Thứ Tư, tháng 8 07, 2013

07. Sanh và Tử ; Birth and Death

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 07
Practice self-taught English translation: No. 07
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 
Thực hành đọc Chơn lý ; Practice reading Truth
Sanh và Tử
(生 與 死)
Birth and Death

( Trang 95-110 ; Pages 95-110 )
1. Vấn : Cái gì là chúng sanh ?
1. Q: What is being?
Đáp : Cái thức của sự hiểu biết là chúng sanh.
A: The way of understanding the beings.
2. Vấn: Cái gì sống hay chết ?
2. Q: What is it alive or dead?
Đáp: Cái thức của sự hiểu biết sống hay chết.
A: The way of understanding life or death
3. Vấn: Cái gì phát sanh ra sự hiểu biết ?
3. Q: What is the understanding arise?
Đáp: Đất nước lửa gió do nhân duyên của sự huân tập các "chủng tử" mà biết lần, từ chưa biết đến thành hình biết.
A: Earth wind fire water due to causes and conditions of the Order of the set of "seed" knows times, from the unknown to the known.
4. Hỏi: Hình dạng của "cái thức" của sự hiểu biết ra sao ?
4. Q: The shape of the "way" of understanding how?
Đáp: Lúc mới tượng là thọ cảm, ví như một làn khói. Khi hình thành ra tư tưởng, tức là làn khói ấy kết đặc lại mà thành hình. Kịp có hành vi thì làn khói ấy lộ ra rõ rệt. Đến cái thức của sự hiểu biết trí tuệ thì hình bóng ấy lại lâu tan hoại. Đến được với "cái giác của sự chân thật" thì thân hình ấy đời đời bất hoại, lại màu sắc vàng ròng, kêu gọi là cái thân của sự hiểu biết, tức là "giác thân" hay Phật thân.
A: At the beginning of the sensed object, such as a puff of smoke. When forming the thought, which is that the thick smoke that formed. Keep up with the smoke behavior was clearly revealed. Go to the understanding of the intellectual, the silhouette was left long lasting damage. To be with "a sense of truth", the body's eternal indestructible, the gold color, is called the body of knowledge, ie the "body awareness" or Buddha himself.
5. Vấn: Cái hình của biết ấy, ta có thể thấy được chăng?
5. Q: What form of knowing that, we can see that reasonable?
Đáp: Có thể thấy được, nếu có định tâm yên lặng; lại nhìn xem: sự sống đang cử động tác dụng, của mỗi một: chúng sanh, thì ta sẽ thấy rõ rệt. Cho đến nó cũng có nói chuyện nữa, tâm trí chúng ta vắng lặng, sẽ nghe rõ ràng: từ tiếng nói của côn trùng, dế, cỏ, cây, Phật, Trời, người, quỉ (ở tận phương xa) cũng nghe thấy.
A: It can be seen, if the mind quiet, re see that life is motion effects, of each one: sentient beings then we will see clear. So it's also talk anymore, quiet our minds, will hear clear: from the voices of insects, crickets, grass, tree, Buddha, God, people, demons (at the far end) also hear .
6.- Hỏi: Tại sao cái biết đó linh diệu ?
Đáp: Cái thức biết linh diệu là nhờ vắng lặng; khi nó đứng ngừng thì cái điển của nó thâu rút được các pháp khắp nơi. Càng yên lặng một chỗ thì càng vung tỏa ra rộng lớn cũng như ánh ngọn đèn, như lò máy điển. Cái biết mà được thong thả khỏe nhẹ, thanh nhàn, khoái lạc yên tịnh thì sẽ có đủ được sức mạnh thần thông.
7. Hỏi: Tại sao biết có nhiều tên gọi như thọ, tưởng, hành , thức, giác ?
7. Q: Why do know there are names like feeling, perception, volition, consciousness, sensation?
Đáp: Chính cái giác mới là đúng tên của nhận thức biết, là sự biết hoàn toàn , sáng suốt không mê lầm ! ; A: The new sensation is the correct name of the awareness to know, is completely aware, wise not deluded! Còn thọ, tưởng, hành, thức là cái biết mới tượng sanh, mới tập nảy cũng như cái hột còn lép còn non, mới cứng mới già cũng tạm kêu là hột vậy.
* deluded (v.): lừa dối, lường gạt !
Minh họa: con lừa; donkey
Cái biết mới kêu là thọ cảm, cũng gọi là tình.
Cái biết khá hơn kêu là tư tưởng, cũng gọi là ý.
Cái biết lớn rộng nữa kêu là hành vi, cũng gọi là thân.
Cái biết cứng chắc hơn kêu là thức trí, cũng gọi là khẩu .
Cái biết già kêu là giác, cũng gọi là tánh, hay tâm chơn .
Tình thọ và ý tưởng, cũng gọi là tâm vọng.
Thân hành và khẩu thức, cũng gọi là trí phàm. Tâm vọng nói đây là cái tim sống hay là ngòi sống phát sanh từ nơi tứ đại (đất, nước, lửa, gió) trước nhứt là cỏ cây thú. Tâm vọng sinh trí phàm là sự khổ sở điên đảo, do đó mới có pháp thánh nhơn, để nuôi tánh giác là Phật.
8. Hỏi : Cái biết ấy có sống chết chăng ?
Đáp : Nếu nuôi mãi thì nó sống hoài, còn giết hại nó thì nó phải chết mất, theo hồi giết hại.
9. Hỏi: Cái gì nuôi nó sống ? Cái gì giết nó chết ?
Đáp : Thiện vui là nuôi nó, ác khổ là hại nó.
10. Hỏi : Cái sống của biết là sao ? Cái chết của biết là sao ?
Đáp : Cái biết sống là tỉnh táo, định yên, cứng chắc, mạnh mẽ, trong sạch, vui mừng, tìm xét sáng suốt, không loạn vọng, không xao động. Cái biết mà chết là điên cuồng, rối trí, tán loạn, mê sảng đến mất cái biết, không còn biết gì nữa. Vả chăng cái biết là sự kết hợp tập lần của các pháp, mà nơi đây là sự điên đảo tán loạn mê sa làm cho hư rã tan hoại.
11. Hỏi: Trong sắc thân nầy, cái biết ở tại chỗ nào ?
Đáp: Chỗ nào nó cũng ở cả, nhưng chẳng bao giờ ở đứng hoài một chỗ; hễ chỗ nào bị xao động kích thích , hoặc gặp sự thái quá bất cập, thì nó mới đến ngay chỗ đó biết ở đó. Cái biết chỉ có một, khi đang ở chỗ nầy thì không có ở chỗ kia.
12. Hỏi: Khi ngủ cái biết ở tại chỗ nào ?
Đáp: Đã là cái biết ngủ nghỉ, thì nó ở tại cái mê say chớ không ở chỗ nào hết. Cũng như kẻ say rượu, như người hửi thuốc mê, thì nó là say mê, chớ không phải ở đâu cả. Ví như người kia ở trong nhà đóng kín các cửa, thì không ai có thể nói nó ở tại chỗ nào; bao giờ có một cửa mở hay là xao động tại đâu, là nó ở tại chỗ đó. Trước khi ngủ mê say, người ta yếu xuội đờ ra, và hơi thở nghe êm nhẹ điều-hòa, rồi thiếp hẵn tại chỗ hơi thở và yếu xuội đó; cho nên lắm kẻ nói rằng: Khi ngủ cái biết ở tại hơi thở, vì còn sống là còn hơi thở, (nếu như nói vậy thì trái tim cũng vẫn đang đập, máu cũng vẫn đang chạy nữa kia ? Còn nhiều kẻ ngủ mê, lại đứng ngồi hay cử động; như vậy là đâu phải ở riêng hơi thở). Xác thân như chiếc xe hơi, máy vẫn chạy đều làm sự sống, còn cái biết như người chủ, là khác hẵn với chiếc xe.
Trước kia là cái sống sanh lần cái biết, khi có biết rồi thì biết và sống là hai, chớ không phải một. Cũng như cây và hột, trước là cây, sau là hột. Cây hột khác nhau, khi cây chết là còn hột. Cho nên thân người có chết, thì cái biết của thân ấy vẫn còn. Cái biết là con, hay là tinh-ba của sự sống nơi thân-thể vậy.
13. Hỏi: Tại sao có chiêm-bao ?
Đáp: Chiêm bao có nhiều cách. Khi thức cũng chiêm bao thay, lựa là nói lúc ngủ ? Cái gì lại không phải là chiêm-bao ? Khi thức đây mà lúc thì ta nhớ thấy chuyện đã qua, xét thấy việc sẽ đến, nhận thấy sự hiện-tại. Nhận thấy cảnh ngộ nhơn duyên, nhận thấy tư-tưởng mình, nhận thấy sự thái quá, nhận thấy sự bất cập, nhận thấy bởi thất tình lục dục, nhận thấy bởi kẻ khác đến, đồ vật ai đem cho v.v…Tóm lại, cái thấy nào cũng là mộng-ảo huyễn-cảnh cả. Ta đang ở trên mặt đất của quả địa-cầu nầy, mà đó là chỗ nào của vũ-trụ, và chúng-sanh vạn-vật, với các pháp vốn không thường, khi ẩn khi hiện, khi có khi không, khi còn khi mất, khi đến khi đi, khi sống khi chết, nào ta có thấy chắc thiệt cái gì đâu ? Trong giấc ngủ mê cũng thế, khi cái biết đã thức mà xác thân còn mê mệt, thì cái biết hành động tự ý nó, nó thấy ra tất cả như khi thức chớ sao ? Cũng có đôi khi ta thấy thần quỉ Phật Trời thiệt, nhưng lại là rất ít, vì ta với họ khác nhau về cảnh giới, nào có liên quan gì nhau.
Phần nhiều chiêm-bao là bởi sự kích thích, lúc trước khi ngủ hay đang ngủ, bị nóng lạnh, nhức mỏi giựt mình, lo sợ vọng tưởng…bởi các pháp tương-đối, hoặc lúc thức, cái biết đang bị nhốt trong cảnh trí nào đó, vì vậy mà có lắm sự chiêm-bao như lúc thức. Vả lại các sự chiêm-bao không ích-lợi bằng thiện lành, kẻ mà biết ngăn ác là đáng tin cậy hơn vậy.
14. Hỏi: Sau khi chết rồi, cái biết sẽ đi đâu ?
Đáp: Nó đi theo cái nghiệp của nó, cũng như kẻ sống đây có khác gì ? Cờ bạc đến chỗ cờ bạc, uống rượu đến chỗ uống rượu, ác đến chỗ ác, thiện đến chỗ thiện, đạo-đức đến chỗ đạo-đức… mà kết quả của nó là sự yên-vui hay rối khổ, định hay là loạn vậy.
15. Hỏi: Lúc xác thân chết, cái hình dạng của biết xuất ra bằng cách nào ?
Đáp: Lúc chết đi như say rượu, như say thuốc, như ngủ quên, như hít phải thuốc mê nào biết gì ! Cũng như người lái xe nằm ngủ quên trong xe, khi giựt mình thức giấc mới biết là xe đã chết máy lạnh hư, sét cứng rồi. Người chết hoặc mê sảng, hoặc ngủ quên, khi tỉnh dậy thì máu đã trắng, xương thịt đã cứng, lạnh hết hơi, thì mới biết mình đã chết thân, hư nhà, thôi thì muốn đi đâu là đi theo ý trí tình vọng. Với kẻ ác, kẻ khổ sở nặng nề, thì mê muội lâu hơn là người thiện thanh vui nhẹ, tùy theo hột giống gieo tạo của mỗi người trong lúc sanh tiền.
16. Hỏi: Cái biết bao lớn và ra sao ?
Đáp: Khi ta ngước lên không, thì cái biết của ta là bao la vô cực. Lúc ta lựa từ hột cát, thì cái biết của ta là hột cát. Khi ta xỏ chỉ vào lỗ kim, thì cái biết của ta bằng lỗ kim. Lúc ta thấy con gà, con vịt, cọng cỏ, cái cây, thì cái biết của ta là gà vịt, cỏ cây. Tai nghe tiếng. Mũi hửi mùi, biết mùi. Ý nhớ người ta biết là người ta. Trí phân-biệt thiện ác, biết là thiện ác. Gặp màu xanh đỏ trắng vàng… biết là xanh đỏ trắng vàng. Thấy món vật tròn hay dài, biết là tròn hay dài. Chú ý nơi xa, biết ở xa; tưởng-tượng gần biết là gần. Thoạt xứ nầy, thoạt cõi khác, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài…v.v…Cái biết là bao gồm vạn pháp, mà lúc nào nó cũng chỉ có một thôi. Hễ biết cái nầy thì không biết cái kia. Biết nhiều khổ nhiều, biết ít khổ ít, không biết là không khổ; hay là muốn dứt khổ, thì cái biết phải lo định, hoặc phải cho đầy đủ toàn giác. Biết loạn là ma, biết định là Phật…Cái biết hằng định trong mỗi lúc, hoặc biết đầy đủ rồi là định. Có định mới yên-vui, gọi là cái biết đứng vững, sống đời, thiệt thọ, kêu là giác. 
17. Hỏi: Cái gì là ta và có bao nhiêu "cái ta"?
Đáp: Tiếng ta là tư-kỷ bổn-ngã, do sở chấp mê muội ai cũng tự-ái, tự-đắc, tự-tôn, tự-thị, tự kiêu mà cho ta là vầy đúng, ta là vầy phải… Cái ta ấy là biết, cái biết của mỗi trình-độ nhân duyên bao giờ cũng khác nhau chớ không giống một. Các cái biết ấy đều phải cho họ cả, không có ai trật sái hết; nhưng nếu có một người nào toàn-giác biết đầy đủ cả, thì không bao giờ tranh cãi, người cũng không nhận cái ta ở một chỗ nào, tùy theo duyên, cái ta biến hiện trong mỗi lúc, chớ không phải là sở trụ mà cố chấp được, nên gọi là cái ta vô thường, hay các pháp không ta. Nếu tất cả đều được toàn-giác như thế, thì cả thảy đều có một cái ta như nhau, không khổ não; khác hơn là muôn vạn cái ta của chúng-sanh không định, biết đâu mà lường, khi nói vầy, khi tính khác, chấp kia chấp nọ mãi, mà định-mạng của cái ta chẳng biết tại chỗ nào, bởi càng quấy tung, tâm trí càng nát nhừ bấn loạn : cho nên gọi chúng-sanh chưa có ta, chư Phật mới có ta, cái ta toàn thể như một.
18. Hỏi: Cái hình bóng của biết nhập thai bằng cách nào ?
Đáp: Đã là hình bóng như làn khói, là một điện lực mạnh mẽ, thì ra vào trong thân thể người lúc nào không được. Thân thể ta vốn trống thông các lỗ hơi, gió trong ngoài thường ra vào, thì sự nhập thai đâu phải lạ. Có điều là ta nên hiểu rằng: nếu bọc thai trống không, không có tinh huyết, thì không lấy gì mà tượng hình được, dầu cái hình bóng của biết, có vào ở trong ấy bao lâu cũng không sanh sản được. Cho nên cần phải đợi cho có sự giao hiệp, tinh huyết đầy đủ mới nên sắc thân được. Tinh huyết ấy có đủ bốn chất tứ-đại là đất nước lửa gió, cho nên gọi tứ-đại là thân, hay là thân tứ-đại.
19. Hỏi: Người ta nói cái thần hồn là gì ? Phách là gì ?
Đáp: CÂY có phách là tình thọ, hay thọ cảm, cũng như đứa trẻ nên ba tuổi.
THÚ có hồn là ý tưởng, hay tư-tưởng, cũng như đứa trẻ được sáu tuổi.
NGƯỜI có hành vi, gồm cả hồn phách thọ tưởng, cũng như người nhỏ tuổi mười hai.
TRỜI gồm cả thọ tưởng hành, mà sanh thức trí, kêu là thần thức, cũng như người lớn ba mươi tuổi
PHẬT là giác chơn hay tánh, gồm cả thọ tưởng hành thức, cũng như ông già trên bốn mươi tám tuổi.
Ấy vậy hồn phách hay thần thức, là người ta chỉ về cái hình bóng của biết, hay thân hình của biết. Tuy nói khác tên chớ hiểu ra thì có một. Còn về pháp thì không nói thân hình bóng của biết ấy, mà chỉ rõ ra danh-từ của mỗi trình-độ của biết, là thọ, tưởng, hành, thức, giác vậy thôi. Đó là lý và sự. Hiểu nơi lý thì rộng đường cho trí, chấp theo sự là nói hẹp cho tối tăm dễ hiểu, nên gọi là linh hồn cũng đủ.
20. Hỏi: Sự sanh thân có mấy cách :
Đáp: Sanh thân nơi người có bốn cách:
A) CÓ LINH HỒN NHẬP THAI TRƯỚC.
B) THAI TƯỢNG KHÔNG CÓ LINH HỒN.
C) NHỮNG THAI KHÔNG CÓ GIAO DÂM.
D) LINH HỒN SANH KHÔNG NHẬP THAI.
A) CÓ LINH HỒN NHẬP THAI TRƯỚC:
Là cây thú, vì khổ sở lâu ngày, nên sau khi chết, nhập-thai người liền, để tấn-hóa và yên vui hơn. Với lại những người ác như thú, trơ độn như cây, sau khi thác, vì sợ tội lỗi, vì sợ khổ sầu, quả báo oán thù oan trái, vì luyến ái mê nghiệp đắm trần, mà nhập thai trước trong bụng, như giành chỗ, như choán phần, như trốn tránh, như bị kẻ khác kéo lôi. Hoặc tự mình nhập thai, hoặc bị người bắt buộc phải nhập thai trước để sanh ra đặng đền ơn hay trả oán.
B) THAI TƯỢNG KHÔNG CÓ LINH HỒN:
Là do chất tinh của cha, huyết của mẹ, đầy đủ thể chất là thành hình, cũng như hột giống của cây sanh cây, hột giống của có sanh cỏ, hột giống thú sanh thú, hột giống người sanh người, tinh ba của cha là hột giống, huyết kinh của mẹ là đất nước sanh ra đứa con cũng như cỏ mới mọc vượt lên. Chất tinh ba năng sanh xương gân, chất huyết kinh mau làm máu thịt do đó tượng thân người. Cũng có những thai người, do tư tưởng mong muốn có con, của người cha hay mẹ, mà sanh đứa con và sẽ giống cha hay giống mẹ, tức là thai bào tư-tưởng do cha mẹ chiết để tư-tưởng mình vào đó mà thành hình, dầu tinh huyết có kém chớ tư-tưởng vẫn mạnh hơn nên tượng sanh được. Đoạn nầy ta thấy sự chiết tư-tưởng là một sức mạnh linh-thiêng, mà cục đá, khúc cây, hình cốt, nơi chỗ thờ phượng, có nhiều người khấn nguyện tưởng tượng để ý mình chăm chú vào đó, lâu ngày sẽ linh ứng có hồn. Đây tức là hồn nhân tạo, cha mẹ sanh con, sanh cả thân và tâm. Thuyết cha mẹ sanh con nầy cũng giống như tứ-đại đất nước lửa gió sanh cỏ cây thú người Trời Phật; Vì xác thân của người ta cũng là tứ đại đất nước lửa gió vậy.
C) NHỮNG THAI KHÔNG CÓ GIAO DÂM:
Nếu như sợi lông của người mà được ở vào trong thai bào thì lâu ngày sẽ tượng hình, vì mỗi sợi lông là một cơ thể sống riêng, cũng có đủ đầu, chân, tay, miệng, mũi, mắt, tai, mình, ruột. Cũng như mỗi cọng cỏ là một mạng sống đang tấn hóa, tóc thành lươn, lông thú thành sâu, lông người thành thú và nếu lông người mà do người ấp ủ thì sẽ thành người, đó là sự sanh tạo nơi nó. Lại có những thai thần thông, do các bậc tiên thánh quỉ thần dùng tư-tưởng riêng của mình mà cho đi nhập thai, tượng hình trước, để khi sanh ra rồi các vị mới đến nhập vào. Những thai nầy cũng không cần tinh ba của cha, mà vẫn phải có bằng phép linh diệu kỳ-thuật.
D) LINH HỒN SANH KHÔNG NHẬP THAI:
Chư Thiên người thiện lành, bậc Thánh chờ khi thai sanh ra rồi mới nhập vào, hoặc lựa xem đứa nhỏ nào có đủ thiện căn, mà không có linh hồn ai nhập trước mới nhập vào. Bởi bậc trong sạch trọn lành, không hạp nơi nhơ uế, sự giáng-sanh là để cứu thế độ đời, tự lòng từ-bi chớ không phải ép buộc hoặc mê trần, nên không hay nhập thai trước: Khiến nên chúng ta hằng thấy, nhiều người lâm bồn khai hoa có nhiều điều quí lạ, hoặc đứa trẻ sanh ra mà còn chờ chủ, đến năm bảy năm vẫn trơ trơ, rồi thình lình trở nên sáng suốt hay diệu kỳ. (Đó là bốn cách sanh thân vậy.)
21. Hỏi: Bốn cách sanh ấy đứa trẻ có khác nhau chăng ?
Đáp: Sắc thân thì không mấy khác, vì là cũng đều ở trong miếng đất của người mà ra, song cái biết thì khác nhau nhiều, và bẩm tánh không đồng:
Đứa trẻ cây sanh, thì đần độn.
Đứa trẻ thú sanh, thì ngu muội và hung-ác.
Đứa trẻ người ác sanh, thì xảo-trá ngang-tàng, xấu-xa.
Đứa trẻ người thiện sanh, hiền lương, dễ dạy, tốt đẹp.
Đứa trẻ quỉ thần sanh, thì lanh lợi quỉ-quyệt khác thường.
Đứa trẻ tiên thánh sanh, thì có đủ đức tánh quí lạ.
Đứa trẻ cha mẹ sanh, không hồn trước, thì dạy đâu biết đó, chậm tiến-hóa hơn là kẻ đã có hồn sẵn. Những đứa trẻ nầy mới sanh mà bỏ chỗ vắng cho sống chết luôn, thì cái biết lại chết luôn, hoặc nó có chất sống mà không ai dạy, không gặp chi cả thì không biết gì hết, chỉ như cộng cỏ khúc cây thôi.
22. Hỏi: Có phải khoa-học nói không hồn là đúng chăng ?
22. Q: Is it science, says the soul is not correct, is it?
Đáp: Khoa học là các môn học, tức là sự học chung về sự vật. Môn siêu hình học thì ít người chăm chú, vì mảng lo đeo đuổi vật chất hữu hình. Chớ "chơn lý" hay Phật pháp đâu phải khác. Chính khoa-học là ở trong thế giới, mà Phật học bao gồm vũ trụ rộng hơn ! Thế nên khoa-học là còn đang học, thì bao giờ cũng còn đi sau và ở trong giáo pháp của chư Phật. 
A: Science as subject areas, which is the general study of the material. Metaphysical subjects who were less attentive, because of arrays worry tangible physical pursuits. Do not "Truth" or other right Buddhadharma. Science, is key in the world, which include Buddhism broader universe! So is science, there is learning, there is always lagging behind and in the teaching of the Buddhas. Môn học siêu hình học, biết rằng: có Phật, Thánh, Tiên, thần, ma, quỉ, thì đó là hồn của thân xác vậy. Luận về cái sống của các bộ thần kinh trong thân, thì như bộ máy xe hơi, hễ có xe, thì sẽ có sự điều khiển là cái biết, biết lần lượt ! Cho đến nên hình là người chủ xe, cỡi lại chiếc xe. Thân tứ đại của người, không phải như sắt, thép, lẽ nào lại chẳng tượng sanh cái biết và có hình : Cỏ cây kia ta còn thấy nó có cái biết lần thay ! Ấy bởi chấp thân, mà không thấy cái kết quả của thân, như nhìn cây mà không thấy hột của cây. Cây chết hột còn, thân mất cái biết còn. Chính cây sanh hột, chính thân sanh: tâm ! Metaphysical subjects, knowing that possess Buddha, Holy, Fairy, gods, ghosts, demons, then that is the soul of this body. About the lives of the nerves in the body, is like a car engine, everyone has a car, they would have known what the controller is, in turn know! So is the car owner should look, ride the car. Four great body of the people, not as iron, steel, might there not being a known object and image: the other grass plants we also know that it is a rather time! Was accepted by the body, without seeing the result of the body, as seen looking tree without the tree seeds. Tree seed was dead, the body takes longer to know. Main living seed plants, the main body being: mind !
Note: Ghi chú suy ra: Ngọc Xá Lợi là "hột" tâm còn lại, của chư Phật và của Thánh chúng, Tăng, Ni ...kể cả xuất gia và tại gia cư sĩ (Cô Xả Ngọc, Qui Nhơn, thành phố. => Cư sĩ Thiện Nhơn, ở thị trấn Đập Đá, Bình Định tỉnh ! Mùi trầm hương lạ trong bài viết về Thiện Nhơn, theo ý riêng Trò: "chắc chắn" là có thật ! Vì Trò đã từng "thọ nhận" nó, mùi trầm hương kỳ lạ, suốt trong thời gian 1 tuần, liên tục như vậy, tại 62 Vũ Bão. Lúc bấy giờ tâm ý còn hoài nghi, bây giờ đọc bài viết, mới chợt nghĩ lại, quả nhiên là có thật vậy ! Và, nơi trang liên kết nầy: Có nói về: "Trái tim bất diệt" của Ngài : THÍCH QUẢNG ĐỨC. Mô Phật ! )
Vả lại sự sanh có bốn cách, nếu nói chỉ có tứ-đại : đất nước lửa gió là sự sống chớ không có cái biết sao ? Vậy còn ai biết cái gì đang hiểu đây, đang biết đó ? Biết là cái tập của tứ-đại, nếu nói tứ-đại mà biết thì đất đá kia, bảo nói chuyện xem có được chăng ? Còn nói chết rồi hết biết thì hỏi cái biết ấy đi đâu ? Lại nếu nói cái biết mới càng sanh thì cái biết cũ trốn đàng nào ?
Đời nay có thánh-linh-giáo, thần-linh-học, sao lại còn nói là không có hồn linh ? Chỉ có kẻ thật chuyên môn siêu-hình-học luận, mới nhận rõ-ràng được sự sống chết của cái biết linh hồn. Vậy nên câu nói ấy chỉ trúng có một khoảng đầu và trúng có một cách, trong bốn cách sanh thân kia vậy.
23. Hỏi: Xin nói cho rõ, thân sanh tâm hay tâm sanh thân ?
Đáp: Trước là thân sanh tâm, khi có tâm rồi, nếu luân-hồi, thì tâm sanh thân là lẽ sau.
24. Hỏi: Có phải mỗi linh-hồn đều sống mãi và tấn-hóa đến thành Phật chăng ?
Đáp: Có sống có chết, sống thì ít mà chết thì nhiều, nhưng lớp khác vẫn tấn lên mãi. Cũng như học trò đi thi, trong số mười chỉ đậu có một hai, kẻ đậu thì đi tới, kẻ rớt ở lại, hoặc đi ra, và còn kẻ khác mới bước lên nữa.
Mười cọng cỏ, có được một thành cây.
Mười cái cây, có được một sanh thú.
Mười con thú nhỏ, có được một con thú lớn.
Mười con thú lớn, có được một con sanh người.
Mười người, có một thành Trời.
Mười vị Trời, có một vị đắc quả Phật.
Cũng như một cái cây có lá một muôn, bông một ngàn trái một trăm, đến thành hột chỉ có mười và hột tốt lớn thì chỉ có một. Mà qua lớp nầy thì có lớp khác tiến ra nữa.
25. Hỏi: Cõi siêu hình Trời, Phật ở tại đâu ?
25. Q: Metaphysical Realm of God, Buddha Where?
Đáp: Không gian của vũ trụ bao la, vô số địa cầu thảy đều là "tứ đại", thì hết thảy, in như nhau, không khác, nào đợi phải đi đâu!
A: The space of the universe, countless globe are all the "four elements", they all, in the same, not different, how to go forward! 
Có thế giới đang có chư Phật nhiều, có thế giới đang có chư Thiên (hạng bậc trời nhiều), có thế giới đang có con người nhiều, có thế giới đang có thú vật nhiều, có thế giới đang có cây nhiều, có thế giới đang có cỏ nhiều, có thế giới đang có đất, nước, lửa, gió mới tượng. 
There are world more Buddhas, there are Devas world (class rank much heavens), there are world many people, there are world many animals, there are many trees world, there world are much grass, there are world earth, water, fire, wind new phenomenon. Cũng như loài người có xứ sở nào đó đang có ông già nhiều, có xứ sở nào đó đang có người lớn nhiều, có xứ sở nào đó đang có trẻ em nhiều, có xứ sở nào đó đang có phụ nữ nhiều, có xứ sở nào đó đang có nam nhân nhiều, có xứ sở nào đó người tu đang có nhiều, có xứ sở nào đó kẻ thiện lương đang có nhiều, có xứ sở nào đó kẻ ác đang có nhiều, có xứ sở nào đó đang vui, cười, có xứ sở nào đó, đang khóc lóc v.v…, nói chẳng hay cùng. Just as human beings have certain country are much the old man, there are certain country great many people, there are certain country many children, there are certain country many women, have origin basis that many people are male, there are certain people who cultivate the land are many, there are certain country who are much goodness, there are certain country is more evil, there are certain country fun , laugh, have a certain country, etc. .. crying, saying nothing or the same. Nhưng bởi địa cầu, thế giới là do tứ đại mãi lăn xoay, cho nên chốn nào cũng dời đổi, không thường, hoặc lâu hoặc mau. Vậy thì tâm của Trời, Phật, ở chỗ Trời, Phật, tâm của người, thú vật đến chỗ người, thú, tâm của quỉ, ma đến chỗ của quỉ, ma. Cũng có những kẻ lựa chọn chỗ tốt, xấu, hoặc đi qua thế giới khác, hoặc đi xứ khác, nhưng dẫu rằng ở đâu đi nữa, thì cũng không bền lâu. But by the globe, the world is so big four rotating roll forever, so always unchanging place, not often, or long or fast. So the heart of God, Buddha, in that God, Buddha, the mind of people, animals to humans, animals, demons of the mind, which in place of demons, ghosts. There are also those who are selected for good, bad, or go through the other world, or to other countries, but even more that go somewhere, it is not long lasting. Tốt hơn là ở chỗ tâm mình, tâm mình tạo quyến thuộc cảnh ngoài, ai ai, sự việc, hay điều chi dời đổi, mà tâm mình: thì phải cho nhứt định, mới có yên vui được. Better yet is that your mind, your mind creates scene outside dear, someone who, event, or anything unchanging, but one's mind: they must give firmly, the new peace and happiness.

Vậy nên phải lựa chọn cái tâm hồn, bằng được tâm thiện, tâm-huệ, tâm: "chơn", thì mặc dầu cảnh nào đi nữa, nó cũng vẫn tìm chỗ thiện, huệ, chơn của nó, và sẽ luôn chung cùng với quyến thuộc của thiện, huệ, chơn, để hưởng sự yên vui mà thôi. So to choose the soul, in the heart charity, heart-wisdom, mind, "true", although the situation might be, it is still looking good spot, wisdom, its true, and will always shared the same with a retinue of charity, wisdom, true, to enjoy the peace and happiness only.
Trái lại ác, mê, vọng thì phải rối, khổ, chết, tiêu hủy, và ở đâu đi đâu cũng không được, lại chẳng bao giờ có quyến thuộc, thân cận. Đời nó bao giờ cũng: lẻ loi, lạnh lùng, trong bóng tối, thúi dơ, nặng nề, khổ sở. Sống cũng vậy, mà chết mất thân xác, rồi thì tâm hồn nó cũng vậy, nó ở theo cái tâm của nó.

Conversely evil, love, hope must be troubled, suffering, death, destruction, and where to go and where not to be, never again dear, close. Life it always: lonely, cold, in the dark, dirty smelly, heavy and miserable. Life, too, that dead body, then his soul, too, follow it in its mind.
26. Hỏi: Người ta nói địa ngục dưới đất phải chăng ?
Đáp: Đức Phật nói rằng: giữa ruột trái đất là bộng trống tối, đen, lửa cháy, vách sắt, dưới sâu dơ dáy…là quyền-giáo ví dụ. Chớ thật ra, Thiên-đường là thiện-đạo, địa ngục là ác đạo, thiện là trên, ác là dưới. Kẻ ác trược là dơ-dáy, thấp-thỏi, sâu độc, tham lam là vách sắt, sân dục là lửa cháy, si-mê là tối đen, vật-chất là đất bao bọc nấm mồ. Muốn dễ hiểu ta hãy nhìn xem giữa buổi chợ đông thì thấy rõ. Cảnh do tâm, tâm nào thì hạp cảnh nấy, đợi gì sống chết và ở đâu đâu.
27. Hỏi: Do đâu mà kẻ nói chết còn, người nói chết mất ?
Đáp: Bởi kẻ ác nói liều, kiếp nầy làm ác vui chơi cho thỏa thích, đời sau sẽ tu cũng không muộn, nên bậc hiền thánh dạy rằng : Công-lý tương đối của vũ-trụ vốn công-bằng, được bây giờ thì mất về sau, được thân thì mất tâm, được ngoài thì mất trong, thái quá thì bất cập, sanh thì tử, nếu như đời trước không tu tập phước-đức, mà đời nay lại làm tội quá ác, thì e sau khi chết, linh hồn, cái biết, bị quả báo điên khổ mà tiêu tan, thì còn có đâu đời sau nữa mà hòng tu ?
Còn như kẻ ác nói ngang: chết là mất, nếu không làm ác vui chơi bời là khờ dại. Bằng như đời trước không làm tội gây nghiệp, kiếp nầy phước dồn đang hưởng, mà lại quá ác xài nhiều, có ra không vô, thì sau khi chết đi, linh-hồn cái biết chưa bị khổ, chưa bị khổ điên chết mất, đến lúc sanh ra đời sau, hết phước mà lại chịu quả báo tội nghiệp thì khổ lắm, chịu sao nổi ?
Thế nên, kẻ ác nói đoản thì Phật Thánh chỉ chỗ trường, cho nó biết tu mà nhờ lấy. Nếu kẻ ác nói trường thì Phật Thánh chỉ chỗ đoản, để giác-ngộ cảnh tỉnh mà cứu nó về sau. Đời sau kẻ chẳng rõ lẽ ấy, nên mới có câu: “ chết còn, chết mất”, chớ còn mất là tại nơi thiện hay ác của mỗi người gây tạo.
28. Hỏi: Tiêu diệt cả thân tâm bằng cách nào ?
Đáp: Kẻ ác, trẻ con, rủ nhau làm thiện là ít ai hưởng ứng. Bằng hô lên làm ác; giết trâu bò, thì lại rất đông nhiều, không kêu cũng tới, không mời cũng bu, một dao thêm một dao, một mạng thêm một mạng; Lại còn khen hay khoe giỏi vi-cánh càng to, thiếu chi người xu bợ. Cũng như kẻ lượm đất liệng lên không, có trớn rất mạnh, rất cao, hết trớn thì đứng lại và rồi rớt xuống, càng to lớn nặng nề, càng sa nhào mau lẹ, đã lún sâu mà còn tan rã mất hình-hài. Kẻ ác cũng thế, lúc đầu thì bạo phát và sẽ bạo tàn kế đó. Trước tập ác với thú, ác lần tới người, ác với kẻ xa, rồi lại ác với người gần là đồng bọn nó. Nó bị phản bội thế-lực tan rã, nó bị thương bơ-vơ, đói khát, tàn tật… mà bởi tánh ác đã quen cao, không hạ thấp xuống được, mới sanh tức khí, bất mãn, khổ giận, lại bị trả thù, ai ai đều ghét. Cái khổ làm cho nó ngây khùng mất trí, khổ quá bủn-rủn mất cả hành-vi cử-động. Gần như thú, chơi với thú, ghét loài người. Khổ nữa và thêm sự hành phạt cuồng điên, mất cả tư-tưởng, ghét thú, mến cỏ cây, ở nơi lùm-bụi; và rốt cuộc sự điên khổ đói bịnh hành phạt, làm cho đứt luôn thọ cảm, hết biết, mất biết, không còn biết; cái biết kết tập lâu ngày tan mất ! Kẻ ấy quá khùng điên không giảm làm mất thọ cảm, không còn biết cỏ cây thú người, và sự nhập thai, ăn uống chi cả, thì thân tâm tiêu-diệt, tiêu cả bóng hình. Cảnh khổ ấy gọi là địa-ngục vô-gián a-tỳ. Kẻ ác vương mang, thì không còn phương nào ai cứu chữa, và cũng khó lại gần nó, mà nào có ai thương tiếc gì nó đâu ?
KHỔ ĐIÊN CÓ HAI CÁCH:
Kẻ ác điên khổ thì tiêu diệt. Con người thiện vì lo, vì quá học mà điên, thì như đi nhảy cấp sụt thang, điên sảng chỉ một thời-gian thôi. Bởi nhớ hiền lương, có kẻ thương yêu săn-sóc, chăm-nom chiều-chuộng ở gần; nên chẳng bao lâu được tỉnh lại lần, như đứa trẻ tập biết lần lần khi mới lớn.
Nhiều bịnh điên nhứt là khổ vì tình-dục, chính khổ ái ân là lưỡi kiếm giết tâm hồn, diệt-tiêu cái biết đau đớn vô ngằn. Kẻ khổ điên vì tình mà làm ác thì mau chết lắm, nhưng nếu thiện lành là còn cứu-chữa được. Thế nên Phật dạy: Tình dục là cửa địa-ngục A-tỳ !
29. Hỏi: Nếu vậy ai cũng có thể tiêu diệt hết sao ?
Đáp: Đừng giựt mình, hãy làm thiện là tấn-hóa và nuôi sống mãi vậy. Lẽ sanh diệt tạo-hóa có chi lạ, thân cũng vậy mà tâm cũng vậy. Chớ nếu càng sanh mà không diệt, thì xưa nay đất đâu mà chứa hết chúng-sanh ? Nào riêng loài người, loài thú, cây, cỏ kia, sao không ai nghĩ đến mà thương-xót cho nó. Làm ác giết người, giết chết thân mà còn tâm, trái lại mình cái tâm đã chết, hột giống tâm đã dứt, còn thân thì sau sự vay phải trả, phải đền bù bằng cái chết. Thế rõ ràng là mình tự giết thân tâm mình đó ! Sự thật, xưa nay nào ai dám nghĩ đến, hoặc nhắc cho lẽ ấy, nhưng sao ta làm ác lại lo hoài và nhớ mãi, chỉ ngó tới mà chẳng tin rằng là có sự lui. Trong đời đâu có lẽ tốt hảo tuyệt-đối cho riêng ta vậy.
30. Hỏi: Làm thế nào mới thành Phật và sống đời đời ?
Đáp: Không khó ! Một con thú mới sanh ra người, chỉ biết ăn, kiếm ăn để sống và rồi chờ chết: nhưng lâu ngày nhàm chán mệt mỏi. Một hôm đi ra đường gặp kẻ đói khó hơn nó, nó liền bố-thí cái dư của nó giúp người. Nó được lời cám ơn và khuyến-khích, nó vui mừng sung sướng, nó no mát nhẹ nhàng, nó thấy hay hay mới lạ, và từ đó nó ham bố-thí, quên mình mà nghĩ đến người, mặc cho kẻ khác chê cười ngu dại, nó siêng làm việc cho kẻ chung quanh, để được vui trong tâm và làm gương trong cõi đời về sau cho trẻ nhỏ, nhờ vậy mà thân tâm nó càng được trong sạch, yên lặng và sáng suốt lần lần. Nó gặp được sự ích-lợi, thanh-cao, chơn thật, nó hiểu được con đường sống có ý nghĩa ! Nó làm phải cho một gia-đình, người ta coi nó như cha. Nó giúp cho cả làng tỉnh, người ta kỉnh nó như quan. Nó thương yêu cả xứ, người ta mến nó như vua. Ai cũng muốn gần nó, nương dựa dưới sự mát-mẻ êm-ái của nó. Khi trọn phận sự của kiếp người, bằng xác thân vật chất, thì nó chết, nó đi nghỉ mệt ở núi non, mà ôn nhớ lại sự lành, để cho tâm hưởng ăn no đầy khoái-lạc.
Trước khi nó chết, sau khi nó chết, đang khi nó chết, cũng có nhiều kẻ chết. Họ chết sau sự khổ nạn, họ tìm nó và đến ở chung với nó, để nhờ nó an-ủi dạy-dỗ tâm hồn. Lần lần xã-hội siêu-hình của nó càng đông, nơi đây nó làm vị vua Trời bởi người ta tôn, cũng như ông thầy giáo bước lần lên Đốc-học.
Kẻ thiện lành dầu câm cũng biết nói, nói lời lành ai cũng mến. Kẻ ác dầu học giỏi cũng như câm, vì chẳng ai nghe. Nơi đây nó tập nói, lần lần sáng trí hoàn-toàn giác-ngộ, thấu chơn-lý và đắc-đạo. Nó bước đi thêm một bước, để dạy đạo giải-thoát niết-bàn, và đi giáo-hóa khắp nơi cùng xứ. Cho đến khi thành-đạo to lớn, có người thay thế, nó bèn nhập-định hưu trí nghỉ ngơi (niết-bàn như-lai). Đến đây cái biết cứng đầy no vui-sướng mãi, nghỉ dưỡng đời, trường sanh bất-diệt. Hình bóng của biết đã trở nên một sức mạnh không tan, sắc vàng chói rực, muôn loại kỉnh thờ, gương lành giáo-lý phóng khắp cùng nơi, đời đời sống mãi, quét sạch bụi hồng.
Đó là từ thú đến người, đến Trời, đến Phật, mỗi bước đi lên, không tự cao chấp lầm đứng nghỉ, ấy cũng chỉ từ nơi cái thiện mà nên được.
Vậy chúng ta hãy, rán noi theo gương thiện lành nầy, đặng diệt trừ hết ác, làm Đấng trọn thiện trọn lành, lấy tình thương yêu dạy tất cả chúng sanh chung, bình đẳng, bác ái, không lựa chọn: nhỏ, lớn, giàu sang, hèn mọn, thì mới chắc: cầu mong thành Phật sống đời, yên vui, không còn rối, khổ ?
Vậy thì ai ai cũng nên là Phật hết.
So everyone should be the Buddha before.
Tổ sư Minh Đăng Quang; Patriarch Minh Dang Quang.

 ***
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )

Meditation, be still is, looking at the swastika! )
@@@
\

Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
Sanh và Tử
Trang 95-110 ( Chơn lý số 07 )
1. Vấn : Cái gì là chúng sanh ?
Đáp : Cái thức của sự hiểu biết là chúng sanh.
2. Vấn: Cái gì sống hay chết ?
Đáp: Cái thức của sự hiểu biết sống hay chết.
3. Vấn: Cái gì phát sanh ra sự hiểu biết ?
Đáp: Đất nước lửa gió do nhân duyên của sự huân tập các "chủng tử" mà biết lần, từ chưa biết đến thành hình biết.
4. Hỏi: Hình dạng của "cái thức" của sự hiểu biết ra sao ?
Đáp: Lúc mới tượng là thọ cảm, ví như một làn khói. Khi hình thành ra tư tưởng, tức là làn khói ấy kết đặc lại mà thành hình. Kịp có hành vi thì làn khói ấy lộ ra rõ rệt. Đến cái thức của sự hiểu biết trí tuệ thì hình bóng ấy lại lâu tan hoại. Đến được với "cái giác của sự chân thật" thì thân hình ấy đời đời bất hoại, lại màu sắc vàng ròng, kêu gọi là cái thân của sự hiểu biết, tức là "giác thân" hay Phật thân.
5. Vấn: Cái hình của biết ấy, ta có thể thấy được chăng?
Đáp: Có thể thấy được, nếu có định tâm yên lặng; lại nhìn xem: sự sống đang cử động tác dụng, của mỗi một: chúng sanh, thì ta sẽ thấy rõ rệt. Cho đến nó cũng có nói chuyện nữa, tâm trí chúng ta vắng lặng, sẽ nghe rõ ràng: từ tiếng nói của côn trùng, dế, cỏ, cây, Phật, Trời, người, quỉ (ở tận phương xa) cũng nghe thấy.
6.- Hỏi: Tại sao cái biết đó linh diệu ?
Đáp: Cái thức biết linh diệu là nhờ vắng lặng; khi nó đứng ngừng thì cái điển của nó thâu rút được các pháp khắp nơi. Càng yên lặng một chỗ thì càng vung tỏa ra rộng lớn cũng như ánh ngọn đèn, như lò máy điển. Cái biết mà được thong thả khỏe nhẹ, thanh nhàn, khoái lạc yên tịnh thì sẽ có đủ được sức mạnh thần thông.
7. Hỏi: Tại sao biết có nhiều tên gọi như thọ,tưởng, hành , thức, giác ?
Đáp: Chính cái giác mới là đúng tên của thức biết, là sự biết hoàn toàn sáng suốt không mê lầm. Còn thọ, tưởng, hành, thức là cái biết mới tượng sanh, mới tập nảy cũng như cái hột còn lép còn non, mới cứng mới già cũng tạm kêu là hột vậy.
Cái biết mới kêu là thọ cảm, cũng gọi là tình.
Cái biết khá hơn kêu là tư tưởng, cũng gọi là ý.
Cái biết lớn rộng nữa kêu là hành vi, cũng gọi là thân.
Cái biết cứng chắc hơn kêu là thức trí, cũng gọi là khẩu .
Cái biết già kêu là giác, cũng gọi là tánh, hay tâm chơn .
Tình thọ và ý tưởng, cũng gọi là tâm vọng.
Thân hành và khẩu thức, cũng gọi là trí phàm. Tâm vọng nói đây là cái tim sống hay là ngòi sống phát sanh từ nơi tứ đại (đất, nước, lửa, gió) trước nhứt là cỏ cây thú. Tâm vọng sinh trí phàm là sự khổ sở điên đảo, do đó mới có pháp thánh nhơn, để nuôi tánh giác là Phật.
8. Hỏi : Cái biết ấy có sống chết chăng ?
Đáp : Nếu nuôi mãi thì nó sống hoài, còn giết hại nó thì nó phải chết mất, theo hồi giết hại.
9. Hỏi: Cái gì nuôi nó sống ? Cái gì giết nó chết ?
Đáp : Thiện vui là nuôi nó, ác khổ là hại nó.
10. Hỏi : Cái sống của biết là sao ? Cái chết của biết là sao ?
Đáp : Cái biết sống là tỉnh táo, định yên, cứng chắc, mạnh mẽ, trong sạch, vui mừng, tìm xét sáng suốt, không loạn vọng, không xao động. Cái biết mà chết là điên cuồng, rối trí, tán loạn, mê sảng đến mất cái biết, không còn biết gì nữa. Vả chăng cái biết là sự kết hợp tập lần của các pháp, mà nơi đây là sự điên đảo tán loạn mê sa làm cho hư rã tan hoại.
11. Hỏi: Trong sắc thân nầy, cái biết ở tại chỗ nào ?
Đáp: Chỗ nào nó cũng ở cả, nhưng chẳng bao giờ ở đứng hoài một chỗ; hễ chỗ nào bị xao động kích thích , hoặc gặp sự thái quá bất cập, thì nó mới đến ngay chỗ đó biết ở đó. Cái biết chỉ có một, khi đang ở chỗ nầy thì không có ở chỗ kia.
12. Hỏi: Khi ngủ cái biết ở tại chỗ nào ?
Đáp: Đã là cái biết ngủ nghỉ, thì nó ở tại cái mê say chớ không ở chỗ nào hết. Cũng như kẻ say rượu, như người hửi thuốc mê, thì nó là say mê, chớ không phải ở đâu cả. Ví như người kia ở trong nhà đóng kín các cửa, thì không ai có thể nói nó ở tại chỗ nào; bao giờ có một cửa mở hay là xao động tại đâu, là nó ở tại chỗ đó. Trước khi ngủ mê say, người ta yếu xuội đờ ra, và hơi thở nghe êm nhẹ điều-hòa, rồi thiếp hẵn tại chỗ hơi thở và yếu xuội đó; cho nên lắm kẻ nói rằng: Khi ngủ cái biết ở tại hơi thở, vì còn sống là còn hơi thở, (nếu như nói vậy thì trái tim cũng vẫn đang đập, máu cũng vẫn đang chạy nữa kia ? Còn nhiều kẻ ngủ mê, lại đứng ngồi hay cử động; như vậy là đâu phải ở riêng hơi thở). Xác thân như chiếc xe hơi, máy vẫn chạy đều làm sự sống, còn cái biết như người chủ, là khác hẵn với chiếc xe.
Trước kia là cái sống sanh lần cái biết, khi có biết rồi thì biết và sống là hai, chớ không phải một. Cũng như cây và hột, trước là cây, sau là hột. Cây hột khác nhau, khi cây chết là còn hột. Cho nên thân người có chết, thì cái biết của thân ấy vẫn còn. Cái biết là con, hay là tinh-ba của sự sống nơi thân-thể vậy.
13. Hỏi: Tại sao có chiêm-bao ?
Đáp: Chiêm bao có nhiều cách. Khi thức cũng chiêm bao thay, lựa là nói lúc ngủ ? Cái gì lại không phải là chiêm-bao ? Khi thức đây mà lúc thì ta nhớ thấy chuyện đã qua, xét thấy việc sẽ đến, nhận thấy sự hiện-tại. Nhận thấy cảnh ngộ nhơn duyên, nhận thấy tư-tưởng mình, nhận thấy sự thái quá, nhận thấy sự bất cập, nhận thấy bởi thất tình lục dục, nhận thấy bởi kẻ khác đến, đồ vật ai đem cho v.v…Tóm lại, cái thấy nào cũng là mộng-ảo huyễn-cảnh cả. Ta đang ở trên mặt đất của quả địa-cầu nầy, mà đó là chỗ nào của vũ-trụ, và chúng-sanh vạn-vật, với các pháp vốn không thường, khi ẩn khi hiện, khi có khi không, khi còn khi mất, khi đến khi đi, khi sống khi chết, nào ta có thấy chắc thiệt cái gì đâu ? Trong giấc ngủ mê cũng thế, khi cái biết đã thức mà xác thân còn mê mệt, thì cái biết hành động tự ý nó, nó thấy ra tất cả như khi thức chớ sao ? Cũng có đôi khi ta thấy thần quỉ Phật Trời thiệt, nhưng lại là rất ít, vì ta với họ khác nhau về cảnh giới, nào có liên quan gì nhau.
Phần nhiều chiêm-bao là bởi sự kích thích, lúc trước khi ngủ hay đang ngủ, bị nóng lạnh, nhức mỏi giựt mình, lo sợ vọng tưởng…bởi các pháp tương-đối, hoặc lúc thức, cái biết đang bị nhốt trong cảnh trí nào đó, vì vậy mà có lắm sự chiêm-bao như lúc thức. Vả lại các sự chiêm-bao không ích-lợi bằng thiện lành, kẻ mà biết ngăn ác là đáng tin cậy hơn vậy.
14. Hỏi: Sau khi chết rồi, cái biết sẽ đi đâu ?
Đáp: Nó đi theo cái nghiệp của nó, cũng như kẻ sống đây có khác gì ? Cờ bạc đến chỗ cờ bạc, uống rượu đến chỗ uống rượu, ác đến chỗ ác, thiện đến chỗ thiện, đạo-đức đến chỗ đạo-đức… mà kết quả của nó là sự yên-vui hay rối khổ, định hay là loạn vậy.
15. Hỏi: Lúc xác thân chết, cái hình dạng của biết xuất ra bằng cách nào ?
Đáp: Lúc chết đi như say rượu, như say thuốc, như ngủ quên, như hít phải thuốc mê nào biết gì ! Cũng như người lái xe nằm ngủ quên trong xe, khi giựt mình thức giấc mới biết là xe đã chết máy lạnh hư, sét cứng rồi. Người chết hoặc mê sảng, hoặc ngủ quên, khi tỉnh dậy thì máu đã trắng, xương thịt đã cứng, lạnh hết hơi, thì mới biết mình đã chết thân, hư nhà, thôi thì muốn đi đâu là đi theo ý trí tình vọng. Với kẻ ác, kẻ khổ sở nặng nề, thì mê muội lâu hơn là người thiện thanh vui nhẹ, tùy theo hột giống gieo tạo của mỗi người trong lúc sanh tiền.
16. Hỏi: Cái biết bao lớn và ra sao ?
Đáp: Khi ta ngước lên không, thì cái biết của ta là bao la vô cực. Lúc ta lựa từ hột cát, thì cái biết của ta là hột cát. Khi ta xỏ chỉ vào lỗ kim, thì cái biết của ta bằng lỗ kim. Lúc ta thấy con gà, con vịt, cọng cỏ, cái cây, thì cái biết của ta là gà vịt, cỏ cây. Tai nghe tiếng. Mũi hửi mùi, biết mùi. Ý nhớ người ta biết là người ta. Trí phân-biệt thiện ác, biết là thiện ác. Gặp màu xanh đỏ trắng vàng… biết là xanh đỏ trắng vàng. Thấy món vật tròn hay dài, biết là tròn hay dài. Chú ý nơi xa, biết ở xa; tưởng-tượng gần biết là gần. Thoạt xứ nầy, thoạt cõi khác, hoặc ở trong, hoặc ở ngoài…v.v…Cái biết là bao gồm vạn pháp, mà lúc nào nó cũng chỉ có một thôi. Hễ biết cái nầy thì không biết cái kia. Biết nhiều khổ nhiều, biết ít khổ ít, không biết là không khổ; hay là muốn dứt khổ, thì cái biết phải lo định, hoặc phải cho đầy đủ toàn giác. Biết loạn là ma, biết định là Phật…Cái biết hằng định trong mỗi lúc, hoặc biết đầy đủ rồi là định. Có định mới yên-vui, gọi là cái biết đứng vững, sống đời, thiệt thọ, kêu là giác. 
17. Hỏi: Cái gì là ta và có bao nhiêu "cái ta"?
Đáp: Tiếng ta là tư-kỷ bổn-ngã, do sở chấp mê muội ai cũng tự-ái, tự-đắc, tự-tôn, tự-thị, tự kiêu mà cho ta là vầy đúng, ta là vầy phải… Cái ta ấy là biết, cái biết của mỗi trình-độ nhân duyên bao giờ cũng khác nhau chớ không giống một. Các cái biết ấy đều phải cho họ cả, không có ai trật sái hết; nhưng nếu có một người nào toàn-giác biết đầy đủ cả, thì không bao giờ tranh cãi, người cũng không nhận cái ta ở một chỗ nào, tùy theo duyên, cái ta biến hiện trong mỗi lúc, chớ không phải là sở trụ mà cố chấp được, nên gọi là cái ta vô thường, hay các pháp không ta. Nếu tất cả đều được toàn-giác như thế, thì cả thảy đều có một cái ta như nhau, không khổ não; khác hơn là muôn vạn cái ta của chúng-sanh không định, biết đâu mà lường, khi nói vầy, khi tính khác, chấp kia chấp nọ mãi, mà định-mạng của cái ta chẳng biết tại chỗ nào, bởi càng quấy tung, tâm trí càng nát nhừ bấn loạn : cho nên gọi chúng-sanh chưa có ta, chư Phật mới có ta, cái ta toàn thể như một.
18. Hỏi: Cái hình bóng của biết nhập thai bằng cách nào ?
Đáp: Đã là hình bóng như làn khói, là một điện lực mạnh mẽ, thì ra vào trong thân thể người lúc nào không được. Thân thể ta vốn trống thông các lỗ hơi, gió trong ngoài thường ra vào, thì sự nhập thai đâu phải lạ. Có điều là ta nên hiểu rằng: nếu bọc thai trống không, không có tinh huyết, thì không lấy gì mà tượng hình được, dầu cái hình bóng của biết, có vào ở trong ấy bao lâu cũng không sanh sản được. Cho nên cần phải đợi cho có sự giao hiệp, tinh huyết đầy đủ mới nên sắc thân được. Tinh huyết ấy có đủ bốn chất tứ-đại là đất nước lửa gió, cho nên gọi tứ-đại là thân, hay là thân tứ-đại.
19. Hỏi: Người ta nói cái thần hồn là gì ? Phách là gì ?
Đáp: CÂY có phách là tình thọ, hay thọ cảm, cũng như đứa trẻ nên ba tuổi.
THÚ có hồn là ý tưởng, hay tư-tưởng, cũng như đứa trẻ được sáu tuổi.
NGƯỜI có hành vi, gồm cả hồn phách thọ tưởng, cũng như người nhỏ tuổi mười hai.
TRỜI gồm cả thọ tưởng hành, mà sanh thức trí, kêu là thần thức, cũng như người lớn ba mươi tuổi
PHẬT là giác chơn hay tánh, gồm cả thọ tưởng hành thức, cũng như ông già trên bốn mươi tám tuổi.
Ấy vậy hồn phách hay thần thức, là người ta chỉ về cái hình bóng của biết, hay thân hình của biết. Tuy nói khác tên chớ hiểu ra thì có một. Còn về pháp thì không nói thân hình bóng của biết ấy, mà chỉ rõ ra danh-từ của mỗi trình-độ của biết, là thọ, tưởng, hành, thức, giác vậy thôi. Đó là lý và sự. Hiểu nơi lý thì rộng đường cho trí, chấp theo sự là nói hẹp cho tối tăm dễ hiểu, nên gọi là linh hồn cũng đủ.
20. Hỏi: Sự sanh thân có mấy cách :
Đáp: Sanh thân nơi người có bốn cách:
A) CÓ LINH HỒN NHẬP THAI TRƯỚC.
B) THAI TƯỢNG KHÔNG CÓ LINH HỒN.
C) NHỮNG THAI KHÔNG CÓ GIAO DÂM.
D) LINH HỒN SANH KHÔNG NHẬP THAI.
A) CÓ LINH HỒN NHẬP THAI TRƯỚC:
Là cây thú, vì khổ sở lâu ngày, nên sau khi chết, nhập-thai người liền, để tấn-hóa và yên vui hơn. Với lại những người ác như thú, trơ độn như cây, sau khi thác, vì sợ tội lỗi, vì sợ khổ sầu, quả báo oán thù oan trái, vì luyến ái mê nghiệp đắm trần, mà nhập thai trước trong bụng, như giành chỗ, như choán phần, như trốn tránh, như bị kẻ khác kéo lôi. Hoặc tự mình nhập thai, hoặc bị người bắt buộc phải nhập thai trước để sanh ra đặng đền ơn hay trả oán.
B) THAI TƯỢNG KHÔNG CÓ LINH HỒN:
Là do chất tinh của cha, huyết của mẹ, đầy đủ thể chất là thành hình, cũng như hột giống của cây sanh cây, hột giống của có sanh cỏ, hột giống thú sanh thú, hột giống người sanh người, tinh ba của cha là hột giống, huyết kinh của mẹ là đất nước sanh ra đứa con cũng như cỏ mới mọc vượt lên. Chất tinh ba năng sanh xương gân, chất huyết kinh mau làm máu thịt do đó tượng thân người. Cũng có những thai người, do tư tưởng mong muốn có con, của người cha hay mẹ, mà sanh đứa con và sẽ giống cha hay giống mẹ, tức là thai bào tư-tưởng do cha mẹ chiết để tư-tưởng mình vào đó mà thành hình, dầu tinh huyết có kém chớ tư-tưởng vẫn mạnh hơn nên tượng sanh được. Đoạn nầy ta thấy sự chiết tư-tưởng là một sức mạnh linh-thiêng, mà cục đá, khúc cây, hình cốt, nơi chỗ thờ phượng, có nhiều người khấn nguyện tưởng tượng để ý mình chăm chú vào đó, lâu ngày sẽ linh ứng có hồn. Đây tức là hồn nhân tạo, cha mẹ sanh con, sanh cả thân và tâm. Thuyết cha mẹ sanh con nầy cũng giống như tứ-đại đất nước lửa gió sanh cỏ cây thú người Trời Phật; Vì xác thân của người ta cũng là tứ đại đất nước lửa gió vậy.
C) NHỮNG THAI KHÔNG CÓ GIAO DÂM:
Nếu như sợi lông của người mà được ở vào trong thai bào thì lâu ngày sẽ tượng hình, vì mỗi sợi lông là một cơ thể sống riêng, cũng có đủ đầu, chân, tay, miệng, mũi, mắt, tai, mình, ruột. Cũng như mỗi cọng cỏ là một mạng sống đang tấn hóa, tóc thành lươn, lông thú thành sâu, lông người thành thú và nếu lông người mà do người ấp ủ thì sẽ thành người, đó là sự sanh tạo nơi nó. Lại có những thai thần thông, do các bậc tiên thánh quỉ thần dùng tư-tưởng riêng của mình mà cho đi nhập thai, tượng hình trước, để khi sanh ra rồi các vị mới đến nhập vào. Những thai nầy cũng không cần tinh ba của cha, mà vẫn phải có bằng phép linh diệu kỳ-thuật.
D) LINH HỒN SANH KHÔNG NHẬP THAI:
Chư Thiên người thiện lành, bậc Thánh chờ khi thai sanh ra rồi mới nhập vào, hoặc lựa xem đứa nhỏ nào có đủ thiện căn, mà không có linh hồn ai nhập trước mới nhập vào. Bởi bậc trong sạch trọn lành, không hạp nơi nhơ uế, sự giáng-sanh là để cứu thế độ đời, tự lòng từ-bi chớ không phải ép buộc hoặc mê trần, nên không hay nhập thai trước: Khiến nên chúng ta hằng thấy, nhiều người lâm bồn khai hoa có nhiều điều quí lạ, hoặc đứa trẻ sanh ra mà còn chờ chủ, đến năm bảy năm vẫn trơ trơ, rồi thình lình trở nên sáng suốt hay diệu kỳ. (Đó là bốn cách sanh thân vậy.)
21. Hỏi: Bốn cách sanh ấy đứa trẻ có khác nhau chăng ?
Đáp: Sắc thân thì không mấy khác, vì là cũng đều ở trong miếng đất của người mà ra, song cái biết thì khác nhau nhiều, và bẩm tánh không đồng:
Đứa trẻ cây sanh, thì đần độn.
Đứa trẻ thú sanh, thì ngu muội và hung-ác.
Đứa trẻ người ác sanh, thì xảo-trá ngang-tàng, xấu-xa.
Đứa trẻ người thiện sanh, hiền lương, dễ dạy, tốt đẹp.
Đứa trẻ quỉ thần sanh, thì lanh lợi quỉ-quyệt khác thường.
Đứa trẻ tiên thánh sanh, thì có đủ đức tánh quí lạ.
Đứa trẻ cha mẹ sanh, không hồn trước, thì dạy đâu biết đó, chậm tiến-hóa hơn là kẻ đã có hồn sẵn. Những đứa trẻ nầy mới sanh mà bỏ chỗ vắng cho sống chết luôn, thì cái biết lại chết luôn, hoặc nó có chất sống mà không ai dạy, không gặp chi cả thì không biết gì hết, chỉ như cộng cỏ khúc cây thôi.
22. Hỏi: Có phải khoa-học nói không hồn là đúng chăng ?
Đáp: Khoa học là các môn học, tức là sự học chung về sự vật. Môn siêu hình học thì ít người chăm chú, vì mảng lo đeo đuổi vật chất hữu hình. Chớ "chơn lý" hay Phật pháp đâu phải khác. Chính khoa-học là ở trong thế giới, mà Phật học bao gồm vũ trụ rộng hơn ! Thế nên khoa-học là còn đang học, thì bao giờ cũng còn đi sau và ở trong giáo pháp của chư Phật. 
Môn học siêu hình học, biết rằng: có Phật, Thánh, Tiên, thần, ma, quỉ, thì đó là hồn của thân xác vậy. Luận về cái sống của các bộ thần kinh trong thân, thì như bộ máy xe hơi, hễ có xe, thì sẽ có sự điều khiển là cái biết, biết lần lượt ! Cho đến nên hình là người chủ xe, cỡi lại chiếc xe. Thân tứ đại của người, không phải như sắt, thép, lẽ nào lại chẳng tượng sanh cái biết và có hình : Cỏ cây kia ta còn thấy nó có cái biết lần thay ! Ấy bởi chấp thân, mà không thấy cái kết quả của thân, như nhìn cây mà không thấy hột của cây. Cây chết hột còn, thân mất cái biết còn. Chính cây sanh hột, chính thân sanh: tâm ! 
Vả lại sự sanh có bốn cách, nếu nói chỉ có tứ-đại : đất nước lửa gió là sự sống chớ không có cái biết sao ? Vậy còn ai biết cái gì đang hiểu đây, đang biết đó ? Biết là cái tập của tứ-đại, nếu nói tứ-đại mà biết thì đất đá kia, bảo nói chuyện xem có được chăng ? Còn nói chết rồi hết biết thì hỏi cái biết ấy đi đâu ? Lại nếu nói cái biết mới càng sanh thì cái biết cũ trốn đàng nào ?
Đời nay có thánh-linh-giáo, thần-linh-học, sao lại còn nói là không có hồn linh ? Chỉ có kẻ thật chuyên môn siêu-hình-học luận, mới nhận rõ-ràng được sự sống chết của cái biết linh hồn. Vậy nên câu nói ấy chỉ trúng có một khoảng đầu và trúng có một cách, trong bốn cách sanh thân kia vậy.
23. Hỏi: Xin nói cho rõ, thân sanh tâm hay tâm sanh thân ?
Đáp: Trước là thân sanh tâm, khi có tâm rồi, nếu luân-hồi, thì tâm sanh thân là lẽ sau.
24. Hỏi: Có phải mỗi linh-hồn đều sống mãi và tấn-hóa đến thành Phật chăng ?
Đáp: Có sống có chết, sống thì ít mà chết thì nhiều, nhưng lớp khác vẫn tấn lên mãi. Cũng như học trò đi thi, trong số mười chỉ đậu có một hai, kẻ đậu thì đi tới, kẻ rớt ở lại, hoặc đi ra, và còn kẻ khác mới bước lên nữa.
Mười cọng cỏ, có được một thành cây.
Mười cái cây, có được một sanh thú.
Mười con thú nhỏ, có được một con thú lớn.
Mười con thú lớn, có được một con sanh người.
Mười người, có một thành Trời.
Mười vị Trời, có một vị đắc quả Phật.
Cũng như một cái cây có lá một muôn, bông một ngàn trái một trăm, đến thành hột chỉ có mười và hột tốt lớn thì chỉ có một. Mà qua lớp nầy thì có lớp khác tiến ra nữa.
25. Hỏi: Cõi siêu hình Trời, Phật ở tại đâu ? 
Đáp: Không gian của vũ trụ bao la, vô số địa cầu thảy đều là "tứ đại", thì hết thảy, in như nhau, không khác, nào đợi phải đi đâu! 
Có thế giới đang có chư Phật nhiều, có thế giới đang có chư Thiên (hạng bậc trời nhiều), có thế giới đang có con người nhiều, có thế giới đang có thú vật nhiều, có thế giới đang có cây nhiều, có thế giới đang có cỏ nhiều, có thế giới đang có đất, nước, lửa, gió mới tượng. Cũng như loài người có xứ sở nào đó đang có ông già nhiều, có xứ sở nào đó đang có người lớn nhiều, có xứ sở nào đó đang có trẻ em nhiều, có xứ sở nào đó đang có phụ nữ nhiều, có xứ sở nào đó đang có nam nhân nhiều, có xứ sở nào đó người tu đang có nhiều, có xứ sở nào đó kẻ thiện lương đang có nhiều, có xứ sở nào đó kẻ ác đang có nhiều, có xứ sở nào đó đang vui, cười, có xứ sở nào đó, đang khóc lóc v.v…, nói chẳng hay cùng. Nhưng bởi địa cầu, thế giới là do tứ đại mãi lăn xoay, cho nên chốn nào cũng dời đổi, không thường, hoặc lâu hoặc mau. Vậy thì tâm của Trời, Phật, ở chỗ Trời, Phật, tâm của người, thú vật đến chỗ người, thú, tâm của quỉ, ma đến chỗ của quỉ, ma. Cũng có những kẻ lựa chọn chỗ tốt, xấu, hoặc đi qua thế giới khác, hoặc đi xứ khác, nhưng dẫu rằng ở đâu đi nữa, thì cũng không bền lâu. Tốt hơn là ở chỗ tâm mình, tâm mình tạo quyến thuộc cảnh ngoài, ai ai, sự việc, hay điều chi dời đổi, mà tâm mình: thì phải cho nhứt định, mới có yên vui được. 
Vậy nên phải lựa chọn cái tâm hồn, bằng được tâm thiện, tâm-huệ, tâm: "chơn", thì mặc dầu cảnh nào đi nữa, nó cũng vẫn tìm chỗ thiện, huệ, chơn của nó, và sẽ luôn chung cùng với quyến thuộc của thiện, huệ, chơn, để hưởng sự yên vui mà thôi. 
Trái lại ác, mê, vọng thì phải rối, khổ, chết, tiêu hủy, và ở đâu đi đâu cũng không được, lại chẳng bao giờ có quyến thuộc, thân cận. Đời nó bao giờ cũng: lẻ loi, lạnh lùng, trong bóng tối, thúi dơ, nặng nề, khổ sở. Sống cũng vậy, mà chết mất thân xác, rồi thì tâm hồn nó cũng vậy, nó ở theo cái tâm của nó. 
26. Hỏi: Người ta nói địa ngục dưới đất phải chăng ?
Đáp: Đức Phật nói rằng: giữa ruột trái đất là bộng trống tối, đen, lửa cháy, vách sắt, dưới sâu dơ dáy…là quyền-giáo ví dụ. Chớ thật ra, Thiên-đường là thiện-đạo, địa ngục là ác đạo, thiện là trên, ác là dưới. Kẻ ác trược là dơ-dáy, thấp-thỏi, sâu độc, tham lam là vách sắt, sân dục là lửa cháy, si-mê là tối đen, vật-chất là đất bao bọc nấm mồ. Muốn dễ hiểu ta hãy nhìn xem giữa buổi chợ đông thì thấy rõ. Cảnh do tâm, tâm nào thì hạp cảnh nấy, đợi gì sống chết và ở đâu đâu.
27. Hỏi: Do đâu mà kẻ nói chết còn, người nói chết mất ?
Đáp: Bởi kẻ ác nói liều, kiếp nầy làm ác vui chơi cho thỏa thích, đời sau sẽ tu cũng không muộn, nên bậc hiền thánh dạy rằng : Công-lý tương đối của vũ-trụ vốn công-bằng, được bây giờ thì mất về sau, được thân thì mất tâm, được ngoài thì mất trong, thái quá thì bất cập, sanh thì tử, nếu như đời trước không tu tập phước-đức, mà đời nay lại làm tội quá ác, thì e sau khi chết, linh hồn, cái biết, bị quả báo điên khổ mà tiêu tan, thì còn có đâu đời sau nữa mà hòng tu ?
Còn như kẻ ác nói ngang: chết là mất, nếu không làm ác vui chơi bời là khờ dại. Bằng như đời trước không làm tội gây nghiệp, kiếp nầy phước dồn đang hưởng, mà lại quá ác xài nhiều, có ra không vô, thì sau khi chết đi, linh-hồn cái biết chưa bị khổ, chưa bị khổ điên chết mất, đến lúc sanh ra đời sau, hết phước mà lại chịu quả báo tội nghiệp thì khổ lắm, chịu sao nổi ?
Thế nên, kẻ ác nói đoản thì Phật Thánh chỉ chỗ trường, cho nó biết tu mà nhờ lấy. Nếu kẻ ác nói trường thì Phật Thánh chỉ chỗ đoản, để giác-ngộ cảnh tỉnh mà cứu nó về sau. Đời sau kẻ chẳng rõ lẽ ấy, nên mới có câu: “ chết còn, chết mất”, chớ còn mất là tại nơi thiện hay ác của mỗi người gây tạo.
28. Hỏi: Tiêu diệt cả thân tâm bằng cách nào ?
Đáp: Kẻ ác, trẻ con, rủ nhau làm thiện là ít ai hưởng ứng. Bằng hô lên làm ác; giết trâu bò, thì lại rất đông nhiều, không kêu cũng tới, không mời cũng bu, một dao thêm một dao, một mạng thêm một mạng; Lại còn khen hay khoe giỏi vi-cánh càng to, thiếu chi người xu bợ. Cũng như kẻ lượm đất liệng lên không, có trớn rất mạnh, rất cao, hết trớn thì đứng lại và rồi rớt xuống, càng to lớn nặng nề, càng sa nhào mau lẹ, đã lún sâu mà còn tan rã mất hình-hài. Kẻ ác cũng thế, lúc đầu thì bạo phát và sẽ bạo tàn kế đó. Trước tập ác với thú, ác lần tới người, ác với kẻ xa, rồi lại ác với người gần là đồng bọn nó. Nó bị phản bội thế-lực tan rã, nó bị thương bơ-vơ, đói khát, tàn tật… mà bởi tánh ác đã quen cao, không hạ thấp xuống được, mới sanh tức khí, bất mãn, khổ giận, lại bị trả thù, ai ai đều ghét. Cái khổ làm cho nó ngây khùng mất trí, khổ quá bủn-rủn mất cả hành-vi cử-động. Gần như thú, chơi với thú, ghét loài người. Khổ nữa và thêm sự hành phạt cuồng điên, mất cả tư-tưởng, ghét thú, mến cỏ cây, ở nơi lùm-bụi; và rốt cuộc sự điên khổ đói bịnh hành phạt, làm cho đứt luôn thọ cảm, hết biết, mất biết, không còn biết; cái biết kết tập lâu ngày tan mất ! Kẻ ấy quá khùng điên không giảm làm mất thọ cảm, không còn biết cỏ cây thú người, và sự nhập thai, ăn uống chi cả, thì thân tâm tiêu-diệt, tiêu cả bóng hình. Cảnh khổ ấy gọi là địa-ngục vô-gián a-tỳ. Kẻ ác vương mang, thì không còn phương nào ai cứu chữa, và cũng khó lại gần nó, mà nào có ai thương tiếc gì nó đâu ?
KHỔ ĐIÊN CÓ HAI CÁCH:
Kẻ ác điên khổ thì tiêu diệt. Con người thiện vì lo, vì quá học mà điên, thì như đi nhảy cấp sụt thang, điên sảng chỉ một thời-gian thôi. Bởi nhớ hiền lương, có kẻ thương yêu săn-sóc, chăm-nom chiều-chuộng ở gần; nên chẳng bao lâu được tỉnh lại lần, như đứa trẻ tập biết lần lần khi mới lớn.
Nhiều bịnh điên nhứt là khổ vì tình-dục, chính khổ ái ân là lưỡi kiếm giết tâm hồn, diệt-tiêu cái biết đau đớn vô ngằn. Kẻ khổ điên vì tình mà làm ác thì mau chết lắm, nhưng nếu thiện lành là còn cứu-chữa được. Thế nên Phật dạy: Tình dục là cửa địa-ngục A-tỳ !
29. Hỏi: Nếu vậy ai cũng có thể tiêu diệt hết sao ?
Đáp: Đừng giựt mình, hãy làm thiện là tấn-hóa và nuôi sống mãi vậy. Lẽ sanh diệt tạo-hóa có chi lạ, thân cũng vậy mà tâm cũng vậy. Chớ nếu càng sanh mà không diệt, thì xưa nay đất đâu mà chứa hết chúng-sanh ? Nào riêng loài người, loài thú, cây, cỏ kia, sao không ai nghĩ đến mà thương-xót cho nó. Làm ác giết người, giết chết thân mà còn tâm, trái lại mình cái tâm đã chết, hột giống tâm đã dứt, còn thân thì sau sự vay phải trả, phải đền bù bằng cái chết. Thế rõ ràng là mình tự giết thân tâm mình đó ! Sự thật, xưa nay nào ai dám nghĩ đến, hoặc nhắc cho lẽ ấy, nhưng sao ta làm ác lại lo hoài và nhớ mãi, chỉ ngó tới mà chẳng tin rằng là có sự lui. Trong đời đâu có lẽ tốt hảo tuyệt-đối cho riêng ta vậy.
30. Hỏi: Làm thế nào mới thành Phật và sống đời đời ?
Đáp: Không khó ! Một con thú mới sanh ra người, chỉ biết ăn, kiếm ăn để sống và rồi chờ chết: nhưng lâu ngày nhàm chán mệt mỏi. Một hôm đi ra đường gặp kẻ đói khó hơn nó, nó liền bố-thí cái dư của nó giúp người. Nó được lời cám ơn và khuyến-khích, nó vui mừng sung sướng, nó no mát nhẹ nhàng, nó thấy hay hay mới lạ, và từ đó nó ham bố-thí, quên mình mà nghĩ đến người, mặc cho kẻ khác chê cười ngu dại, nó siêng làm việc cho kẻ chung quanh, để được vui trong tâm và làm gương trong cõi đời về sau cho trẻ nhỏ, nhờ vậy mà thân tâm nó càng được trong sạch, yên lặng và sáng suốt lần lần. Nó gặp được sự ích-lợi, thanh-cao, chơn thật, nó hiểu được con đường sống có ý nghĩa ! Nó làm phải cho một gia-đình, người ta coi nó như cha. Nó giúp cho cả làng tỉnh, người ta kỉnh nó như quan. Nó thương yêu cả xứ, người ta mến nó như vua. Ai cũng muốn gần nó, nương dựa dưới sự mát-mẻ êm-ái của nó. Khi trọn phận sự của kiếp người, bằng xác thân vật chất, thì nó chết, nó đi nghỉ mệt ở núi non, mà ôn nhớ lại sự lành, để cho tâm hưởng ăn no đầy khoái-lạc.
Trước khi nó chết, sau khi nó chết, đang khi nó chết, cũng có nhiều kẻ chết. Họ chết sau sự khổ nạn, họ tìm nó và đến ở chung với nó, để nhờ nó an-ủi dạy-dỗ tâm hồn. Lần lần xã-hội siêu-hình của nó càng đông, nơi đây nó làm vị vua Trời bởi người ta tôn, cũng như ông thầy giáo bước lần lên Đốc-học.
Kẻ thiện lành dầu câm cũng biết nói, nói lời lành ai cũng mến. Kẻ ác dầu học giỏi cũng như câm, vì chẳng ai nghe. Nơi đây nó tập nói, lần lần sáng trí hoàn-toàn giác-ngộ, thấu chơn-lý và đắc-đạo. Nó bước đi thêm một bước, để dạy đạo giải-thoát niết-bàn, và đi giáo-hóa khắp nơi cùng xứ. Cho đến khi thành-đạo to lớn, có người thay thế, nó bèn nhập-định hưu trí nghỉ ngơi (niết-bàn như-lai). Đến đây cái biết cứng đầy no vui-sướng mãi, nghỉ dưỡng đời, trường sanh bất-diệt. Hình bóng của biết đã trở nên một sức mạnh không tan, sắc vàng chói rực, muôn loại kỉnh thờ, gương lành giáo-lý phóng khắp cùng nơi, đời đời sống mãi, quét sạch bụi hồng.
Đó là từ thú đến người, đến Trời, đến Phật, mỗi bước đi lên, không tự cao chấp lầm đứng nghỉ, ấy cũng chỉ từ nơi cái thiện mà nên được.
Vậy chúng ta hãy, rán noi theo gương thiện lành nầy, đặng diệt trừ hết ác, làm Đấng trọn thiện trọn lành, lấy tình thương yêu dạy tất cả chúng sanh chung, bình đẳng, bác ái, không lựa chọn: nhỏ, lớn, giàu sang, hèn mọn, thì mới chắc: cầu mong thành Phật sống đời, yên vui, không còn rối, khổ ? 
Vậy thì ai ai cũng nên là Phật hết. 
Tổ sư Minh Đăng Quang. 

Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
"Bấm vào chữ Dịch bên dưới" !  <= (mở trang nầy! trước khi Dịch ! đã có liên kết trang!)
(Hãy bấm  quay trở lại ! Sau khi đã copy bản dịch hoàn chỉnh !) (Copy văn bản dán vào ô Dịch)

Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Pháp
Phát hiện ngôn ngữ
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Trung (Giản Thể)












Tiêu đề của tôi





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét