin trái lá, vào xóm xin thuốc xin cơm, uống nước xin sông xin suối, ngồi nằm xin đất đá; lẽ xin tự người hạp mà cho, là tốt đẹp hơn các nghề nghiệp.
5. Chánh mạng: là không có cái sống cho mình, thân là của đạo, của chúng sanh, sống bằng tâm chơn như, thân có không, còn mất chẳng mến, chết trong sạch hơn sống nhơ bẩn.
6. Chánh tinh tấn: là sự cố gắng kiên tâm, trì giới nhập định, và đi hành đạo giáo hóa khắp nơi.
7. Chánh niệm: là niệm tưởng Phật, niệm tưởng Pháp, niệm tưởng Tăng, niệm tưởng chúng sanh khổ, để tìm phương tiện cứu độ.
8. Chánh định: là niết bàn "chơn-như", hay là sự nhập định, sau khi: từ bi trí huệ đã đủ đầy. Cũng gọi hưu trí, nín nghỉ, sau khi rồi xong hết việc: của cải có dư. 
8. Right Samadhi: nirvana "truth-like", or is the entry samadhi, after: compassionate wisdom was full enough. Also called retirement, hold off, and ready to go after that goods surplus.
IV.- Về "các Pháp Bảo" Của Tám Đạo; On "Dharma" Of Eight Religion: 
1. Chánh kiến: là thấy chắc các sự khổ, thấy chắc lòng tham ái là nguyên nhân sanh các sự khổ, thấy biết chỉ có cảnh niết bàn cắt tham ái, là nơi dứt khổ, thấy biết chắc con đường trung đạo dắt dẫn đến nơi diệt khổ, thấy biết chắc nhơn và quả, thiện là đi tới, ác là đi lui, trong sạch là giải thoát, thấy rõ sự tiến hóa chớ không có chi lưu luyến, tríu mến cuộc đời.
2. Chánh tư duy: là sự suy xét không đành làm loài vật phải bị hại. Suy xét không đành làm cho loài vật phải đau đớn. Suy xét đặng tránh khỏi ngũ dục, để tìm sự xuất gia giải thoát, tầm tõi các nghĩa lý để độ mình và độ người. Quán xét sự khổ của muôn loại, chơn lý của vũ trụ.
3. Chánh ngữ: là không nói dối, không đâm thọc, không rủa chửi, không khoe khoang vô ích, nói chơn thật, nói lời lành, nói đạo lý, khuyên lơn, cang giáng, khen ngợi…
4. Chánh nghiệp: là không làm nghiệp sát sanh, trộm cắp, tà dâm không làm các nghề nghiệp ác để cho có của cải. Không tham, sân, si.
5. Chánh mạng: là không nuôi loài vật để bán, không mua bán loài vật, không mua bán người (sự mai dong). Không mua bán thuốc độc, không mua bán đồ binh khí, không mua bán các thứ rượu để nuôi sống, không sống theo lẽ ác tà, không vì lẽ sống của mình mà giết hại mạng khác.
6. Chánh tinh tấn: là rán giữ không cho sự ác sắp phát khởi ra được, ráng dứt sự ác đã có trong thân tâm, ráng làm những sự lành mà mình chưa làm, ráng làm những sự lành mà mình sẵn có cho được thêm lên, ráng nghe, học hỏi, giảng dạy tu tịnh, giữ giới.
7. Chánh niệm: là nhớ chắc các tướng trong thân thể là vô thường, khổ não, vô ngã. Ghi nhớ rằng: cái thọ vui hay cái thọ khổ, những sự lành, những sự ác, các danh từ và sắc pháp trong thế gian đều là vô thường, khổ não, vô ngã, không tham sân si, dục vọng, luyến ái.
8. Chánh định:
a. Định sơ thiền: tầm sát, hỷ, lạc, tịnh, định, xả.
b. Định nhị thiền: hỷ, lạc, tịnh, định, xả.
c. Định tam thiền: lạc, tịnh, định, xả.
d. Định tứ thiền: tịnh, định, xả.
Tất cả các pháp lành trong thế gian đều thuộc vào tám phần của bát chánh đạo, không thể nói viết cho cùng… bát chánh đạo gồm cả tam tàng Pháp bảo, tám muôn bốn ngàn Pháp môn, ba ngàn Pháp cái, mà chơn như (chánh định) là mục đích chỉ có một.
Bát chánh đạo cũng là tám con đường ngay thẳng, hay tám cửa giải thoát cho chúng sinh, đang ở trong rừng sâu hố thẳm là đời. Bởi không hiểu mục đích, không thông chơn lý, chẳng rõ nhơn duyên, sau trước khó phân, chỉ quanh quẩn trong sự cần sống hiện tại; nên chúng sanh đã tạo ra cho mình đám rừng nguy, hố độc. Càng lúc càng sâu dày, để tự giam hãm và hành phạt lấy, mặc cho cái khổ nó hành hà, vô thường lôi kéo, cái không nó cướp giựt. Chúng sanh chỉ làm mọi cho sự vô ích, làm tôi cho lẽ thất bại.
Tám tà đạo như vách đá, như giăng dây, như chuồng lồng, như khám ngục bao vòng; chúng sanh ở sâu trong chính giữa; hay là ở trong một nhà của tám nhà tà, thì có bao giờ thấy biết đường ra ?
1. Tà kiến đạo: là thấy biết mê tin, xác thân , quyến thuộc, vật chất cõi đời cho là có thật bền dài, hạnh phúc đầy đủ, không có chi hơn nữa.Wrong religion: is seen superstitious know, body, relatives, physical realm is real life for long-lasting, full of happiness, without spending more.
2. Tà tư duy đạo: là sự so tình trù lượng, mưu hay trí giỏi, khéo léo tài nghề, nghiên cứu, học hành, chủ ý để đua tranh giành giựt lẫn nhau, đặng nuôi huyễn thân mộng cảnh.
3. Tà ngữ đạo: là quỉ quyệt lời nói, trau chuốt khoe khoang, dua bợ, nịnh hót dối trá, hơn thua, rủa sả, đâm thọc, lời nói vô ích.
4. Tà nghiệp đạo: là lấy tham, sân, si làm của cải, sanh đủ nghề xảo trá, sanh nhai.
5. Tà mạng đạo: là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, trà, thuốc, biếng nhác, lợi dụng, mong cầu sự sống, sướng ngon cho thân mạng.
6. Tà tinh tấn đạo: là siêng lo việc ác, cố gắng làm càng, chen đua danh lợi, liều mạng quên thân, lướt càn theo ý dục.
7. Tà niệm đạo: là niệm tưởng mãi ghi sâu húc chặt theo vật chất, xác thân, quyến thuộc, luyến ái dục tình, tưởng nhớ không nguôi.
8. Tà định đạo: là cái sở định luân hồi, quyết giữ cõi đời thân xác, yên tâm trong của cải tình thương. Không còn biết đâu cõi khác, bậc nào; chỉ giữ vững lập trường chí hướng, tôn thờ xác thân, biết có một mình, mục đích tham sống, khổ sở thất bại không nao. Tự mình làm ác, xúi người làm ác, ưa chịu việc làm ác; tội ác không chừa, quả báo không sợ, tới đâu hay tới đó, miễn được vui cười, ai sao bỏ mặc.
Tám tà đạo gồm cả các pháp ác trược của thế gian, sanh ra tám muôn bốn ngàn sự khổ, ba ngàn cái ác, đem lại sự vọng động không ngừng, đối nghịch với chánh đạo.
Tà đạo là địa ngục mãi luân hồi, biến hoá không lường, giỏi hay không đếm, nói chẳng hay cùng… tàm tà đạo là tám vách địa ngục, những ai càng đi sâu vào, càng mất lối ra, như bãi sình lầy càng lún, càng chìm. Dầu ở một chỗ, một nhà (là một đạo trong tám đạo) hay đi quanh quẩn thế mấy, cũng không ra khỏi tay vô thường, bắt buộc khổ đau.
Cũng có lắm kẻ như vậy, mỗi người chỉ ở trong một tà đạo, một sở chấp, như: kẻ thì ở trong tà kiến, người thì ở trong tà tư duy hoặc tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định… nhưng nếu họ tìm ra được chánh đạo tương đối, thì ở tại nhà nào ra cửa đó, ở phương nào thì ra hướng đó, xây lưng trở lại rất mau lẹ vô cùng. Cũng như kẻ nhắm mắt, thấy địa ngục và đi tới mãi, liền đó mở mắt ra, là gặp Niết bàn trước mặt rất gần. Phải trái, cong ngay, chỉ ở trong một niệm trí mà thôi.
V.- Tà đạo và Chánh tôn giáo; Pagan and religious chief;
Người tà kiến thì đi sâu vào trong chốn khổ mịt mờ đen tối, nếu quay trở lại chánh kiến tất nhiên giải thoát, sáng lạng vui tươi. Bởi vậy cho nên:
1. Chánh kiến là đạo thoát khổ của kẻ tà kiến.
2. Chánh tư duy là đạo thoát khổ của kẻ tà tư duy.
3. Chánh ngữ là đạo thoát khổ của kẻ tà ngữ.
4. Chánh nghiệp là đạo thoát khổ của kẻ tà nghiệp.
5. Chánh mạng là đạo thoát khổ của kẻ tà mạng.
6. Chánh tinh tấn là đạo thoát khổ của kẻ tà tinh tấn.
7. Chánh niệm là đạo thoát khổ của kẻ tà niệm.
8. Chánh định là đạo thoát khổ của kẻ tà định.
Tà là có có, đến vọng động chịu khổ phạt. Chánh là không không, đến chơn như hưởng phần vui. Tà là vũng sình lầy lún ngộp, bước xuống đó là sái trật lộn đường; quay trở lên chánh đạo, là con đường cao ráo, sạch sẽ, bằng phẳng, mát êm. Thế nên gọi tà là đời, chánh là đạo. Đạo là sự không khổ tức lẽ yên vui, con đường đúng phải, chốn rảnh rang, nơi nghỉ mệt.
Tám tà đạo là tám thứ bịnh, tám chánh đạo như tám món thuốc hay cứu chữa. Ai tự xét mình có chứng bịnh nào thì uống thuốc ấy. Phép tu cũng thế: người tà ngữ, lấy chánh ngữ sửa trị. Người tà nghiệp lấy chánh nghiệp sửa trị. Chúng ta ai cũng có riêng một bịnh tà, trong tám món tà ấy vậy nên phải tự xét mà răn chừa, thì mới mong trọn lành tốt đẹp.
Chánh đạo như nước mát, như cơm ngon, đủ mùi vị, nhờ nó mà con người mới lớn lao, trưởng đại, rộng rãi, mập tươi, không phải ốm o, nhỏ hẹp, xấu xí, vô ích, tai hại.
Tà đạo lìa chơn như đến vọng động, rối khổ. Chánh đạo lìa vọng động đến chơn như, yên vui. Chúng sanh từ tà kiến đến tà định là đắc đời, bất thối chuyển đời. Chư Phật từ chánh kiến đến chánh định là đắc đạo, bất thối chuyển đạo. Đời cấu trược tối đen, sống giây phút theo thời gian trong giấc ngủ. Đạo thanh tịnh thiện sáng, sống chắc chắn vui tươi, của người thức, cảnh ban ngày.
Đạo là sự xuất gia tấn hóa bỏ lạc lầm lớp thấp, dứt sở chấp, thương yêu, tránh khổ cho mình và cho kẻ khác, ăn chay, đi xin, không của cải không luân hồi, giải thoát khổ, trao dồi trí huệ, nhập định chơn như. Người đạo là người hành theo bát chánh đạo, chánh pháp của chư Phật ba đời.
Đạo nghĩa là pháp lý, giáo lý, hay đạo lý.
Đạo là sự tấn hóa, bỏ ác lên thiện, đến nghỉ ngơi.
Đạo là con đường của người giác ngộ.
Đạo là sự quét sạch bụi trần.
Đạo là chơn như tự nhiên vắng lặng.
Đạo cũng là giới định huệ hay không không…
Nói cho rõ, đạo là con đường từ địa ngục đến Niết bàn, con đường có tám chặng, đi đến đoạn chót Niết bàn chánh định mới gọi là đắc đạo. Đạo là bát chánh, là trung đạo tuyệt đối, giữa tương đối hai bờ lề, mực giữa phẳng bằng, không cao thấp ngăn ranh, tức là sự sống chung của chúng sanh vạn vật trong võ trụ, hay là cái sống vĩnh viễn đời đời, của ta và tất cả.
Ngoài bước đi từng khoảng của đạo bát chánh, không thể gọi là đắc đạo được. Ví như con đường Trời, người, là chỉ mới hai phần ; thiện nhơn, cư sĩ chưa diệt hết khổ luân hồi trọn vẹn. Chánh nghĩa đắc đạo, là đã đến nơi cùng tột Niết bàn, không còn chỗ đi nữa, mới gọi là được. Muốn đắc đạo, ta là người, phải đến cõi Trời, rồi mới đến Niết bàn được, nghĩa là phải tập làm thiện nhơn cư sĩ đã. Chừng đủ thiện căn phước đức, nhơn duyên, rồi mới được xuất gia khất sĩ làm Tăng, ở vào trong bát chánh đạo, kêu là nhập đạo. Kế nhờ sự hành đạo, đi đúng theo từng nấc của bát chánh, mới đắc đạo. Như thế có nghĩa rằng: ai muốn làm Phật phải bỏ Trời, người, qua khỏi cảnh cư gia thiện trí, nhập đạo làm Tăng khất sĩ ! Cũng như đang ở dưới ruộng lầy, cần phải bước lên mé bãi, và rồi bỏ mé bãi mà lên bờ. Trên bờ mới gọi là có đi, đi đến chỗ, đi về nhà.
Không làm Tăng, không làm Phật đặng, chư Phật ba đời thảy như vậy. Trong trần thế chỉ có một con đường ấy thôi, ai cũng thấy con đường ấy cả, kẻ đã đi, kẻ đang đi, kẻ sắp đi, sau trước tùy duyên, ai rồi cũng đi đến được cảnh tuyệt hảo ấy, chớ có ai đứng mãi dưới sình mà không khổ nhọc, mỏi mệt đói khát bao giờ ? Ai rảnh rang thấy rõ trước thì sẽ đi trước, ai lôi thôi thì đi sau, mau chậm cũng tới, thảy chung một đường, tìm lành lánh dữ, diệt khổ yên vui, như nhau có một việc.
Đó là nói cho đúng lý, sở chấp phải hẹp, mới có nấc thang bước lên cho kịp trong ngày hôm nay, từ có chấp đến không chấp, hết chấp là đã quen rồi, đã lên cao rồi ; chớ chẳng phải chấp không, mà đứng hoài một chỗ dưới sình lầy ngộp đắm.
Vẫn hay rằng: thiện cũng đạo, ác cũng đạo, địa ngục đạo, ngạ quỉ đạo, súc sanh đạo, a tu la đạo, nhơn đạo, Thiên đạo, Niết bàn đạo, Sát đạo, Thâu đạo, Dâm đạo, Tham đạo, Sân đạo, Si đạo… Đạo là con đường của mỗi lớp chúng sanh, tâm gì là đạo nấy, đạo khổ, đạo vui. Sao cũng gọi là đạo hết thảy, nhưng muốn diệt tận gốc khổ và sống đời đời, thì ngoài bát chánh đạo ra, không có đạo nào thứ hai khác cả. Là bởi nếu không bước lên, học lớp cao nhứt, thì làm sao có sự thi đậu nghỉ ngơi ? Cùng không có già thì làm sao có hưu trí chết nghỉ ? Trái không già không chín, người không ra khỏi cửa, ắt chẳng phải kẻ đi thi.
VI.-Tám sự an vui của đạo hạnh; Eight wellbeing of virtue:
Trong bát chánh đạo có bốn nhơn và bốn quả, gồm tất cả là một Niết bàn:
1. Chánh kiến là nhơn, sanh ra chánh tư duy là quả.
2. Chánh ngữ là nhơn, sanh ra chánh nghiệp là quả.
3. Chánh mạng là nhơn, sanh ra chánh tinh tấn là quả.
4. Chánh niệm là nhơn, sanh ra chánh định là quả.
Muốn có bốn quả: Tư duy, nghiệp, tinh tấn, định; phải có bốn nhơn: kiến, ngữ, mạng, niệm.
Muốn có định, phải trải qua: tư duy, nghiệp, tinh tấn.
Muốn có niệm phải qua khỏi: kiến, ngữ, mạng.
Vậy nên:
1. Muốn đắc chánh tư duy, thì phải thật hành chánh kiến.
2. Muốn đắc chánh nghiệp, thì phải thật hành chánh ngữ.
3. Muốn đắc chánh tinh tấn, thì phải thật hành chánh mạng.
4. Muốn đắc chánh định, thì phải thật hành chánh niệm.
Nghĩa là: ai muốn đắc trí huệ toàn học của CHÁNH TƯ DUY, thì phải cần có chánh kiến, biết phân biệt, thấy rõ lẽ thiện ác trước mới được. Vì nếu không có cái thấy, thì không thể suy nghĩ được.
Ai muốn có CHÁNH NGHIỆP của cải chắc thật quý báu, là pháp bảo tam tạng, thì phải cần có chánh ngữ, nói luận học hỏi, nếu không nói, đâu có ra lời của vốn.
Ai muốn có CHÁNH TINH TẤN bất thối, thì phải cần có chánh mạng, có không sợ chết tham sống, con người mới cố rán can đảm, lướt tới theo lẽ phải.
Ai muốn có CHÁNH ĐỊNH nghỉ yên, thì phải cần có chánh niệm. Nhờ niệm tưởng ghi nhớ một điều phải nào đó, tâm ta mới định nghỉ yên chơn như được.
Tại sao ta phải cần có Chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh định! Bởi chánh tư duy là thần trí, hay là sự sống, tức là cặp mắt sáng, chủ tể của ta vậy. Không có nó thì không có ta, các pháp và sự cử động, ắt gọi là chết ! Kẻ không trí dầu có mang thân sống đi nữa, người ta cũng chẳng thấy cái sống, tác dụng lợi ích của nó có một chút nào, và nó chỉ chật lối choáng đường, tai hại cho chúng sanh, tấn hóa không thông mà thôi.
Nếu có sống Tư duy, mà không có thức ăn để nuôi, là CHÁNH NGHIỆP Pháp bảo, thì làm sao nó mập, tươi tốt sống đời?
Nếu có của cải nghiệp pháp, mà không có siêng năng trồng gieo, tạo sắm nảy nở thêm ra, làm mãi, thì đâu có được sự mạnh khỏe vui tươi, và thọ hưởng hoài. Nếu không chuyên cần TINH TẤN, làm sao cho được có dư, nếu không dư thì chưa được yên nghỉ, ngồi không ngủ khỏe là chánh định. CHÁNH ĐỊNH là yên vui hạnh phúc, cảnh hưu trí, nín nghỉ dưỡng tâm, kết quả vui tươi, an nhàn khoái lạc, toàn giác toàn năng, trọn sáng trọn lành, ngôi cao của sẵn, quyến thuộc bao gồm, không lo không loạn, không còn sợ khổ, chơn phước cực đại. Có sống, có của cải, có thêm hoài, có nghỉ yên, đời người mà được như thế là đủ lý nghĩa, ai lại chẳng cầu mong?
Thế nên, bát chánh đạo là con đàng đi của tất cả, của người giác ngộ hết mê lầm. Tà đạo là cảnh giới của hạng người mới tấn hóa, chưa gặp khổ, ít kinh nghiệm.
1. Chánh kiến đạo là cảnh giới của thinh văn (học nghe tiếng pháp).
2. Chánh tư duy đạo là cảnh giới của bậc nhập lưu (mới nhập vào nguồn đạo thấu lý).
3. Chánh ngữ đạo là cảnh giới của bậc nhứt vãng lai (còn một lần thối chuyển).
4. Chánh nghiệp đạo là cảnh giới của bậc bất lai (không trở lại).
5. Chánh mạng đạo là cảnh giới của bậc vô sanh A La Hán (không còn thấy sống chẳng phải chúng sanh).
6. Chánh tinh tấn đạo là cảnh giới của bậc Duyên giác, Bích chi (giác ngộ nhơn duyên).
7. Chánh niệm đạo là cảnh giới của bậc Bồ tát (giác hữu tình giáo hóa).
8. Chánh định đạo là cảnh giới của bậc Như lai (trở lại chơn như yên nghỉ nín lặng).
Đây cũng gọi là tám quả của tám đạo. Nhờ chánh đạo mới đi đến chơn như, nên gọi chánh chơn là đạo của Phật.
Tám đạo để trừ tám khổ. Đạo là giác sáng, khổ tức mê mờ. Bảy giác trong đạo sáng tỏ hơn trăm ngàn mặt nhựt:
1. Một là, phân biệt sự lành với sự dữ.
1. First, distinguish the good and the evil.
2. Hai là, tinh tấn mà lướt lên.
2. Secondly, be diligent that glide up.
3. Ba là, an lạc trong vòng đạo đức.
3. Thirdly, peace within ethically.
4. Bốn là, thắng phục tâm ý mình, đặng làm lành.
4. Fourthly, won for his mind, to do good.
5. Năm là, nhớ tưởng đạo lý.
5. Fifth, remember the moral ideal.
6. Sáu là, nhất tâm đại "định thiền".
6. Sixth, most great interest "to meditate".
7. Bảy là, vui chịu với mọi cảnh ngộ. 
7. Seventh, happy to be with all the circumstances.
Bảy cái "giác tính" ấy do nơi "đạo pháp" mà ra, cho nên gọi là đạo Phật. Nhờ nơi, bảy giác tính ấy: mới thành Phật, cho nên cũng gọi Phật là giác tính, là cội gốc cây của chúng sanh, nương dựa và đeo theo, mà làm lá, bông, trái, nhánh để tìm vui. 
The seven "the understanding" that by which "religion" that out, so called Buddhism. Because where seven the understanding that: new Buddha, so the Buddha is also called the understanding, is the root of the tree beings, and carrying his relying, which makes the leaf, flower, fruit, branches to find amusing. 
NÓI TÓM LẠI: "Đắc đạo" là đắc Niết bàn, đắc đời là luân hồi, tức là đắc thiên đường hay đắc địa ngục. "Chánh đạo" là bởi thiện lành, không ác quấy. Ấn chứng của đạo là sự vui tươi, không khổ nhọc. Kẻ đã đi rồi, mới tự biết là vui say, no đủ, sướng hơn hết.
In short: "enlightened" is attained Nirvana, reincarnation is a prime life, ie prime heaven or hell attained. The "right way" is by goodness, not evil harassment. Seal of religion is the playful, not hardship. Who has gone, the new self-knowledge is fun drunk, fed, happy than before.
TÁM "đạo hạnh" và TÁM "quả đạo"; EIGHT "virtuous" and EIGHT "religion result":
1. "Chánh định đạo" là pháp của bậc Như lai.
2. Chánh niệm là pháp của bậc Bồ tát
3. Chánh tinh tấn là pháp, của bậc Bích chi.
3. Right effort is legal, level of Pratyeka.
4. "Chánh mạng" là pháp của bậc A la hán. 
5. "Chánh nghiệp" là pháp của bậc Bất Lai . (Không bao giờ trở lại với đời !)
6. Chánh ngữ là pháp của bậc Nhất vãng lai . (Một lần trở lại !)
7. Chánh tư duy là pháp của bậc Nhập lưu . (Theo dòng đạo pháp !)
8. Chánh kiến là pháp của bậc chư Thiên.
Tám "đạo" là nấc thang trên nhân loại. 
1. "Right Samadhi way" is a legal order of the Tathāgata.
2. Mindfulness is the legal order of the Bodhisattva
3. Right Effort is the method of rank.....
4. "Right Livelihood" is a legal of Arhats level.
5. "Right Livelihood" is a method of rank ..... (Do not ever come back to life!)
6. Right speech is the method of rank ....... (Once again!)
7. Right Thought is the method of rank Import Save. (According to the Dharma!)
8. Right view is the legal order of the gods.
Eight religion on the human ladder.
Tổ sư Minh Đăng Quang; Patriarch Minh Dang Quang 
@@@




Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
BÁT CHÁNH ĐẠO
Bát Chánh Đạo tức là tám cách: hành đạo, theo lý lẽ chánh của bậc thánh nhân, cũng gọi là bát thánh đạo; là pháp tự cứu độ cho mình, và cứu độ cho tha nhân, sống chung với tất cả, để cùng đưa nhau lên đến: nơi cùng tột là Niết Bàn. Bát chánh đạo cũng gọi là chánh pháp hay con đường trung đạo, gồm cả sự học và hành. Bát chánh đạo là tám cửa, tám đường vui, tám pháp giải thoát, tám tia sáng… là con đường tiến hóa của chúng sanh, tức là: Chơn lý của vũ trụ, mà muôn loại đều ở bên trong. 
Bát chánh đạo là bà mẹ hay khí thở, hoặc như mặt đất, cái nhà, mà người hay Trời, không bao giờ thiếu sót hay lạc loàiTất cả chúng sanh đều ở trong đạo Bát chánh, cõi đời mà có cũng do Bát chánh đạo. Bát chánh đạo là sự sống, hay tâm hồn của chúng sanh, mà các tôn chỉ, giáo lý của văn minh, thảy từ đó mà ra tất cả. Bát chánh đạo không phải riêng của một đạo giáo nào, chính đạo là nấc thang chung của toàn thể nhơn loại.
Tám đường chánh, ấy là:
1. Chánh kiến: đạo, là con đường: nhìn thấy chân chánh.
2. Chánh tư duy: đạo, là con đường: suy gẫm chân chánh.
3. Chánh ngữ: đạo, là con đường: nói chân chánh.
4. Chánh nghiệp: đạo, là con đường: làm chân chánh.
5. Chánh mạng: đạo, là con đường: sống chân chánh.
6. Chánh tinh tấn: đạo, là con đường: siêng năng chân chánh.
7. Chánh niệm: đạo, là con đường: tưởng nhớ chân chánh.
8. Chánh định: đạo, là con đường: yên nghỉ chân chánh.
Cũng có thể nói như vầy:
1. Chánh kiến: đạo, là nhìn thấy: con đường chánh.
2. Chánh tư duy: đạo, là suy gẫm: con đường chánh.
3. Chánh ngữ: đạo, là nói: con đường chánh.
4. Chánh nghiệp: đạo, là làm: con đường chánh.
5. Chánh mạng: đạo, là sống: con đường chánh.
6. Chánh tinh tấn: đạo, là siêng năng: con đường chánh.
7. Chánh niệm: đạo, là tưởng nhớ: con đường chánh.
8. Chánh định: đạo, là yên nghỉ: con đường chánh.
Nghĩa là: 
1. Sự thấy chân chánh , trước khi thấy, đang thấy, và sau khi thấy, sự thấy (bằng con mắt của trí huệ mà nhận xét) nghe, hiểu, biết, nên phải cho hợp lẽ chánh, chân thật.  
2. Sự suy gẫm chân chánh, trước khi suy gẫm, đang suy gẫm, sau khi suy gẫm, tìm lý lẽ quán xét, nên phải cho hợp lẽ chánh chơn thật. 
3. Sự phát biểu chân chánh, trước khi nói, đang nói, sau khi nói, lời lẽ phải thiện lành, trong sạch, nên hợp theo lý lẽ chánh, chân thật.
4. Sự làm chân chánh, trước khi làm, đang làm, sau khi làm, việc làm phải đừng tham sân si, nên đi xin ăn cho hợp theo lý lẽ chánh chơn thật.
5. Sự sống chân chánh, phút sống đã qua, phút đang sống, phút sống sắp đến, không tham sống sợ chết, sống theo lẽ phải không vị ác tà, sống theo đạo lý, nên cho hợp theo lẽ chánh, chân thật.
6. Sự siêng năng chân chánh, việc đã qua, việc hiện tại, và việc chưa tới, phải bền chí mà lướt tới, không thối chuyển ngã lòng, cố gắng sự hành đạo, nên cho hợp theo lý lẽ chánh chơn thật.
7. Sự niệm tưởng chân chánh, niệm tưởng việc qua rồi, việc hiện tại, và việc sẽ đến, phải ghi nhớ điều răn dạy, hằng ngó mắt xuống một chỗ tâm chơn, không cho vọng động, không quên lẽ đạo, nên cho hợp lý lẽ chánh chân thật.
8. Sự yên nghỉ chân chánh, trước khi "nhập-định"; đang "nhập-định", sau khi nhập định , phải giữ sự yên lặng, ngừng nghỉ tất cả mọi việc, quyết định không sanh, bất thoái hóa, không rời bỏ đạo "Chân-Chánh", nhất định không xao lãng, không đổi dời, hằng nghỉ ngơi yên vui sau sự "thiện-huệ", nên cho hợp lý lẽ chánh chơn thật.
II-Nhân duyên của "BÁT CHÁNH ĐẠO"
Bát chánh đạo không phải tự nơi ý người chế lập, mà vẫn sẵn có ở trong đời , bậc giác ngộ sau nầy nói chỉ ra đó thôi. 
Như chúng ta thấy: ở trong không gian thì có khí. Trong không khí thì có nước. Trong nước thì có đất. Trong đất thì có lửa. Lửa thổi phù lên, nước đất cuốn tròn thành bọt. Bọt thủy tinh hay là quả địa cầu, khi nổi khi xẹp, vốn sẵn là cái “có” ở nơi “không".
Đoạn nầy, để chỉ, rằng: Lúc sống, thì tất cả "HỮU THỂ" tiến lần đến chết. Lúc chết thì "Vô Thể" cũng tiến lần đến sống. Trong lúc "cái CÓ" hoạt động, thì trong lúc "cái KHÔNG" cũng ngầm hoạt động. Như vậy, là chúng sanh vạn vật vẫn sống chớ không có chết, chỉ tạm đổi hình bóng của phương tiện, vốn dĩ của lý lẽ "câu chấp " bên ngoài đó thôi.
Bởi tại quan niệm của chúng ta, đang ở trong một cảnh giới CÓ nào đó, nên không thể hiểu biết được, bề trái của sự sống, nơi cảnh giới KHÔNG bên kia. Cũng như một kẻ ở trong cái "không" và quyến thuộc, quyến thuộc không, tượng thành cái "có" lần lần, thì nó nói là chết mất rồi, không còn cái sống của cái "không" nữa. Vậy nên không và có, sống và chết, do sự nhận lầm của chúng sanh, đặt tên theo mỗi lúc, chớ chẳng có điều chi là chết, là không cả. Cũng như kẻ kia nói: "Người chết trong vật chất rồi ! Người chết trong tinh thần rồi ! Vật chất người không có rồi ! Tinh thần người không có rồi ! Như thế nghĩa là: không có trong cái này, là có trong cái kia, chết trong cái này, là sống trong cái kia. Thế là vẫn "có", vẫn sống , vẫn nảy nở, vẫn tiêu hủy : đổi lớp cũ, máy cũ hư mà sắm lần cái máy mới: tương đối. Nhảy ra, nhảy vào, ẩn, hiện, khi bên này, khi bên kia, như né tránh, như nhường đường.
Xác thân này loại bỏ, chất sống tứ đại vẫn còn có sống, mà nảy sanh xác thân khác. Tâm thức linh hồn này, chết tan biến hủy hoại, còn cái "điển thức" của cái biết, sống biết, vẫn còn trong không gian và "vạn vật hữu hình", nó sẽ sống lại lần lần, một tâm thức linh hồn khác.; Cho nên nói rằng: "Cái đã sanh, cái đang sanh, cái chưa sanh" ; thế là tất cả CÓ KHÔNG...đều gọi "chúng sanh", tức là có, sống hết thảy, chớ đâu có cái không, cái chết. Chỉ có sự đổi xác thân đổi linh hồn, bỏ cũ lấy mới, càng đi tới, càng lăn tròn trở lại: cũng gọi mới mãi...,hay cũ mới không đầu, đuôi ! Đó là bánh xe chơn lý, luân hồi của vạn hữu, mà chúng sanh hằng ôm đeo: cái ta* không định, khổ bởi không thường,chấp lầm CÓ KHÔNG, sống chết, đến đi, còn hay mất, chẳng phút lặng ngừng, nghỉ ngơi, đứng vững, yên vui. Đành nhắm mắt cho "cái ta" nhập vào đâu ?...cũng mặc kệ ! 
Cũng như một thân cây: từ đất, nước mọc lên, lớn lần, sức nặng, đất và nước thay hình; khi già chết, khô nhẹ, mục nát nhỏ tóp rồi...mất luôn, kế mọc lại cây khác nữa ! Cái sống trong vũ trụ không thay đổi, mà cái ta* cây, đã mất hình. Cũng như từ chưa có người, đến thành một ông già..., rồi chết ! Thịt và xương ông ấy tiêu rã, tóp nhỏ hình, biến mất, không không..., rồi thì lại có thân người khác, nảy tượng mà cái ta* già trước kia lại không có nữa.
Chơn lý của vạn hữu cũng y thế, nên chúng ta khỏi phải lo sợ rằng: vạn vật, chúng sanh, hay tứ đại địa cầu, quá đông quá nặng. Chỉ có điều cần là chúng ta ráng giữ làm sao cho cái ta* nào đó, được thường bền yên vui, đứng nghỉ, có mãi, nơi một cảnh giới là khỏe hơn. Điều ấy tức là giải thoát hay đạo, là con đường của chúng ta, vậy. Con đường ấy cũng sẵn có trong trần thế, chỉ có điều là ta chịu nhận xét quan tâm tất sẽ thấy ngay rõ rệt :
1. Trong nước, có "sở kiến", là sự thấy. 
2. Trong đất, có tư duy, là thức sống hay cái biết đang cử động. 
3. Trong cỏ, có ngữ cảnh, là lời nói: do sự rung khua. 
4. Trong cây, có nghiệp là trái hột của cải. 
5. Trong thú, có mạng sống, là tư tưởng (sống lâu mau tự nó tìm ăn). 
6. Trong người, có tinh tấn, là hành vi tiến hóa. 
7. Trong Trời, có niệm, là sự ghi nhớ điều lành, nên được vui thanh nhẹ. 
8. Trong Phật, có định, là sự đứng ngừng yên lặng, cái sống mới vững vàng. Từ nước đến PHẬT, từ kiến đến "ĐỊNH", là nấc thang tiến hóa kêu là Đạo, đến Phật, "Định", gọi là là đắc đạo. Kết quả của sự sống là đắc quả, hay là bậc giải thoát hoàn toàn. Định ! là dứt khổ. Định là có ta, dứt luân hồi...sống mãi đời đời.
III.- "Bát Chánh Đạo" con đường Phật pháp:
Bát chánh đạo cũng là con đường từ đầu tới cuối, mà chư Phật đã đi qua rồi
1. Chánh kiến: là sự nhận xét thấy tỏ rõ lẽ thật đạo pháp, liền xuất gia giải thoát, lìa bỏ sự tà kiến, vô minh, lầm lạc của đời ác trược, bỏ khổ tìm vui.
2. Chánh tư duy: là sự chiêm nghiệm, sưu tầm chơn lý, để được trí huệ, phải ở nơi chỗ vắng, núi, rừng, vườn một mình ít lâu.
3. Chánh ngữ: là tới lui cõi đời, để nói pháp dắt dẫn dạy khuyên người, sau khi đã thấu lý đạo đắc quả, để cho được cái học tự nơi nghe, nơi suy nghĩ, nơi sự hành động, cùng nơi sự nói luận, giảng giải.
4. Chánh nghiệp: là đi xin, ăn một ngọ chay, mặc một bộ áo vá 3 cái, ở lều lá gốc cây, bịnh không tự làm thuốc, vật chất không không, không một chỗ, không một vật. Đi khắp nơi học dạy trau tâm. Lấy sự cứu độ người làm nghề nghiệp, không tích trữ của cải, không tự lấy là tham, không tự làm là ác. Ta xin ăn của người mà sống, người xin học nơi ta mà sống; sống lo chuyền nhau, bỏ cái sở chấp ta, và của ta, gian ác. Ở nơi rừng lượm xin trái lá, vào xóm xin thuốc xin cơm, uống nước xin sông xin suối, ngồi nằm xin đất đá; lẽ xin tự người hạp mà cho, là tốt đẹp hơn các nghề nghiệp.
5. Chánh mạng: là không có cái sống cho mình, thân là của đạo, của chúng sanh, sống bằng tâm chơn như, thân có không, còn mất chẳng mến, chết trong sạch hơn sống nhơ bẩn.
6. Chánh tinh tấn: là sự cố gắng kiên tâm, trì giới nhập định, và đi hành đạo giáo hóa khắp nơi.
7. Chánh niệm: là niệm tưởng Phật, niệm tưởng Pháp, niệm tưởng Tăng, niệm tưởng chúng sanh khổ, để tìm phương tiện cứu độ.
8. Chánh định: là niết bàn "chơn-như", hay là sự nhập định, sau khi: từ bi trí huệ đã đủ đầy. Cũng gọi hưu trí, nín nghỉ, sau khi rồi xong hết việc: của cải có dư. 
8. Right Samadhi: nirvana "truth-like", or is the entry samadhi, after: compassionate wisdom was full enough. Also called retirement, hold off, and ready to go after that goods surplus.
IV.- Về "các Pháp Bảo" Của Tám Đạo:
1. Chánh kiến: là thấy chắc các sự khổ, thấy chắc lòng tham ái là nguyên nhân sanh các sự khổ, thấy biết chỉ có cảnh niết bàn cắt tham ái, là nơi dứt khổ, thấy biết chắc con đường trung đạo dắt dẫn đến nơi diệt khổ, thấy biết chắc nhơn và quả, thiện là đi tới, ác là đi lui, trong sạch là giải thoát, thấy rõ sự tiến hóa chớ không có chi lưu luyến, tríu mến cuộc đời.
2. Chánh tư duy: là sự suy xét không đành làm loài vật phải bị hại. Suy xét không đành làm cho loài vật phải đau đớn. Suy xét đặng tránh khỏi ngũ dục, để tìm sự xuất gia giải thoát, tầm tõi các nghĩa lý để độ mình và độ người. Quán xét sự khổ của muôn loại, chơn lý của vũ trụ.
3. Chánh ngữ: là không nói dối, không đâm thọc, không rủa chửi, không khoe khoang vô ích, nói chơn thật, nói lời lành, nói đạo lý, khuyên lơn, cang giáng, khen ngợi…
4. Chánh nghiệp: là không làm nghiệp sát sanh, trộm cắp, tà dâm không làm các nghề nghiệp ác để cho có của cải. Không tham, sân, si.
5. Chánh mạng: là không nuôi loài vật để bán, không mua bán loài vật, không mua bán người (sự mai dong). Không mua bán thuốc độc, không mua bán đồ binh khí, không mua bán các thứ rượu để nuôi sống, không sống theo lẽ ác tà, không vì lẽ sống của mình mà giết hại mạng khác.
6. Chánh tinh tấn: là rán giữ không cho sự ác sắp phát khởi ra được, ráng dứt sự ác đã có trong thân tâm, ráng làm những sự lành mà mình chưa làm, ráng làm những sự lành mà mình sẵn có cho được thêm lên, ráng nghe, học hỏi, giảng dạy tu tịnh, giữ giới.
7. Chánh niệm: là nhớ chắc các tướng trong thân thể là vô thường, khổ não, vô ngã. Ghi nhớ rằng: cái thọ vui hay cái thọ khổ, những sự lành, những sự ác, các danh từ và sắc pháp trong thế gian đều là vô thường, khổ não, vô ngã, không tham sân si, dục vọng, luyến ái.
8. Chánh định:
a. Định sơ thiền: tầm sát, hỷ, lạc, tịnh, định, xả.
b. Định nhị thiền: hỷ, lạc, tịnh, định, xả.
c. Định tam thiền: lạc, tịnh, định, xả.
d. Định tứ thiền: tịnh, định, xả.
Tất cả các pháp lành trong thế gian đều thuộc vào tám phần của bát chánh đạo, không thể nói viết cho cùng… bát chánh đạo gồm cả tam tàng Pháp bảo, tám muôn bốn ngàn Pháp môn, ba ngàn Pháp cái, mà chơn như (chánh định) là mục đích chỉ có một.
Bát chánh đạo cũng là tám con đường ngay thẳng, hay tám cửa giải thoát cho chúng sinh, đang ở trong rừng sâu hố thẳm là đời. Bởi không hiểu mục đích, không thông chơn lý, chẳng rõ nhơn duyên, sau trước khó phân, chỉ quanh quẩn trong sự cần sống hiện tại; nên chúng sanh đã tạo ra cho mình đám rừng nguy, hố độc. Càng lúc càng sâu dày, để tự giam hãm và hành phạt lấy, mặc cho cái khổ nó hành hà, vô thường lôi kéo, cái không nó cướp giựt. Chúng sanh chỉ làm mọi cho sự vô ích, làm tôi cho lẽ thất bại.
Tám tà đạo như vách đá, như giăng dây, như chuồng lồng, như khám ngục bao vòng; chúng sanh ở sâu trong chính giữa; hay là ở trong một nhà của tám nhà tà, thì có bao giờ thấy biết đường ra ?
1. Tà kiến đạo: là thấy biết mê tin, xác thân , quyến thuộc, vật chất cõi đời cho là có thật bền dài, hạnh phúc đầy đủ, không có chi hơn nữa.
2. Tà tư duy đạo: là sự so tình trù lượng, mưu hay trí giỏi, khéo léo tài nghề, nghiên cứu, học hành, chủ ý để đua tranh giành giựt lẫn nhau, đặng nuôi huyễn thân mộng cảnh.
3. Tà ngữ đạo: là quỉ quyệt lời nói, trau chuốt khoe khoang, dua bợ, nịnh hót dối trá, hơn thua, rủa sả, đâm thọc, lời nói vô ích.
4. Tà nghiệp đạo: là lấy tham, sân, si làm của cải, sanh đủ nghề xảo trá, sanh nhai.
5. Tà mạng đạo: là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, uống rượu, trà, thuốc, biếng nhác, lợi dụng, mong cầu sự sống, sướng ngon cho thân mạng.
6. Tà tinh tấn đạo: là siêng lo việc ác, cố gắng làm càng, chen đua danh lợi, liều mạng quên thân, lướt càn theo ý dục.
7. Tà niệm đạo: là niệm tưởng mãi ghi sâu húc chặt theo vật chất, xác thân, quyến thuộc, luyến ái dục tình, tưởng nhớ không nguôi.
8. Tà định đạo: là cái sở định luân hồi, quyết giữ cõi đời thân xác, yên tâm trong của cải tình thương. Không còn biết đâu cõi khác, bậc nào; chỉ giữ vững lập trường chí hướng, tôn thờ xác thân, biết có một mình, mục đích tham sống, khổ sở thất bại không nao. Tự mình làm ác, xúi người làm ác, ưa chịu việc làm ác; tội ác không chừa, quả báo không sợ, tới đâu hay tới đó, miễn được vui cười, ai sao bỏ mặc.
Tám tà đạo gồm cả các pháp ác trược của thế gian, sanh ra tám muôn bốn ngàn sự khổ, ba ngàn cái ác, đem lại sự vọng động không ngừng, đối nghịch với chánh đạo.
Tà đạo là địa ngục mãi luân hồi, biến hoá không lường, giỏi hay không đếm, nói chẳng hay cùng… tàm tà đạo là tám vách địa ngục, những ai càng đi sâu vào, càng mất lối ra, như bãi sình lầy càng lún, càng chìm. Dầu ở một chỗ, một nhà (là một đạo trong tám đạo) hay đi quanh quẩn thế mấy, cũng không ra khỏi tay vô thường, bắt buộc khổ đau.
Cũng có lắm kẻ như vậy, mỗi người chỉ ở trong một tà đạo, một sở chấp, như: kẻ thì ở trong tà kiến, người thì ở trong tà tư duy hoặc tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định… nhưng nếu họ tìm ra được chánh đạo tương đối, thì ở tại nhà nào ra cửa đó, ở phương nào thì ra hướng đó, xây lưng trở lại rất mau lẹ vô cùng. Cũng như kẻ nhắm mắt, thấy địa ngục và đi tới mãi, liền đó mở mắt ra, là gặp Niết bàn trước mặt rất gần. Phải trái, cong ngay, chỉ ở trong một niệm trí mà thôi.
V.- Tà đạo và Chánh tôn giáo; Pagan and religious chief;
Người tà kiến thì đi sâu vào trong chốn khổ mịt mờ đen tối, nếu quay trở lại chánh kiến tất nhiên giải thoát, sáng lạng vui tươi. Bởi vậy cho nên:
1. Chánh kiến là đạo thoát khổ của kẻ tà kiến.
2. Chánh tư duy là đạo thoát khổ của kẻ tà tư duy.
3. Chánh ngữ là đạo thoát khổ của kẻ tà ngữ.
4. Chánh nghiệp là đạo thoát khổ của kẻ tà nghiệp.
5. Chánh mạng là đạo thoát khổ của kẻ tà mạng.
6. Chánh tinh tấn là đạo thoát khổ của kẻ tà tinh tấn.
7. Chánh niệm là đạo thoát khổ của kẻ tà niệm.
8. Chánh định là đạo thoát khổ của kẻ tà định.
Tà là có có, đến vọng động chịu khổ phạt. Chánh là không không, đến chơn như hưởng phần vui. Tà là vũng sình lầy lún ngộp, bước xuống đó là sái trật lộn đường; quay trở lên chánh đạo, là con đường cao ráo, sạch sẽ, bằng phẳng, mát êm. Thế nên gọi tà là đời, chánh là đạo. Đạo là sự không khổ tức lẽ yên vui, con đường đúng phải, chốn rảnh rang, nơi nghỉ mệt.
Tám tà đạo là tám thứ bịnh, tám chánh đạo như tám món thuốc hay cứu chữa. Ai tự xét mình có chứng bịnh nào thì uống thuốc ấy. Phép tu cũng thế: người tà ngữ, lấy chánh ngữ sửa trị. Người tà nghiệp lấy chánh nghiệp sửa trị. Chúng ta ai cũng có riêng một bịnh tà, trong tám món tà ấy vậy nên phải tự xét mà răn chừa, thì mới mong trọn lành tốt đẹp.
Chánh đạo như nước mát, như cơm ngon, đủ mùi vị, nhờ nó mà con người mới lớn lao, trưởng đại, rộng rãi, mập tươi, không phải ốm o, nhỏ hẹp, xấu xí, vô ích, tai hại.
Tà đạo lìa chơn như đến vọng động, rối khổ. Chánh đạo lìa vọng động đến chơn như, yên vui. Chúng sanh từ tà kiến đến tà định là đắc đời, bất thối chuyển đời. Chư Phật từ chánh kiến đến chánh định là đắc đạo, bất thối chuyển đạo. Đời cấu trược tối đen, sống giây phút theo thời gian trong giấc ngủ. Đạo thanh tịnh thiện sáng, sống chắc chắn vui tươi, của người thức, cảnh ban ngày.
Đạo là sự xuất gia tấn hóa bỏ lạc lầm lớp thấp, dứt sở chấp, thương yêu, tránh khổ cho mình và cho kẻ khác, ăn chay, đi xin, không của cải không luân hồi, giải thoát khổ, trao dồi trí huệ, nhập định chơn như. Người đạo là người hành theo bát chánh đạo, chánh pháp của chư Phật ba đời.
Đạo nghĩa là pháp lý, giáo lý, hay đạo lý.
Đạo là sự tấn hóa, bỏ ác lên thiện, đến nghỉ ngơi.
Đạo là con đường của người giác ngộ.
Đạo là sự quét sạch bụi trần.
Đạo là chơn như tự nhiên vắng lặng.
Đạo cũng là giới định huệ hay không không…
Nói cho rõ, đạo là con đường từ địa ngục đến Niết bàn, con đường có tám chặng, đi đến đoạn chót Niết bàn chánh định mới gọi là đắc đạo. Đạo là bát chánh, là trung đạo tuyệt đối, giữa tương đối hai bờ lề, mực giữa phẳng bằng, không cao thấp ngăn ranh, tức là sự sống chung của chúng sanh vạn vật trong võ trụ, hay là cái sống vĩnh viễn đời đời, của ta và tất cả.
Ngoài bước đi từng khoảng của đạo bát chánh, không thể gọi là đắc đạo được. Ví như con đường Trời, người, là chỉ mới hai phần ; thiện nhơn, cư sĩ chưa diệt hết khổ luân hồi trọn vẹn. Chánh nghĩa đắc đạo, là đã đến nơi cùng tột Niết bàn, không còn chỗ đi nữa, mới gọi là được. Muốn đắc đạo, ta là người, phải đến cõi Trời, rồi mới đến Niết bàn được, nghĩa là phải tập làm thiện nhơn cư sĩ đã. Chừng đủ thiện căn phước đức, nhơn duyên, rồi mới được xuất gia khất sĩ làm Tăng, ở vào trong bát chánh đạo, kêu là nhập đạo. Kế nhờ sự hành đạo, đi đúng theo từng nấc của bát chánh, mới đắc đạo. Như thế có nghĩa rằng: ai muốn làm Phật phải bỏ Trời, người, qua khỏi cảnh cư gia thiện trí, nhập đạo làm Tăng khất sĩ ! Cũng như đang ở dưới ruộng lầy, cần phải bước lên mé bãi, và rồi bỏ mé bãi mà lên bờ. Trên bờ mới gọi là có đi, đi đến chỗ, đi về nhà.
Không làm Tăng, không làm Phật đặng, chư Phật ba đời thảy như vậy. Trong trần thế chỉ có một con đường ấy thôi, ai cũng thấy con đường ấy cả, kẻ đã đi, kẻ đang đi, kẻ sắp đi, sau trước tùy duyên, ai rồi cũng đi đến được cảnh tuyệt hảo ấy, chớ có ai đứng mãi dưới sình mà không khổ nhọc, mỏi mệt đói khát bao giờ ? Ai rảnh rang thấy rõ trước thì sẽ đi trước, ai lôi thôi thì đi sau, mau chậm cũng tới, thảy chung một đường, tìm lành lánh dữ, diệt khổ yên vui, như nhau có một việc.
Đó là nói cho đúng lý, sở chấp phải hẹp, mới có nấc thang bước lên cho kịp trong ngày hôm nay, từ có chấp đến không chấp, hết chấp là đã quen rồi, đã lên cao rồi ; chớ chẳng phải chấp không, mà đứng hoài một chỗ dưới sình lầy ngộp đắm.
Vẫn hay rằng: thiện cũng đạo, ác cũng đạo, địa ngục đạo, ngạ quỉ đạo, súc sanh đạo, a tu la đạo, nhơn đạo, Thiên đạo, Niết bàn đạo, Sát đạo, Thâu đạo, Dâm đạo, Tham đạo, Sân đạo, Si đạo… Đạo là con đường của mỗi lớp chúng sanh, tâm gì là đạo nấy, đạo khổ, đạo vui. Sao cũng gọi là đạo hết thảy, nhưng muốn diệt tận gốc khổ và sống đời đời, thì ngoài bát chánh đạo ra, không có đạo nào thứ hai khác cả. Là bởi nếu không bước lên, học lớp cao nhứt, thì làm sao có sự thi đậu nghỉ ngơi ? Cùng không có già thì làm sao có hưu trí chết nghỉ ? Trái không già không chín, người không ra khỏi cửa, ắt chẳng phải kẻ đi thi.
VI.-Tám sự an vui của đạo hạnh; Eight wellbeing of virtue:
Trong bát chánh đạo có bốn nhơn và bốn quả, gồm tất cả là một Niết bàn:
1. Chánh kiến là nhơn, sanh ra chánh tư duy là quả.
2. Chánh ngữ là nhơn, sanh ra chánh nghiệp là quả.
3. Chánh mạng là nhơn, sanh ra chánh tinh tấn là quả.
4. Chánh niệm là nhơn, sanh ra chánh định là quả.
Muốn có bốn quả: Tư duy, nghiệp, tinh tấn, định; phải có bốn nhơn: kiến, ngữ, mạng, niệm.
Muốn có định, phải trải qua: tư duy, nghiệp, tinh tấn.
Muốn có niệm phải qua khỏi: kiến, ngữ, mạng.
Vậy nên:
1. Muốn đắc chánh tư duy, thì phải thật hành chánh kiến.
2. Muốn đắc chánh nghiệp, thì phải thật hành chánh ngữ.
3. Muốn đắc chánh tinh tấn, thì phải thật hành chánh mạng.
4. Muốn đắc chánh định, thì phải thật hành chánh niệm.
Nghĩa là: ai muốn đắc trí huệ toàn học của CHÁNH TƯ DUY, thì phải cần có chánh kiến, biết phân biệt, thấy rõ lẽ thiện ác trước mới được. Vì nếu không có cái thấy, thì không thể suy nghĩ được.
Ai muốn có CHÁNH NGHIỆP của cải chắc thật quý báu, là pháp bảo tam tạng, thì phải cần có chánh ngữ, nói luận học hỏi, nếu không nói, đâu có ra lời của vốn.
Ai muốn có CHÁNH TINH TẤN bất thối, thì phải cần có chánh mạng, có không sợ chết tham sống, con người mới cố rán can đảm, lướt tới theo lẽ phải.
Ai muốn có CHÁNH ĐỊNH nghỉ yên, thì phải cần có chánh niệm. Nhờ niệm tưởng ghi nhớ một điều phải nào đó, tâm ta mới định nghỉ yên chơn như được.
Tại sao ta phải cần có Chánh tư duy, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh định! Bởi chánh tư duy là thần trí, hay là sự sống, tức là cặp mắt sáng, chủ tể của ta vậy. Không có nó thì không có ta, các pháp và sự cử động, ắt gọi là chết ! Kẻ không trí dầu có mang thân sống đi nữa, người ta cũng chẳng thấy cái sống, tác dụng lợi ích của nó có một chút nào, và nó chỉ chật lối choáng đường, tai hại cho chúng sanh, tấn hóa không thông mà thôi.
Nếu có sống Tư duy, mà không có thức ăn để nuôi, là CHÁNH NGHIỆP Pháp bảo, thì làm sao nó mập, tươi tốt sống đời?
Nếu có của cải nghiệp pháp, mà không có siêng năng trồng gieo, tạo sắm nảy nở thêm ra, làm mãi, thì đâu có được sự mạnh khỏe vui tươi, và thọ hưởng hoài. Nếu không chuyên cần TINH TẤN, làm sao cho được có dư, nếu không dư thì chưa được yên nghỉ, ngồi không ngủ khỏe là chánh định. CHÁNH ĐỊNH là yên vui hạnh phúc, cảnh hưu trí, nín nghỉ dưỡng tâm, kết quả vui tươi, an nhàn khoái lạc, toàn giác toàn năng, trọn sáng trọn lành, ngôi cao của sẵn, quyến thuộc bao gồm, không lo không loạn, không còn sợ khổ, chơn phước cực đại. Có sống, có của cải, có thêm hoài, có nghỉ yên, đời người mà được như thế là đủ lý nghĩa, ai lại chẳng cầu mong?
Thế nên, bát chánh đạo là con đàng đi của tất cả, của người giác ngộ hết mê lầm. Tà đạo là cảnh giới của hạng người mới tấn hóa, chưa gặp khổ, ít kinh nghiệm.
1. Chánh kiến đạo là cảnh giới của thinh văn (học nghe tiếng pháp).
2. Chánh tư duy đạo là cảnh giới của bậc nhập lưu (mới nhập vào nguồn đạo thấu lý).
3. Chánh ngữ đạo là cảnh giới của bậc nhứt vãng lai (còn một lần thối chuyển).
4. Chánh nghiệp đạo là cảnh giới của bậc bất lai (không trở lại).
5. Chánh mạng đạo là cảnh giới của bậc vô sanh A La Hán (không còn thấy sống chẳng phải chúng sanh).
6. Chánh tinh tấn đạo là cảnh giới của bậc Duyên giác, Bích chi (giác ngộ nhơn duyên).
7. Chánh niệm đạo là cảnh giới của bậc Bồ tát (giác hữu tình giáo hóa).
8. Chánh định đạo là cảnh giới của bậc Như lai (trở lại chơn như yên nghỉ nín lặng).
Đây cũng gọi là tám quả của tám đạo. Nhờ chánh đạo mới đi đến chơn như, nên gọi chánh chơn là đạo của Phật.
Tám đạo để trừ tám khổ. Đạo là giác sáng, khổ tức mê mờ. Bảy giác trong đạo sáng tỏ hơn trăm ngàn mặt nhựt:
1. Một là, phân biệt sự lành với sự dữ.
2. Hai là, tinh tấn mà lướt lên.
3. Ba là, an lạc trong vòng đạo đức.
4. Bốn là, thắng phục tâm ý mình, đặng làm lành.
5. Năm là, nhớ tưởng đạo lý.
6. Sáu là, nhất tâm đại "định thiền". 
7. Bảy là, vui chịu với mọi cảnh ngộ. 
(Mô Phật !)
Bảy cái "giác tính" ấy do nơi "đạo pháp" mà ra, cho nên gọi là đạo Phật. Nhờ nơi, bảy giác tính ấy: mới thành Phật, cho nên cũng gọi Phật là giác tính, là cội gốc cây của chúng sanh, nương dựa và đeo theo, mà làm lá, bông, trái, nhánh để tìm vui. 
NÓI TÓM LẠI: "Đắc đạo" là đắc Niết bàn, đắc đời là luân hồi, tức là đắc thiên đường hay đắc địa ngục. "Chánh đạo" là bởi thiện lành, không ác quấy. Ấn chứng của đạo là sự vui tươi, không khổ nhọc. Kẻ đã đi rồi, mới tự biết là vui say, no đủ, sướng hơn hết.
TÁM "đạo hạnh" và TÁM "quả đạo"
1. "Chánh định đạo" là pháp của bậc Như lai.
2. Chánh niệm là pháp của bậc Bồ tát
3. Chánh tinh tấn là pháp, của bậc Bích chi.
4. "Chánh mạng" là pháp của bậc A la hán. 
5. "Chánh nghiệp" là pháp của bậc Bất Lai . (Không bao giờ trở lại với đời !)
6. Chánh ngữ là pháp của bậc Nhất vãng lai . (Một lần trở lại !)
7. Chánh tư duy là pháp của bậc Nhập lưu . (Theo dòng đạo pháp !)
8. Chánh kiến là pháp của bậc chư Thiên.
Tám "đạo" là nấc thang trên nhân loại. 
Tổ sư Minh Đăng Quang; Patriarch Minh Dang Quang.
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
"Bấm vào chữ Dịch bên dưới" !  <= (mở trang nầy! trước khi Dịch ! đã có liên kết trang!)
(Hãy bấm  quay trở lại ! Sau khi đã copy bản dịch hoàn chỉnh !) (Copy văn bản dán vào ô Dịch)

Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Pháp
Phát hiện ngôn ngữ
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Trung (Giản Thể)












Tiêu đề của tôi






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét