Thứ Ba, tháng 8 06, 2013

06. Có và Không ; Yes and No

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 06
Practice self-taught English translation: No. 06
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 
Thực hành đọc Chơn lý ; Practice reading Truth
CÓ và KHÔNG
YES and NO

( Trang 81-94 ; Pages 81-94 )
VŨ TRỤ, hay cũng tức là vô minh, lắm kẻ gọi nó là: không ! Không gian, tức là vũ trụ. ; UNIVERSE, or ignorance that is also, very guys call it: no! Space, ie the universe. Trong vũ trụ gồm có: In the universe consists of:
1. Vn vt là t đi ; Everything is big four.
2. Chúng sanh là ý thc nhận biết; Beings are conscious perception.
3. Và "Các pháp" ca chúng sanh, đi vi vn vt ; And "The law" of beings, for all things.
"Các pháp" là bao hàm gm tt c s làm, li nói, ý tưởng, tình cm, th nhn, lý trí, biến hóa; các s thay đi, cử động, tác dng, giáo lý,v.v... ; "The law" is inclusive of all the work, words, ideas, feelings, received, reason, evolution; the change, move, work, teachings, and more ...Vn vt, chúng sanh và các phương pháp, là "cái có" đang  trong "cái không". ; Things, beings and methods, is "something there" are in "nothingness".
Vạn vật là xác thân, chúng sanh là sự sống và "Các pháp" là thức cần dùng để nuôi vạn vật và chúng sanh (tức xác thân và sự sống). Tính chất của Các pháp là hữu lý và hữu sự, hữu sự để nuôi thân, hữu lý để nuôi trí. Lý có ác có thiện, sự cũng có thiện có ác.
Từ khi có bậc Phật toàn giác, vì sự khổ của chúng sanh bởi có và không, thiện và ác, lý trí và sự việc, Phật mới chỉ ra thêm pháp giải thoát kêu là đạo. Và đối với chúng sanh, mỗi tên gọi cùng sắc hình của vạn vật, đức Phật nói ra nhiều phương tiện của trí huệ, để giác ngộ, nên cũng gọi là "Các pháp".
"Các pháp": là phương pháp, lý lẽ, cách thế:"The law": the method, reason, way:
a) Các pháp của xác thân là việc làm. ; The legal body of the job.
b) Các pháp của lý trí là lời nói. ; The law of reason is speech.
c) Các pháp của tâm, là sự thọ tưởng. ; The law of the mind, is the ideal life.
Việc làm: sanh sự nghiệp của cải. ; Employment: career born of wealth. Lời nói: sanh trí huệ, đạo lý.  ; Words: birth wisdom, morality. Thọ tưởng : sanh thần thông, quả linh. ; A great life: born psychic, spiritual fruit.
Các pháp bao hàm: hình thể, tướng tính, hữu dụng, lý tính. ; The method involves configuration, general properties, useful, rational. Hình thể của các pháp là cái có hình dạng. ; The legal form of the shape. Tướng tính của các pháp, là sự khác nhau của hình dạng. ; General nature of the law, is the difference of shape. Hữu dụng của các pháp là tác dụng, cử động, sanh sống ích lợi của hình thể và tướng tính. ; Usefulness of the approach is working, moving, living life to the good of shape and general features. Lý tính của các pháp là sự hư hay nên, còn hay mất, có hay không, tốt hay xấu, sạch hay dơ, thấp hay cao, đen hay trắng.
"Các Pháp" vốn là không có, bởi có chúng sanh tiếp xúc đối với vạn vật, vì tríu mê, vì khổ sở, mới có "Các Pháp", nên gọi là "Các pháp" tánh vốn không, hay gọi là nguồn gốc của Các pháp là không có "tự tánh". Bởi chúng sanh tríu mê và lăn nhào trong vạn vật, sanh ra "Các pháp" ác trược để phải khổ sầu ! Cho nên chư Phật mới bày ra "cái pháp thánh thiện" để giải thoát khổ sầu ấy vậy...Dẫu biết rằng: chúng sanh từ nơi vạn vật sanh ra, nhưng nếu ở giữ mãi trong vạn vật, có khác nào ở mãi trong địa ngục của thai bào, tránh đâu cho khỏi sự khổ đau ? Nên "Các Pháp" của Phật dạy là: giải thoát khổ, là tiến hóa, bỏ sự vật vượt lên cao, trên không, của lý trí ; gọi là bỏ vật chất đến với tinh thần, xa lìa xác thân sống bằng lý trí; nghĩa là coi xác thân như không có, như chết rồi, hay là chết rồi thì không trở lại, bằng có trở lại, là vì sự ích lợi cho chúng sanh, chớ đừng tham mến xác thân, mà phải ác trược, gian tà, khổ đau, lo âu, sợ sệt...Mà thật vậy, sống ác tà, khổ sở, nặng nề, thấp hèn như trẻ con, thì sự sống có quý ích gì ? Ngược lại, sống theo lý lẽ của thiện lành và chân chánh, yên vui, cao nhẹ, ích lợi như người lớn, ông già, thì ai lại chẳng mong cầu được sống ? Đó là giá trị của con người, giá trị ấy tức là "Các pháp", pháp bảo trừ pháp hại, pháp quý báu trừ pháp độc hại. Đành rằng: nếu không có vật chất trước, ắt chẳng có tinh thần sau, không xác thân nào có lý trí ? Không xác thân có đâu cái sống ? Nhưng xét lại kỹ lưỡng, thì sau khi chết xác thân vật chất mất rồi ! Lúc ấy chúng ta chỉ còn có lý trí, có tinh thần, có cái sống, đã già mà thôi. (Trang 82) Kìa như cây, lá, hoa, quả, là để hun đúc cho hột của cây; cây, lá, hoa, quả hết, chớ cái hột của trái cây hãy còn để gieo giống. Thì xác thân vật chất của chúng ta cũng vậy, thân xác của chúng ta, có là để nuôi tâm hồn, tâm hồn có, tâm hồn không, tâm hồn sống; tâm linh là hột giống của loài người; đúng lý lẽ thì chúng ta phải lo nuôi nó hơn là xác thân vật chất tạm bợ. Tiếc vạn vật mà chi cho phải khổ, chẳng là vô ích lắm thay ? 
"Các pháp" thường làm cho chúng ta bị say mê, độc ác, khổ phạt lấy mình.
Vạn vật là thân phàm tục, chúng sanh là tâm phàm tục, các pháp ác là trí phàm tục. Ví bằng chúng ta còn muốn được giữ ba cái ấy, thì nên đổi nó ra thành phẩm chất tốt đẹp hơn, rồi sẽ thương yêu gìn giữ nó vậy !
Thân thể con người có ba phần: Tham lam là chân ác, sân giận là thân mình ác, si mê là cái đầu ác, ba phần ấy hiệp lại là cái thân ác. Còn như giới luật là cái chơn thiện, thiền định như là cái thân mình thiện, trí huệ như là cái đầu của sự thiện lành, ba phần ấy hiệp lại là cái thân thể của sự thiện lành. Có sự giữ gìn giới luật thì vạn vật mới nên tốt đẹp, có thiền định thì chúng sanh mới nên sống đời. Có trí huệ thì "Các pháp" mới nên trọn lành trong sạch. Giới luật, thiền định, trí huệ là một thân hình tốt đẹp của "cái có", xứng đáng có sự yên vui. Chúng ta cần phải giữ "cái có", của "giới luật, thiền định, trí huệ" ấy, bởi nó là chơn lý của vũ trụ, nó là ý muốn của "cái không", vì "cái không" là bà mẹ chung, tức là "trái đất" nằm trong không gian và vũ trụ của chúng ta.
Tham lam, sân giận và si mê là không (bởi khổ đau). Giới luật, Thiền định và Trí huệ là có (bởi vui). Bởi lý lẽ của sự khổ đau là trái ngược, lý lẽ của sự vui vẻ là hoà thuận, là đi tới ! Vậy nên, chơn lý của vũ trụ là tiến tới, thì "giới luật, thiền định, trí huệ" là cái kết quả của không gian và thời gian, kết tinh lại các điều thuần túy, mà làm thành đứa con ngoan là Phật. Chính Phật mới có được thân của giới luật, thân của thiền định, thân của trí huệ, một nhân vật quý nhất trong đời, là người đắc đạo của vũ trụ. Vạn vật, chúng sanh và các pháp sẽ do nơi Ngài chăm sóc, thay thế cho quyền tạo hóa hư vô, hưởng lấy kho tàng bất tận. Về "thuyết có" chỉ ra rằng: tự nhiên là "cái có" và sự sống, "cái không" là có, và sự sống; khí, thủy, địa, hỏa là sự tồn tại của sự sống. Cho đến các pháp giữa vạn vật và chúng sanh, cũng là "cái có" và sống mãi. Trong vũ trụ không có cái gì là chết và không cả ! Sự thay đổi khi vầy khi khác, là bởi sức lực tự động của nó.
Sự sống của mọi sự vật cũng như cái bộ máy của đồng hồ, chấm dứt vòng quay của cây kim giây là vặn lại. Mạnh rồi yếu, yếu rồi mạnh, mỗi một lần thay đổi là tiến tới một khoảng đường; cũng như buổi sáng mai sẽ hơn với chiều nay, kiếp tới sẽ hơn đời này.
Trong thế gian, bằng không có sự vô thường, ẩn, hiện, tương đối thì không bao giờ có cái thường và tuyệt đối. Nếu không có thường và tuyệt đối, thì chúng sanh chẳng bao giờ được hạnh phúc kết quả tốt đẹp tối cao. Vậy nên, vô thường và tương đối: là tiến hóa, là không khổ, là có, là sống đời đời, là thiện, là huệ, là "chơn lý".
Chúng ta chắc không ai ưa sự tự dối lấy chính mình, là để cho lời nói phản ngược sự hành động, mà vội phê bình, phê phán, hoặc chỉ trích, hoặc chê bai, hay khen ngợi một sự việc nào, thích hợp hay không thuận hợp với lý lẽ và ý nguyện của mình trong hôm nay, mà quên nghĩ đến ngày mai ! Không biết trước nó sẽ thế nào ? 
Than ôi ! Chúng sanh chỉ vì bị những cái tham lam, vì không thỏa mãn, mà lúc nào cũng giẫy giụa, than van cho rằng tạo hóa khắt khe gàn trở, lại gọi chơn lý chẳng công bằng, mà không hay chịu nhận sự lầm dốt của chính mình.
Kìa như, vũ trụ là bà mẹ chung của chúng sanh đã phát sanh ra tất cả chúng ta, nuôi, dạy, cứu, đỡ và nâng chúng ta lên, chớ nào giết hại. Ví như người kia có mua một cái ly tốt; về sau cái ly ấy bị bể hoặc mất cắp, người rất buồn rầu. Sau đó...những ngày ! Người lại ra chợ mua một cái ly khác, cũng giống như vậy mà tốt đẹp hơn, người lại vui hơn. Mà cũng nhờ sự mất mát và đổ vỡ ấy, trong đêm đó, người tránh được sự chết là bởi có kẻ trộm muốn giết người để đoạt cái ly, nhưng vì sự đổ vỡ hoặc mất mát vào buổi chiều, nên kẻ trộm kia đã tha cho tánh mạng...Lại cũng như vầy nữa ! Nhờ cái ly đổ vỡ hoặc mất mát ấy, mà người sẽ đi đến chỗ bán đồ mỹ thuật, nên kiến thức được mở mang, mà gặp được nhiều món khác tốt hơn. Và sự việc đó đem lại cho người bài học rằng: đừng ôm giữ mãi một món đồ của ta, mà phải khổ và thua kém người. Đã thiệt thòi với cái xấu, mà còn nguy chết cả sanh mạng. Cái ly đâu có mất, nó chỉ đổi hình đổi chỗ mà thôi. Sự đổi dời ấy để cho chúng ta tiến hóa, để cho chúng ta đừng tham lam, đừng đau khổ, và khỏi phải bị ai vì tham ác mà giết hại chúng ta. Sự mất mát hoặc đổ bể ấy, chỉ lừa gạt kẻ tham ác, chớ nào nó có bỏ lìa chúng ta ! Vì cái ly này tuy bể vỡ hoặc mất mát, nhưng hình tướng nó vẫn còn trong trí óc chúng ta, chúng ta sẽ đi mua, cùng nhau mua sắm tạo lại cái khác, tốt đẹp hay hơn, tức là nó còn đó, trở lại đó...Nhờ sự mất mát hay vẫn còn đó, mà chúng ta mới có đủ tài trí và đức hạnh, là sự khỏi cất giữ cái của mình, mà cái của mình bao giờ cũng vẫn có còn ở nơi mình ! Như vậy thì tham lam mà chi ? Khổ ác hay ích kỷ mà làm gì ? Chẳng là dốt nát hay lầm lạc lắm thay ?
Vậy ta nên nhớ rằng: ta có đủ hết, và đồ vật không bao giờ lìa xa ta dầu trong những đời này và đời khác, ta hãy suy nghĩ xét kỹ, mà khoan lo sợ, và tự nói rằng: Ai dám bảo của ta là không có, cho đến cái ta, ta tức là thiệt, chắc, có, sống đời kia mà đâu phải giả, đâu phải chết, nó chỉ thay đổi, để đừng nhàm chán, đừng khổ, đừng ác đó thôi!
Cũng như một người nghèo khó kia, trong cơn bịnh nặng biết mình chết, mới suy nghĩ rằng: Ta có nên muốn sống nữa chăng? Nếu muốn sống ta phải làm ác, cướp của giết người. Muốn hết nghèo khổ chăng? Nếu muốn sung sướng thì đừng thương ai, hơn là thương thân mình! Nhưng xét lại bịnh quá nặng, việc ấy không thể làm; người mới suy nghĩ nữa: vậy sau khi chết ta sẽ còn gì? Có gì? Và đi ở đâu? Thấy ra các hạng người cùng khổ trong thế gian mà người rất sợ. Nhớ lại mấy người giàu sang, người định sẽ đi nhập thai những chỗ đó, và yên trí rằng, khi người làm con kẻ giàu có, người sẽ không tham, không làm ác, người phải bố thí, làm các việc từ thiện phước lành, để cho thiên hạ nhờ cậy và thương yêu, người mới giữ chắc được sự sống yên vui và trong sạch. Có như vậy hôm nay người phát tâm hoan lạc, mong chết cái nghèo, để đến cái sống giàu sang, và mỗi kiếp mỗi tiến lên như vậy, cho đến bậc Trời và Phật, mà người không cho rằng có sự chết, chỉ là bỏ cái dốt nát lạc lầm, bỏ điều tham ác khổ hại đó thôi. Người không thể tin rằng: Không có cái ta, hay là cái ta thụt lùi; cho đến các pháp cũng vẫn là có, có chắc thật, có nẩy nở, có trường tồn.
Kìa như một ông thầy giáo, đem hết sự học của mình mười quyển sách, dạy lại cho một người học trò. Ông đã già, sắp chết, và trối với học trò, khuyên phải ăn ở hiền lương theo gương ông, và nên đem sự học của mười quyển sách ấy, mà dạy trao lại cho đứa con sắp sanh ra. Chính đứa con ấy là ông, sẽ nhập thai trở lại vậy.
Lại ông đưa tiền ra, bảo dở nhà cũ bỏ, mà cất lại nhà mới tốt, với đồ đạt dọn về nhà mới, và sắm thêm; rủ thêm quyến thuộc tới ở cho đông, để cùng nhau lo tu học. Việc làm ấy không tin rằng nó mất, ông quyết giữ một địa vị mãi, giữ một miếng đất mãi, giữ quyến thuộc và giữ luôn sự học hành. Ngày sau ông sanh ra trong miếng đất đó, nhà đó, của cải đó, quyến thuộc đó, gặp sự học mười quyển sách đó, ở chỗ hiền lương đó, mà càng tấn hóa lên cao, nhiều, lớn, hay hơn nữa. Ông nhận thấy rằng: nay tuổi ông sáu mươi, học hành của ông được có bấy nhiêu; chớ đời sau, khi ông được hai mươi tuổi, thì sự học hành được ngang như bây giờ, và đến khi già, thì ông học thêm được ít lắm cũng hai mươi quyển sách nữa. Như vậy là mỗi kiếp mỗi tấn hóa đi lên, vừa học vừa nghĩ, vừa gởi gắm lại cho kẻ khác, để cất cho mình về sau. Ông ấy biết lập xã hội đạo đức để dung thân, sắm cửa nhà để sẵn cho mình! Thật là kẻ biết rõ thấy xa cái có, cái còn, cái sống, cái ta của ta, cái pháp. Nào ai có quyền gì ép buộc phá hại kẻ hiền lương, mà gọi là không hòng làm cho không! Dầu không bây giờ, nhưng ngày sau cũng vẫn có lại, mà vinh quang hơn nữa, chớ chẳng thiệt thòi.
Ấy cho nên kẻ giác ngộ rồi, không có khổ. Cũng không lo sợ, gian ác gì cả. Bởi người thiện rất an tâm mà cho rằng: thời gian vẫn đưa trôi người đi tới, càng tới, tới nơi cùng tột là Niết-bàn. Thế nên người từ bi hỷ xả lắm, chẳng biết giận buồn ai và bỏ ghét ai.
Vậy thì người ở đời, chơn lý vốn sẵn chỉ rằng: ngủ là để thức, nghỉ là để làm, nín để nói, chết để sống, không để có, mất để còn… Đời là trường học tập, võ trụ tạo hóa như ông cha bà mẹ, chúng sanh như anh em, vạn vật là của cải, các pháp ấy món ăn. Kho tàng chỗ sẵn, của đầy, cung cấp gìn giữ sẵn cho ta, đâu có gì là sự thiếu thốn. Bởi ý ta hay nhàm chán, nên tất cả mới múa xoay, để cho ta vui tai lạ mắt ngơ ngác không dè, đặng tập rèn cho ta sợ khổ, chết, mất, không, mà dứt sự tham ác đê tiện, đặng làm cho ra giá trị của con lành, hột giống, của quí báu trong võ trụ. Hiểu như thế, ta mới vững tâm mà thấy rõ rằng: Ta không bao giờ bị bơ vơ sa thải, bàn tay khéo léo của võ trụ thân mến, vẫn đưa ra che chở cứu vớt ủng hộ ta luôn, và lần lần đưa ta lên tột cao êm ái, không còn phải sợ ngộp.
Cho đến khi ta được thành Phật rồi, thì cũng như viên ngọc để trong hộp quý, trên bàn thờ tôn kính, cất để đời đời, cho chúng sanh sau này bái vọng. Ấy tức là nhờ sự thay đổi vô thường, khéo hay không chán, giúp cho ta sự học kinh nghiệm để giữ cái ta, cái của ta, cái có, là cái thường của vô thường, cái vui trong sự khổ.
Cái khổ là tấm vách tường sau lưng đẩy tới, làm cho muôn loại chỉ phải tới chớ không lui. Ví bằng có kẻ ương ngạnh thụt lùi, té nhào bởi ác, mà sa vào lưới khổ, cho đến tiêu diệt mất hình, thì xác thân tâm hồn đó, sẽ đổi làm thành xác thân tâm hồn khác sau này.
Về thuyết có, thì cái chi cũng là có hết, hoặc đã có, hoặc đang có, hoặc chưa có, hoặc đã được rồi cái có đời đời. Các pháp cũng như vậy: pháp sẽ sanh, pháp đang sanh, pháp đã sanh rồi, còn sở chấp hay không còn sở chấp, hoặc nói hay nín, hoặc ẩn hoặc hiện, tùy nơi sở dụng, lúc nào nó cũng vẫn có, chớ chẳng thế gọi không. Cho đến sự bỏ qua, không ghi nhớ, đã quên rồi, hay chưa biết. Thời kỳ có Phật hay là thời chưa có Phật, hoặc có chúng sanh, hay chưa có chúng sanh, lúc nào pháp cũng vẫn có cả: Vì nếu pháp mà không có thì làm sao lại có kẻ đã tìm ra, đang tìm ra, hoặc chưa tìm ra, hoặc đã quên, không ghi nhớ! Bởi thế cho nên trong thế gian này ai ai cũng có thể tự lựa chọn cái hạnh phúc tốt đẹp tối cao, mà cần nên phải tránh xa các món xấu xí tai hại, để hưởng trọn quả phước trong sạch, thanh bai trắng trẻo.
Cái có thật là bao gồm tổng quát, và lại chia ra làm hai loại như: có thiện có ác, có còn có mất, có có có không, có địa ngục có thiên đường, có Niết-bàn có luân hồi, có sống có chết, có đến có đi, có tốt có xấu… tương đối! Bởi có mới có đặt tên, so sánh, nói chỉ viết ra. Thế nên một kẻ chấp có để tiến lần đến Niết-bàn rốt ráo, yên vui tốt đẹp. Nhờ chấp có mới cố gắng siêng năng, vượt lên từng bước một. Nhờ chấp có mới bỏ ác theo lành, mà đi tới cõi vui tuyệt đối. Khi đến cảnh tối cao ấy rồi họ không còn sự cố chấp vọng động, chớ cảnh ấy cũng vẫn có với họ; dầu họ cố quên hay là ngủ nhắm mắt, cảnh có ấy cũng chẳng mất đi đâu.
Cũng như không có cái có, thì đâu có mệt mà không mệt thì đâu có nghỉ ngơi, chơn như, vắng lặng. Không phải như sự giãi đãi mà nói liều không không, không có, không làm, không cần biết phải quấy gì cả, của kẻ đánh liều buông lung tội ác; để rồi sau này lại chịu khổ sầu. Mà thật ra cái có có, là sự gieo trồng giống tốt của kẻ siêng năng. Có khổ mới có vui, có cực mới có sướng, không còn biết khổ bởi đã quen khổ, vui trong cái khổ, nghỉ ngơi trong cái khổ. Nhận lấy cái vui tuyệt đãi của người, mà quên khổ nhọc của mình. Lánh xa điều ác, cần chuyên việc thiện, kẻ ấy mới thật thấy chánh đi đúng theo lẽ có; biết tạo lập cho mình và cõi đời, từ nay và mãi mãi về sau, trở nên một thế giới cực lạc sống chung, mà có mình trong ấy mỗi lúc.
Đi theo một chương trình thuyết có, kết cuộc sẽ thành công vĩ đại phi thường. Phật thánh xưa, nói không không, là tránh cho chúng sanh sự ác, sự khổ, chớ nào có cái không, không là ra làm sao? Nếu không sao các Ngài thành Phật, là đấng tối cao tột bực. Vậy ta chớ hiểu lầm câu nói ấy mà chấp không, để mãi thụt lùi chôn nhốt là lỗi tự mình.
Kìa như không nước là đã thành đất, không đất là đã thành cỏ cây, không cỏ cây là đã thành thú người, không thú người là đã trở thành Trời, không Trời là đã thành Phật, không ấy là tấn hóa bỏ thấp lên cao, gọi là không cái thấp, có cái cao, lẽ không ấy đặng cho đừng mến tiếc cái cũ xấu, mà ham cái tốt mới vậy. Cũng như có không quyến thuộc gia đình xã hội loài người, thì ta mới đến được cõi Trời Phật. Ấy như nghĩa không có vị ta, mới có vị người. Lý không ấy là sự dứt bỏ cái nhỏ, để đi đến cái lớn chớ không phải nói rằng Phật là không có thân tâm, chỗ ở, của cải y phục.
Phật là một siêu nhân cao cấp, thân Ngài là hình bóng khác với thân người, cũng như thân người khác với thân cây, thân cây khác với thân nước loãng, cho đến chỗ ở, của cải, y phục, tâm trí của mọi trình độ giới hạn đều khác nhau không giống, chớ vẫn có đủ điều mới được yên vui đằm thắm. Cảnh giới càng cao, càng thiện lành trong sạch, thì lại càng sung sướng khoái lạc thâm trầm, cái nặng nề khổ sở càng ngày nhẹ hết.
- Vì đâu mà có lẽ không?
- Bởi lẽ có! Chúng sanh vạn vật và các pháp là cái có. 
Cái có từ thấp tới cao, từ nhỏ tới lớn, từ nặng tới nhẹ… Nghĩa là cái có phải đi tới mãi. Bởi quan niệm của chúng sanh thiếu trí phán đoán, nhận lầm, đứng một chỗ hoặc thối lui, ác trược chịu khổ, nên mới có danh từ tương đối là không, không ác trược, không khổ; không cái không hôm nay và đã qua, không luyến ái không tự cao, không giữ gìn không bền vững.
Không tức là có vậy, nghĩa là không cái này là có cái kia, chớ chẳng phải cái không tuyệt đối.
Cho nên không ác khổ là Niết-bàn cực lạc, hay là có thiện vui cũng là Niết-bàn, cực lạc. Kẻ chấp có đến chơn như, thì người chấp không cũng đến chơn như không vọng động, không mê lầm, không cấu trược; không chúng sanh tức là chư Phật vậy. Kẻ chấp không không rốt ráo, tức là kẻ đã già, mệt, hưu trí, nín nghỉ rồi, rồi xong phận việc chẳng còn có cái gì nữa, nên gọi là không. Còn như trẻ nhỏ chưa làm, thiếu thốn đói khát, chưa rồi, nếu bảo không, ắt chẳng thể được, tất nhiên với kẻ nghèo túng là phải có vậy.
Thế nên Đức Phật có dạy rằng: Kẻ Thinh văn là học trò mới nghe dạy, phải không ác mà có thiện. Bậc Duyên giác phải không thiện mà có huệ. Bậc Bộ tát phải không huệ mà có chơn như. Đến bậc Như lai rồi cũng phải không có chơn như nữa, mới là Phật hoàn toàn. Không cái thấp có cái cao: Ấy là Phật chỉ nấc thang trên, mà bỏ tầng lớp dưới cho nên không và có, do tiếng đạo đức thốt ra, tùy sở chấp của chúng sanh, ông già trẻ nhỏ tương đối nhưng chỉ có một lý nghĩa là bỏ xấu lấy tốt, bỏ dở lấy hay mà thôi.
Vậy thì không ác hay là có thiện, vẫn là một, nào có khác chi? Có tức là không, không tức thiệt có, chẳng phải hai. Cái nào cũng Niết-bàn cả. Biết bao nhiêu kẻ tưởng lầm, có có, cái ác, là vui. Biết bao nhiêu kẻ tưởng lầm, không không, cái thiện, là khổ. Ấy bởi không thông chơn lý, chẳng rõ nhơn duyên, mãi sống trong vạn vật chôn nhốt phủ giăng cuồng vọng điên đảo! Do sở chấp của hai hạng đó, mới sanh ra lẽ có, lẽ không để giác ngộ. Nhưng nếu khi đã hiểu ra rồi, thì có không gì cũng được, miễn hết khổ là xong. Trình độ nào thì sở chấp nấy, có ai bảo ai theo như mình được? Cũng như học trò lớp chót và lớp nhứt, không thể hiểu biết bằng nhau. Ông già mà có có như trẻ nhỏ không được, trẻ nhỏ mà không không như ông già cũng không được; định luật tạo hóa, nhơn duyên như vậy, khó bề trái cãi.
Thuyết không cũng chẳng khác gì thuyết có! Tự nhiên sanh ra không, không ở trong tự nhiên! Không sanh ra khí và sanh chuyền ra nước, đất, lửa, gió, cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật.
Về thuyết không, thì không sanh ra có, và rồi có trở lại không (chấp theo hình thể) nên gọi không là bà mẹ, không là chơn lý lẽ thật. Chúng sanh, vạn vật, các pháp, cố cưỡng sanh ra là sái quấy, nên phải khổ. Hể cái chi có là ác, không là thiện. Không là Trời. Có là Đất. Không là vui, có là khổ! Lẽ không là phương pháp an ủi nhiệm mầu. Không là bàn tay cứu vớt biết bao kẻ bị chôn sâu, cái không là sự nghỉ ngừng tạm, để cho chúng sanh bớt mệt, ít ngán, đặng đi đường dài, đến mục đích. Có là đi, không là nghỉ; có là đạo, không là quả. Nhờ chấp không của mỗi chặng bực, nên mới đến được cõi tự nhiên chơn như. Đến nơi ấy chẳng còn không hay có; nghĩa là đã hết chấp. Bởi hết chấp nên nói có, không gì cũng được. Không là giáo lý chớ chẳng phải chơn lý, những ai níu lấy nó cũng được an ổn biết bao. Nhờ chấp không, mới dứt trừ được tham, sân, si, ngã mạn, cái ta mê muội.
Cái không cao hơn cái có. Không ác hơn có ác. Không khổ hơn có khổ. Không thân hơn có thân. Cũng như cái không là trên đầu, cái có là dưới chân. Nhưng nếu nói trái ngược lại có thiện hơn không thiện, có tu hơn không tu, có Phật hơn không Phật. Tuy là lời lẽ tương đối, nhưng cũng vẫn có một lý nghĩa, là bỏ thấp lên cao, chỉ có một đường.
Tiếng không có hai cách thông dụng nghĩa lý trái ngược như vầy:
1. Chấp không: nghĩa là không.
2. Không chấp: nghĩa là có.
Lại như câu nói:
Nhà không: là có nhà.
Không nhà: là không có nhà. 
Chữ tương đối mà nghĩa cũng tương đối, nhưng lý thì vẫn có một. Cũng như kẻ ác nói có đời, người thiện nói không đời. Kẻ ác nói đời không, người thiện nói đời có, kẻ ác nói không đời, người thiện nói có đời. Kẻ ác nói đời có, người thiện nói đời không. Tám câu ấy tuy hẳn khác nghĩa đối nhau, nhưng thật là một lý một, không phải quấy. Thế mới biết rằng: các sự luận biện là vẫn hiểu lầm; cho đến cả lý luận nay mai trong ngoài cũng như vậy cả thảy.
Cái không cũng có lợi và hại. Cái có cũng có lợi và hại. Không ác là kẻ làm ác mà không nhận tội. Không thiện là kẻ làm thiện mà không nhận phước. Có ác là kẻ không làm ác mà tự nhận lỗi. Có thiện là kẻ không làm thiện mà lại giả danh. Nghĩa ấy tuy ngược chọi với lẽ xuôi nhưng đúng hạp với tâm lý của chúng sanh lắm vậy. Không và có nghĩa lý nói không cùng…
Từ có ác đến không ác, và từ có thiện đến không thiện là giải thoát.
Ta nên nhận xét rằng: Một Đức Phật hay là trong khi ta nhập định, tuy ta không chú ý vào cái ta, để dứt sự phiền não, chớ cái ta trong lúc ấy vẫn đang có, nó đang nghỉ ngủ yên lặng. Từ cái thân trong không khí khó thấy (mà kẻ thường gọi là không), đến cái thân tướng hữu hình của tứ đại, sau lại, khi thành Phật, thể tứ đại bỏ, thì còn thân của hình bóng khó thấy. Nên có kẻ nói không đến, không đi, không về; chớ chẳng biết được rằng: Lúc nào thân cũng vẫn có, mà nó phải khác nhau ở mỗi cảnh giới. Lại bởi quả địa cầu lăn xoay, mọi vật vô thường thay đổi, có tương đối, âm dương hóa sanh vạn vật chúng sanh, nên người hết khổ vì chấp có, lại té ngã qua lề không. Khiến nên không và có là hai bờ lề, chúng sanh mãng ngó qua xem lại cái nào cũng phải, lẽ nào cũng hay, khó nỗi biện phân, nên không trông thấy đạo, không lìa một chỗ. Cái khổ chẳng rời.
Chớ chi người ta chịu hiểu rằng: Cái có là chân, cái không là đầu, cái trung là ở giữa, trung mới là đạo là mình, cái mình là chỗ nuôi sống, chẳng rời đầu và chân, gồm cả ba phần ấy, mới gọi một thân sống. Nếu nói đầu không, thì xa chân CÓ quá, khó sống. Nếu nói chân có, thì xa đầu KHÔNG quá, ắt khó sống. Bằng nói mực giữa trung thì gần cả dưới trên, cũng như có thức có ngủ, có làm có nghỉ, có sống có chết, thì chúng sanh khỏi bị khổ, vì thái quá và bất cập, mà sanh mãi vọng tâm, lại dễ chịu hơn. Nhưng nếu chấp trung đi chánh giữa, như kẻ thiếu đầu thiếu chân, chỉ có mình thì cũng không sống đặng. Như kẻ bị ép ngặt hai bên, thì chết giẹp hết thở. Thế nghĩa là: cũng không phải chấp trung, mà gọi là đạo được. Vì có ai bị kềm trói đi ngay hoài mà chịu nổi; âu là phương tiện, qua một chút cũng được, lại một chút cũng xong, mực giữa càng tốt gồm cả ba mới là đạo. Vậy ta thấy rằng: không thể thiếu một bên hay khoảng giữa, không thể xẻ hai hay phân ba, mà phải chung hiệp mới là thể một, có sống. Như vậy vô chấp thì hơn; có, không, hay trung có ích lợi gì! Còn chấp là còn ý. Ý đâu có định; nói xuôi nói ngược, biết đâu nhiều khi ta nói phản với ta, tự dối lấy mình!
Nếu đã nói có, không và trung, gồm một, thể sống, thì thể sống ấy là có chớ nào phải không? Chơn là không khổ, vọng là có khổ, vui khổ tại nơi thiện ác, chấp cùng vô chấp, ta hiểu như thế cũng đủ rồi! Ác là nặng, thiện là nhẹ, huệ là dứt bỏ, chơn là tự nhiên, âu là ta hãy tự nhiên, có chẳng hơn không? Tự nhiên của kẻ dốt là khổ, tự nhiên của kẻ học là vui! Vậy sau khi lầm lạc, đã được học rồi, ta hãy tự nhiên cho vui là quý hơn hết.
Có để đặng: "Chân-Như", không để đặng: "Chân-Như", trung để đặng "Chân-Như", chấp gồm ba pháp để đến "Chân-như" không chấp cũng "Chân-như". Chân-Như mới sự thật là có, Chân-Như mới sự thực là không, Chân-Như mới sự thật là trung, Chân-như mới sự thật là ta, là Phật. Vậy ta chỉ cần biết chân như là đủ, nhờ "các pháp" ấy, ta mới đến với Chân-Như, thấy rõ rồi thì cứ hãy đi để tới, chớ khỏi cần: ngó lại và nương theo ngón tay chỉ...nữa vậy ! Kẻ mà giác ngộ, chân như rồi, thì giải thoát ra khỏi tất cả "cố chấp" không còn giả vọng, nên gọi là Chân như, toàn giác, trọn sáng, trọn lành.
Nói tóm lại: Có, Không, "Trung" là Phật Pháp để mở trí, cho người thấp kém nhỏ nhen. Có, Không, "Trung", là vũ trụ bao gồm có sẵn như quyển sách, trí ta như cặp mắt để xem nhìn cho thấy tỏ rõ, đặng yên sống và hưởng dùng, mới được no vui ích lợi.
Trước có pháp mới có lý trí, và sau này có lý trí mới có Pháp. Nhờ Pháp, Tăng già là chúng sanh mới thấy Phật là "chân-như" giác ngộ. Phật là chỗ đến của Tăng già, nhờ Pháp, khi đến rồi thì Pháp không còn dùng. Ấy vậy Pháp Có, Không, Trung là quý báu, của cải của chúng ta; không có nó, tâm ta chẳng bao giờ đầy đủ cứng già, ... chín muồi được ! Cũng như cơm là món ăn của thân, Pháp là mùi vị ngon thơm của tâm. Ai ai sống đời cũng nhờ Pháp bảo, Pháp bảo là thầy của Phật, là thầy của Tăng Già và chúng sanh. Vậy nên chúng ta mau mở tâm trí ra mà chứa đựng Pháp bảo.
Vì trong đời, Pháp bảo là quý hơn hết.

Tổ sư Minh Đăng Quang.
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
@@@

Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
CÓ và KHÔNG
Trang 81-94 (Chơn lý số 06)
VŨ TRỤ, hay cũng tức là vô minh, lắm kẻ gọi nó là: không ! Không gian, tức là vũ trụ. Trong vũ trụ gồm có :
1. Vạn vật là tứ đại.
2. Chúng sanh là ý thức nhận biết.
3. Và "Các pháp" của chúng sanh, đối với vạn vật.
"Các pháp" là bao hàm gm tt c s làm, li nói, ý tưởng, tình cm, th nhn, lý trí, biến hóa; các s thay đi, cử động, tác dng, giáo lý, v.v... Vn vt, chúng sanh và các phương pháp, là "cái có" đang  trong "cái không".
Vạn vật là xác thân, chúng sanh là sự sống và "Các pháp" là thức cần dùng để nuôi vạn vật và chúng sanh (tức xác thân và sự sống). Tính chất của Các pháp là hữu lý và hữu sự, hữu sự để nuôi thân, hữu lý để nuôi trí. Lý có ác có thiện, sự cũng có thiện có ác.
Từ khi có bậc Phật toàn giác, vì sự khổ của chúng sanh bởi có và không, thiện và ác, lý trí và sự việc, Phật mới chỉ ra thêm pháp giải thoát kêu là đạo. Và đối với chúng sanh, mỗi tên gọi cùng sắc hình của vạn vật, đức Phật nói ra nhiều phương tiện của trí huệ, để giác ngộ, nên cũng gọi là "Các pháp".
"Các pháp": là phương pháp, lý lẽ, cách thế:
a) Các pháp của xác thân là việc làm.
b) Các pháp của lý trí là lời nói.
c) Các pháp của tâm, là sự thọ tưởng. 
Việc làm: sanh sự nghiệp của cải.  Lời nói: sanh trí huệ, đạo lý. Thọ tưởng: sanh thần thông, quả linh. 
Các pháp bao hàm: hình thể, tướng tính, hữu dụng, lý tính. Hình thể của các pháp là cái có hình dạng. Tướng tính của các pháp, là sự khác nhau của hình dạng. Hữu dụng của các pháp là tác dụng, cử động, sanh sống ích lợi của hình thể và tướng tính. Lý tính của các pháp là sự hư hay nên, còn hay mất, có hay không, tốt hay xấu, sạch hay dơ, thấp hay cao, đen hay trắng.
"Các Pháp" vốn là không có, bởi có chúng sanh tiếp xúc đối với vạn vật, vì tríu mê, vì khổ sở, mới có "Các Pháp", nên gọi là "Các pháp" tánh vốn không, hay gọi là nguồn gốc của Các pháp là không có "tự tánh". Bởi chúng sanh tríu mê và lăn nhào trong vạn vật, sanh ra "Các pháp" ác trược để phải khổ sầu ! Cho nên chư Phật mới bày ra "cái pháp thánh thiện" để giải thoát khổ sầu ấy vậy...Dẫu biết rằng: chúng sanh từ nơi vạn vật sanh ra, nhưng nếu ở giữ mãi trong vạn vật, có khác nào ở mãi trong địa ngục của thai bào, tránh đâu cho khỏi sự khổ đau ? Nên "Các Pháp" của Phật dạy là: giải thoát khổ, là tiến hóa, bỏ sự vật vượt lên cao, trên không, của lý trí ; gọi là bỏ vật chất đến với tinh thần, xa lìa xác thân sống bằng lý trí; nghĩa là coi xác thân như không có, như chết rồi, hay là chết rồi thì không trở lại, bằng có trở lại, là vì sự ích lợi cho chúng sanh, chớ đừng tham mến xác thân, mà phải ác trược, gian tà, khổ đau, lo âu, sợ sệt...Mà thật vậy, sống ác tà, khổ sở, nặng nề, thấp hèn như trẻ con, thì sự sống có quý ích gì ? Ngược lại, sống theo lý lẽ của thiện lành và chân chánh, yên vui, cao nhẹ, ích lợi như người lớn, ông già, thì ai lại chẳng mong cầu được sống ? Đó là giá trị của con người, giá trị ấy tức là "Các pháp", pháp bảo trừ pháp hại, pháp quý báu trừ pháp độc hại. Đành rằng: nếu không có vật chất trước, ắt chẳng có tinh thần sau, không xác thân nào có lý trí ? Không xác thân có đâu cái sống ? Nhưng xét lại kỹ lưỡng, thì sau khi chết xác thân vật chất mất rồi ! Lúc ấy chúng ta chỉ còn có lý trí, có tinh thần, có cái sống, đã già mà thôi. (Trang 82) Kìa như cây, lá, hoa, quả, là để hun đúc cho hột của cây; cây, lá, hoa, quả hết, chớ cái hột của trái cây hãy còn để gieo giống. Thì xác thân vật chất của chúng ta cũng vậy, thân xác của chúng ta, có là để nuôi tâm hồn, tâm hồn có, tâm hồn không, tâm hồn sống; tâm linh là hột giống của loài người; đúng lý lẽ thì chúng ta phải lo nuôi nó hơn là xác thân vật chất tạm bợ. Tiếc vạn vật mà chi cho phải khổ, chẳng là vô ích lắm thay ? 
"Các pháp" thường làm cho chúng ta bị say mê, độc ác, khổ phạt lấy mình.
Vạn vật là thân phàm tục, chúng sanh là tâm phàm tục, các pháp ác là trí phàm tục. Ví bằng chúng ta còn muốn được giữ ba cái ấy, thì nên đổi nó ra thành phẩm chất tốt đẹp hơn, rồi sẽ thương yêu gìn giữ nó vậy !
Thân thể con người có ba phần: Tham lam là chân ác, sân giận là thân mình ác, si mê là cái đầu ác, ba phần ấy hiệp lại là cái thân ác. Còn như giới luật là cái chơn thiện, thiền định như là cái thân mình thiện, trí huệ như là cái đầu của sự thiện lành, ba phần ấy hiệp lại là cái thân thể của sự thiện lành. Có sự giữ gìn giới luật thì vạn vật mới nên tốt đẹp, có thiền định thì chúng sanh mới nên sống đời. Có trí huệ thì "Các pháp" mới nên trọn lành trong sạch. Giới luật, thiền định, trí huệ là một thân hình tốt đẹp của "cái có", xứng đáng có sự yên vui. Chúng ta cần phải giữ "cái có", của "giới luật, thiền định, trí huệ" ấy, bởi nó là chơn lý của vũ trụ, nó là ý muốn của "cái không", vì "cái không" là bà mẹ chung, tức là "trái đất" nằm trong không gian và vũ trụ của chúng ta.
Tham lam, sân giận và si mê là không (bởi khổ đau). Giới luật, Thiền định và Trí huệ là có (bởi vui). Bởi lý lẽ của sự khổ đau là trái ngược, lý lẽ của sự vui vẻ là hoà thuận, là đi tới ! Vậy nên, chơn lý của vũ trụ là tiến tới, thì "giới luật, thiền định, trí huệ" là cái kết quả của không gian và thời gian, kết tinh lại các điều thuần túy, mà làm thành đứa con ngoan là Phật. Chính Phật mới có được thân của giới luật, thân của thiền định, thân của trí huệ, một nhân vật quý nhất trong đời, là người đắc đạo của vũ trụ. Vạn vật, chúng sanh và các pháp sẽ do nơi Ngài chăm sóc, thay thế cho quyền tạo hóa hư vô, hưởng lấy kho tàng bất tận. Về "thuyết có" chỉ ra rằng: tự nhiên là "cái có" và sự sống, "cái không" là có, và sự sống; khí, thủy, địa, hỏa là sự tồn tại của sự sống. Cho đến các pháp giữa vạn vật và chúng sanh, cũng là "cái có" và sống mãi. Trong vũ trụ không có cái gì là chết và không cả ! Sự thay đổi khi vầy khi khác, là bởi sức lực tự động của nó.
Sự sống của mọi sự vật cũng như cái bộ máy của đồng hồ, chấm dứt vòng quay của cây kim giây là vặn lại. Mạnh rồi yếu, yếu rồi mạnh, mỗi một lần thay đổi là tiến tới một khoảng đường; cũng như buổi sáng mai sẽ hơn với chiều nay, kiếp tới sẽ hơn đời này.
Trong thế gian, bằng không có sự vô thường, ẩn, hiện, tương đối thì không bao giờ có cái thường và tuyệt đối. Nếu không có thường và tuyệt đối, thì chúng sanh chẳng bao giờ được hạnh phúc kết quả tốt đẹp tối cao. Vậy nên, vô thường và tương đối: là tiến hóa, là không khổ, là có, là sống đời đời, là thiện, là huệ, là "chơn lý".
Chúng ta chắc không ai ưa sự tự dối lấy chính mình, là để cho lời nói phản ngược sự hành động, mà vội phê bình, phê phán, hoặc chỉ trích, hoặc chê bai, hay khen ngợi một sự việc nào, thích hợp hay không thuận hợp với lý lẽ và ý nguyện của mình trong hôm nay, mà quên nghĩ đến ngày mai ! Không biết trước nó sẽ thế nào ? 
Than ôi ! Chúng sanh chỉ vì bị những cái tham lam, vì không thỏa mãn, mà lúc nào cũng giẫy giụa, than van cho rằng tạo hóa khắt khe gàn trở, lại gọi chơn lý chẳng công bằng, mà không hay chịu nhận sự lầm dốt của chính mình.
Kìa như, vũ trụ là bà mẹ chung của chúng sanh đã phát sanh ra tất cả chúng ta, nuôi, dạy, cứu, đỡ và nâng chúng ta lên, chớ nào giết hại. Ví như người kia có mua một cái ly tốt; về sau cái ly ấy bị bể hoặc mất cắp, người rất buồn rầu. Sau đó...những ngày ! Người lại ra chợ mua một cái ly khác, cũng giống như vậy mà tốt đẹp hơn, người lại vui hơn. Mà cũng nhờ sự mất mát và đổ vỡ ấy, trong đêm đó, người tránh được sự chết là bởi có kẻ trộm muốn giết người để đoạt cái ly, nhưng vì sự đổ vỡ hoặc mất mát vào buổi chiều, nên kẻ trộm kia đã tha cho tánh mạng...Lại cũng như vầy nữa ! Nhờ cái ly đổ vỡ hoặc mất mát ấy, mà người sẽ đi đến chỗ bán đồ mỹ thuật, nên kiến thức được mở mang, mà gặp được nhiều món khác tốt hơn. Và sự việc đó đem lại cho người bài học rằng: đừng ôm giữ mãi một món đồ của ta, mà phải khổ và thua kém người. Đã thiệt thòi với cái xấu, mà còn nguy chết cả sanh mạng. Cái ly đâu có mất, nó chỉ đổi hình đổi chỗ mà thôi. Sự đổi dời ấy để cho chúng ta tiến hóa, để cho chúng ta đừng tham lam, đừng đau khổ, và khỏi phải bị ai vì tham ác mà giết hại chúng ta. Sự mất mát hoặc đổ bể ấy, chỉ lừa gạt kẻ tham ác, chớ nào nó có bỏ lìa chúng ta ! Vì cái ly này tuy bể vỡ hoặc mất mát, nhưng hình tướng nó vẫn còn trong trí óc chúng ta, chúng ta sẽ đi mua, cùng nhau mua sắm tạo lại cái khác, tốt đẹp hay hơn, tức là nó còn đó, trở lại đó...Nhờ sự mất mát hay vẫn còn đó, mà chúng ta mới có đủ tài trí và đức hạnh, là sự khỏi cất giữ cái của mình, mà cái của mình bao giờ cũng vẫn có còn ở nơi mình ! Như vậy thì tham lam mà chi ? Khổ ác hay ích kỷ mà làm gì ? Chẳng là dốt nát hay lầm lạc lắm thay ?
Vậy ta nên nhớ rằng: ta có đủ hết, và đồ vật không bao giờ lìa xa ta dầu trong những đời này và đời khác, ta hãy suy nghĩ xét kỹ, mà khoan lo sợ, và tự nói rằng: Ai dám bảo của ta là không có, cho đến cái ta, ta tức là thiệt, chắc, có, sống đời kia mà đâu phải giả, đâu phải chết, nó chỉ thay đổi, để đừng nhàm chán, đừng khổ, đừng ác đó thôi!
Cũng như một người nghèo khó kia, trong cơn bịnh nặng biết mình chết, mới suy nghĩ rằng: Ta có nên muốn sống nữa chăng? Nếu muốn sống ta phải làm ác, cướp của giết người. Muốn hết nghèo khổ chăng? Nếu muốn sung sướng thì đừng thương ai, hơn là thương thân mình! Nhưng xét lại bịnh quá nặng, việc ấy không thể làm; người mới suy nghĩ nữa: vậy sau khi chết ta sẽ còn gì? Có gì? Và đi ở đâu? Thấy ra các hạng người cùng khổ trong thế gian mà người rất sợ. Nhớ lại mấy người giàu sang, người định sẽ đi nhập thai những chỗ đó, và yên trí rằng, khi người làm con kẻ giàu có, người sẽ không tham, không làm ác, người phải bố thí, làm các việc từ thiện phước lành, để cho thiên hạ nhờ cậy và thương yêu, người mới giữ chắc được sự sống yên vui và trong sạch. Có như vậy hôm nay người phát tâm hoan lạc, mong chết cái nghèo, để đến cái sống giàu sang, và mỗi kiếp mỗi tiến lên như vậy, cho đến bậc Trời và Phật, mà người không cho rằng có sự chết, chỉ là bỏ cái dốt nát lạc lầm, bỏ điều tham ác khổ hại đó thôi. Người không thể tin rằng: Không có cái ta, hay là cái ta thụt lùi; cho đến các pháp cũng vẫn là có, có chắc thật, có nẩy nở, có trường tồn.
Kìa như một ông thầy giáo, đem hết sự học của mình mười quyển sách, dạy lại cho một người học trò. Ông đã già, sắp chết, và trối với học trò, khuyên phải ăn ở hiền lương theo gương ông, và nên đem sự học của mười quyển sách ấy, mà dạy trao lại cho đứa con sắp sanh ra. Chính đứa con ấy là ông, sẽ nhập thai trở lại vậy.
Lại ông đưa tiền ra, bảo dở nhà cũ bỏ, mà cất lại nhà mới tốt, với đồ đạt dọn về nhà mới, và sắm thêm; rủ thêm quyến thuộc tới ở cho đông, để cùng nhau lo tu học. Việc làm ấy không tin rằng nó mất, ông quyết giữ một địa vị mãi, giữ một miếng đất mãi, giữ quyến thuộc và giữ luôn sự học hành. Ngày sau ông sanh ra trong miếng đất đó, nhà đó, của cải đó, quyến thuộc đó, gặp sự học mười quyển sách đó, ở chỗ hiền lương đó, mà càng tấn hóa lên cao, nhiều, lớn, hay hơn nữa. Ông nhận thấy rằng: nay tuổi ông sáu mươi, học hành của ông được có bấy nhiêu; chớ đời sau, khi ông được hai mươi tuổi, thì sự học hành được ngang như bây giờ, và đến khi già, thì ông học thêm được ít lắm cũng hai mươi quyển sách nữa. Như vậy là mỗi kiếp mỗi tấn hóa đi lên, vừa học vừa nghĩ, vừa gởi gắm lại cho kẻ khác, để cất cho mình về sau. Ông ấy biết lập xã hội đạo đức để dung thân, sắm cửa nhà để sẵn cho mình! Thật là kẻ biết rõ thấy xa cái có, cái còn, cái sống, cái ta của ta, cái pháp. Nào ai có quyền gì ép buộc phá hại kẻ hiền lương, mà gọi là không hòng làm cho không! Dầu không bây giờ, nhưng ngày sau cũng vẫn có lại, mà vinh quang hơn nữa, chớ chẳng thiệt thòi.
Ấy cho nên kẻ giác ngộ rồi, không có khổ. Cũng không lo sợ, gian ác gì cả. Bởi người thiện rất an tâm mà cho rằng: thời gian vẫn đưa trôi người đi tới, càng tới, tới nơi cùng tột là Niết-bàn. Thế nên người từ bi hỷ xả lắm, chẳng biết giận buồn ai và bỏ ghét ai.
Vậy thì người ở đời, chơn lý vốn sẵn chỉ rằng: ngủ là để thức, nghỉ là để làm, nín để nói, chết để sống, không để có, mất để còn… Đời là trường học tập, võ trụ tạo hóa như ông cha bà mẹ, chúng sanh như anh em, vạn vật là của cải, các pháp ấy món ăn. Kho tàng chỗ sẵn, của đầy, cung cấp gìn giữ sẵn cho ta, đâu có gì là sự thiếu thốn. Bởi ý ta hay nhàm chán, nên tất cả mới múa xoay, để cho ta vui tai lạ mắt ngơ ngác không dè, đặng tập rèn cho ta sợ khổ, chết, mất, không, mà dứt sự tham ác đê tiện, đặng làm cho ra giá trị của con lành, hột giống, của quí báu trong võ trụ. Hiểu như thế, ta mới vững tâm mà thấy rõ rằng: Ta không bao giờ bị bơ vơ sa thải, bàn tay khéo léo của võ trụ thân mến, vẫn đưa ra che chở cứu vớt ủng hộ ta luôn, và lần lần đưa ta lên tột cao êm ái, không còn phải sợ ngộp.
Cho đến khi ta được thành Phật rồi, thì cũng như viên ngọc để trong hộp quý, trên bàn thờ tôn kính, cất để đời đời, cho chúng sanh sau này bái vọng. Ấy tức là nhờ sự thay đổi vô thường, khéo hay không chán, giúp cho ta sự học kinh nghiệm để giữ cái ta, cái của ta, cái có, là cái thường của vô thường, cái vui trong sự khổ.
Cái khổ là tấm vách tường sau lưng đẩy tới, làm cho muôn loại chỉ phải tới chớ không lui. Ví bằng có kẻ ương ngạnh thụt lùi, té nhào bởi ác, mà sa vào lưới khổ, cho đến tiêu diệt mất hình, thì xác thân tâm hồn đó, sẽ đổi làm thành xác thân tâm hồn khác sau này.
Về thuyết có, thì cái chi cũng là có hết, hoặc đã có, hoặc đang có, hoặc chưa có, hoặc đã được rồi cái có đời đời. Các pháp cũng như vậy: pháp sẽ sanh, pháp đang sanh, pháp đã sanh rồi, còn sở chấp hay không còn sở chấp, hoặc nói hay nín, hoặc ẩn hoặc hiện, tùy nơi sở dụng, lúc nào nó cũng vẫn có, chớ chẳng thế gọi không. Cho đến sự bỏ qua, không ghi nhớ, đã quên rồi, hay chưa biết. Thời kỳ có Phật hay là thời chưa có Phật, hoặc có chúng sanh, hay chưa có chúng sanh, lúc nào pháp cũng vẫn có cả: Vì nếu pháp mà không có thì làm sao lại có kẻ đã tìm ra, đang tìm ra, hoặc chưa tìm ra, hoặc đã quên, không ghi nhớ! Bởi thế cho nên trong thế gian này ai ai cũng có thể tự lựa chọn cái hạnh phúc tốt đẹp tối cao, mà cần nên phải tránh xa các món xấu xí tai hại, để hưởng trọn quả phước trong sạch, thanh bai trắng trẻo.
Cái có thật là bao gồm tổng quát, và lại chia ra làm hai loại như: có thiện có ác, có còn có mất, có có có không, có địa ngục có thiên đường, có Niết-bàn có luân hồi, có sống có chết, có đến có đi, có tốt có xấu… tương đối! Bởi có mới có đặt tên, so sánh, nói chỉ viết ra. Thế nên một kẻ chấp có để tiến lần đến Niết-bàn rốt ráo, yên vui tốt đẹp. Nhờ chấp có mới cố gắng siêng năng, vượt lên từng bước một. Nhờ chấp có mới bỏ ác theo lành, mà đi tới cõi vui tuyệt đối. Khi đến cảnh tối cao ấy rồi họ không còn sự cố chấp vọng động, chớ cảnh ấy cũng vẫn có với họ; dầu họ cố quên hay là ngủ nhắm mắt, cảnh có ấy cũng chẳng mất đi đâu.
Cũng như không có cái có, thì đâu có mệt mà không mệt thì đâu có nghỉ ngơi, chơn như, vắng lặng. Không phải như sự giãi đãi mà nói liều không không, không có, không làm, không cần biết phải quấy gì cả, của kẻ đánh liều buông lung tội ác; để rồi sau này lại chịu khổ sầu. Mà thật ra cái có có, là sự gieo trồng giống tốt của kẻ siêng năng. Có khổ mới có vui, có cực mới có sướng, không còn biết khổ bởi đã quen khổ, vui trong cái khổ, nghỉ ngơi trong cái khổ. Nhận lấy cái vui tuyệt đãi của người, mà quên khổ nhọc của mình. Lánh xa điều ác, cần chuyên việc thiện, kẻ ấy mới thật thấy chánh đi đúng theo lẽ có; biết tạo lập cho mình và cõi đời, từ nay và mãi mãi về sau, trở nên một thế giới cực lạc sống chung, mà có mình trong ấy mỗi lúc.
Đi theo một chương trình thuyết có, kết cuộc sẽ thành công vĩ đại phi thường. Phật thánh xưa, nói không không, là tránh cho chúng sanh sự ác, sự khổ, chớ nào có cái không, không là ra làm sao? Nếu không sao các Ngài thành Phật, là đấng tối cao tột bực. Vậy ta chớ hiểu lầm câu nói ấy mà chấp không, để mãi thụt lùi chôn nhốt là lỗi tự mình.
Kìa như không nước là đã thành đất, không đất là đã thành cỏ cây, không cỏ cây là đã thành thú người, không thú người là đã trở thành Trời, không Trời là đã thành Phật, không ấy là tấn hóa bỏ thấp lên cao, gọi là không cái thấp, có cái cao, lẽ không ấy đặng cho đừng mến tiếc cái cũ xấu, mà ham cái tốt mới vậy. Cũng như có không quyến thuộc gia đình xã hội loài người, thì ta mới đến được cõi Trời Phật. Ấy như nghĩa không có vị ta, mới có vị người. Lý không ấy là sự dứt bỏ cái nhỏ, để đi đến cái lớn chớ không phải nói rằng Phật là không có thân tâm, chỗ ở, của cải y phục.
Phật là một siêu nhân cao cấp, thân Ngài là hình bóng khác với thân người, cũng như thân người khác với thân cây, thân cây khác với thân nước loãng, cho đến chỗ ở, của cải, y phục, tâm trí của mọi trình độ giới hạn đều khác nhau không giống, chớ vẫn có đủ điều mới được yên vui đằm thắm. Cảnh giới càng cao, càng thiện lành trong sạch, thì lại càng sung sướng khoái lạc thâm trầm, cái nặng nề khổ sở càng ngày nhẹ hết.
- Vì đâu mà có lẽ không?
- Bởi lẽ có! Chúng sanh vạn vật và các pháp là cái có. 
Cái có từ thấp tới cao, từ nhỏ tới lớn, từ nặng tới nhẹ… Nghĩa là cái có phải đi tới mãi. Bởi quan niệm của chúng sanh thiếu trí phán đoán, nhận lầm, đứng một chỗ hoặc thối lui, ác trược chịu khổ, nên mới có danh từ tương đối là không, không ác trược, không khổ; không cái không hôm nay và đã qua, không luyến ái không tự cao, không giữ gìn không bền vững.
Không tức là có vậy, nghĩa là không cái này là có cái kia, chớ chẳng phải cái không tuyệt đối.
Cho nên không ác khổ là Niết-bàn cực lạc, hay là có thiện vui cũng là Niết-bàn, cực lạc. Kẻ chấp có đến chơn như, thì người chấp không cũng đến chơn như không vọng động, không mê lầm, không cấu trược; không chúng sanh tức là chư Phật vậy. Kẻ chấp không không rốt ráo, tức là kẻ đã già, mệt, hưu trí, nín nghỉ rồi, rồi xong phận việc chẳng còn có cái gì nữa, nên gọi là không. Còn như trẻ nhỏ chưa làm, thiếu thốn đói khát, chưa rồi, nếu bảo không, ắt chẳng thể được, tất nhiên với kẻ nghèo túng là phải có vậy.
Thế nên Đức Phật có dạy rằng: Kẻ Thinh văn là học trò mới nghe dạy, phải không ác mà có thiện. Bậc Duyên giác phải không thiện mà có huệ. Bậc Bộ tát phải không huệ mà có chơn như. Đến bậc Như lai rồi cũng phải không có chơn như nữa, mới là Phật hoàn toàn. Không cái thấp có cái cao: Ấy là Phật chỉ nấc thang trên, mà bỏ tầng lớp dưới cho nên không và có, do tiếng đạo đức thốt ra, tùy sở chấp của chúng sanh, ông già trẻ nhỏ tương đối nhưng chỉ có một lý nghĩa là bỏ xấu lấy tốt, bỏ dở lấy hay mà thôi.
Vậy thì không ác hay là có thiện, vẫn là một, nào có khác chi? Có tức là không, không tức thiệt có, chẳng phải hai. Cái nào cũng Niết-bàn cả. Biết bao nhiêu kẻ tưởng lầm, có có, cái ác, là vui. Biết bao nhiêu kẻ tưởng lầm, không không, cái thiện, là khổ. Ấy bởi không thông chơn lý, chẳng rõ nhơn duyên, mãi sống trong vạn vật chôn nhốt phủ giăng cuồng vọng điên đảo! Do sở chấp của hai hạng đó, mới sanh ra lẽ có, lẽ không để giác ngộ. Nhưng nếu khi đã hiểu ra rồi, thì có không gì cũng được, miễn hết khổ là xong. Trình độ nào thì sở chấp nấy, có ai bảo ai theo như mình được? Cũng như học trò lớp chót và lớp nhứt, không thể hiểu biết bằng nhau. Ông già mà có có như trẻ nhỏ không được, trẻ nhỏ mà không không như ông già cũng không được; định luật tạo hóa, nhơn duyên như vậy, khó bề trái cãi.
Thuyết không cũng chẳng khác gì thuyết có! Tự nhiên sanh ra không, không ở trong tự nhiên! Không sanh ra khí và sanh chuyền ra nước, đất, lửa, gió, cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật.
Về thuyết không, thì không sanh ra có, và rồi có trở lại không (chấp theo hình thể) nên gọi không là bà mẹ, không là chơn lý lẽ thật. Chúng sanh, vạn vật, các pháp, cố cưỡng sanh ra là sái quấy, nên phải khổ. Hể cái chi có là ác, không là thiện. Không là Trời. Có là Đất. Không là vui, có là khổ! Lẽ không là phương pháp an ủi nhiệm mầu. Không là bàn tay cứu vớt biết bao kẻ bị chôn sâu, cái không là sự nghỉ ngừng tạm, để cho chúng sanh bớt mệt, ít ngán, đặng đi đường dài, đến mục đích. Có là đi, không là nghỉ; có là đạo, không là quả. Nhờ chấp không của mỗi chặng bực, nên mới đến được cõi tự nhiên chơn như. Đến nơi ấy chẳng còn không hay có; nghĩa là đã hết chấp. Bởi hết chấp nên nói có, không gì cũng được. Không là giáo lý chớ chẳng phải chơn lý, những ai níu lấy nó cũng được an ổn biết bao. Nhờ chấp không, mới dứt trừ được tham, sân, si, ngã mạn, cái ta mê muội.
Cái không cao hơn cái có. Không ác hơn có ác. Không khổ hơn có khổ. Không thân hơn có thân. Cũng như cái không là trên đầu, cái có là dưới chân. Nhưng nếu nói trái ngược lại có thiện hơn không thiện, có tu hơn không tu, có Phật hơn không Phật. Tuy là lời lẽ tương đối, nhưng cũng vẫn có một lý nghĩa, là bỏ thấp lên cao, chỉ có một đường.
Tiếng không có hai cách thông dụng nghĩa lý trái ngược như vầy:
1. Chấp không: nghĩa là không.
2. Không chấp: nghĩa là có.
Lại như câu nói:
Nhà không: là có nhà.
Không nhà: là không có nhà. 
Chữ tương đối mà nghĩa cũng tương đối, nhưng lý thì vẫn có một. Cũng như kẻ ác nói có đời, người thiện nói không đời. Kẻ ác nói đời không, người thiện nói đời có, kẻ ác nói không đời, người thiện nói có đời. Kẻ ác nói đời có, người thiện nói đời không. Tám câu ấy tuy hẳn khác nghĩa đối nhau, nhưng thật là một lý một, không phải quấy. Thế mới biết rằng: các sự luận biện là vẫn hiểu lầm; cho đến cả lý luận nay mai trong ngoài cũng như vậy cả thảy.
Cái không cũng có lợi và hại. Cái có cũng có lợi và hại. Không ác là kẻ làm ác mà không nhận tội. Không thiện là kẻ làm thiện mà không nhận phước. Có ác là kẻ không làm ác mà tự nhận lỗi. Có thiện là kẻ không làm thiện mà lại giả danh. Nghĩa ấy tuy ngược chọi với lẽ xuôi nhưng đúng hạp với tâm lý của chúng sanh lắm vậy. Không và có nghĩa lý nói không cùng…
Từ có ác đến không ác, và từ có thiện đến không thiện là giải thoát.
Ta nên nhận xét rằng: Một Đức Phật hay là trong khi ta nhập định, tuy ta không chú ý vào cái ta, để dứt sự phiền não, chớ cái ta trong lúc ấy vẫn đang có, nó đang nghỉ ngủ yên lặng. Từ cái thân trong không khí khó thấy (mà kẻ thường gọi là không), đến cái thân tướng hữu hình của tứ đại, sau lại, khi thành Phật, thể tứ đại bỏ, thì còn thân của hình bóng khó thấy. Nên có kẻ nói không đến, không đi, không về; chớ chẳng biết được rằng: Lúc nào thân cũng vẫn có, mà nó phải khác nhau ở mỗi cảnh giới. Lại bởi quả địa cầu lăn xoay, mọi vật vô thường thay đổi, có tương đối, âm dương hóa sanh vạn vật chúng sanh, nên người hết khổ vì chấp có, lại té ngã qua lề không. Khiến nên không và có là hai bờ lề, chúng sanh mãng ngó qua xem lại cái nào cũng phải, lẽ nào cũng hay, khó nỗi biện phân, nên không trông thấy đạo, không lìa một chỗ. Cái khổ chẳng rời.
Chớ chi người ta chịu hiểu rằng: Cái có là chân, cái không là đầu, cái trung là ở giữa, trung mới là đạo là mình, cái mình là chỗ nuôi sống, chẳng rời đầu và chân, gồm cả ba phần ấy, mới gọi một thân sống. Nếu nói đầu không, thì xa chân CÓ quá, khó sống. Nếu nói chân có, thì xa đầu KHÔNG quá, ắt khó sống. Bằng nói mực giữa trung thì gần cả dưới trên, cũng như có thức có ngủ, có làm có nghỉ, có sống có chết, thì chúng sanh khỏi bị khổ, vì thái quá và bất cập, mà sanh mãi vọng tâm, lại dễ chịu hơn. Nhưng nếu chấp trung đi chánh giữa, như kẻ thiếu đầu thiếu chân, chỉ có mình thì cũng không sống đặng. Như kẻ bị ép ngặt hai bên, thì chết giẹp hết thở. Thế nghĩa là: cũng không phải chấp trung, mà gọi là đạo được. Vì có ai bị kềm trói đi ngay hoài mà chịu nổi; âu là phương tiện, qua một chút cũng được, lại một chút cũng xong, mực giữa càng tốt gồm cả ba mới là đạo. Vậy ta thấy rằng: không thể thiếu một bên hay khoảng giữa, không thể xẻ hai hay phân ba, mà phải chung hiệp mới là thể một, có sống. Như vậy vô chấp thì hơn; có, không, hay trung có ích lợi gì! Còn chấp là còn ý. Ý đâu có định; nói xuôi nói ngược, biết đâu nhiều khi ta nói phản với ta, tự dối lấy mình!
Nếu đã nói có, không và trung, gồm một, thể sống, thì thể sống ấy là có chớ nào phải không? Chơn là không khổ, vọng là có khổ, vui khổ tại nơi thiện ác, chấp cùng vô chấp, ta hiểu như thế cũng đủ rồi! Ác là nặng, thiện là nhẹ, huệ là dứt bỏ, chơn là tự nhiên, âu là ta hãy tự nhiên, có chẳng hơn không? Tự nhiên của kẻ dốt là khổ, tự nhiên của kẻ học là vui! Vậy sau khi lầm lạc, đã được học rồi, ta hãy tự nhiên cho vui là quý hơn hết.
Có để đặng: "Chân-Như", không để đặng: "Chân-Như", trung để đặng "Chân-Như", chấp gồm ba pháp để đến "Chân-như" không chấp cũng "Chân-như". Chân-Như mới sự thật là có, Chân-Như mới sự thực là không, Chân-Như mới sự thật là trung, Chân-như mới sự thật là ta, là Phật. Vậy ta chỉ cần biết chân như là đủ, nhờ "các pháp" ấy, ta mới đến với Chân-Như, thấy rõ rồi thì cứ hãy đi để tới, chớ khỏi cần: ngó lại và nương theo ngón tay chỉ...nữa vậy ! Kẻ mà giác ngộ, chân như rồi, thì giải thoát ra khỏi tất cả "cố chấp" không còn giả vọng, nên gọi là Chân như, toàn giác, trọn sáng, trọn lành.
Nói tóm lại: Có, Không, "Trung" là Phật Pháp để mở trí, cho người thấp kém nhỏ nhen. Có, Không, "Trung", là vũ trụ bao gồm có sẵn như quyển sách, trí ta như cặp mắt để xem nhìn cho thấy tỏ rõ, đặng yên sống và hưởng dùng, mới được no vui ích lợi.
Trước có pháp mới có lý trí, và sau này có lý trí mới có Pháp. Nhờ Pháp, Tăng già là chúng sanh mới thấy Phật là "chân-như" giác ngộ. Phật là chỗ đến của Tăng già, nhờ Pháp, khi đến rồi thì Pháp không còn dùng. Ấy vậy Pháp Có, Không, Trung là quý báu, của cải của chúng ta; không có nó, tâm ta chẳng bao giờ đầy đủ cứng già, ... chín muồi được ! Cũng như cơm là món ăn của thân, Pháp là mùi vị ngon thơm của tâm. Ai ai sống đời cũng nhờ Pháp bảo, Pháp bảo là thầy của Phật, là thầy của Tăng Già và chúng sanh. Vậy nên chúng ta mau mở tâm trí ra mà chứa đựng Pháp bảo.
Vì trong đời, Pháp bảo là quý hơn hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang

Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
"Bấm vào chữ Dịch bên dưới" !  <= (mở trang nầy! trước khi Dịch ! đã có liên kết trang!)
(Hãy bấm  quay trở lại ! Sau khi đã copy bản dịch hoàn chỉnh !) (Copy văn bản dán vào ô Dịch)

Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Pháp
Phát hiện ngôn ngữ
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Trung (Giản Thể)












Tiêu đề của tôi





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét