Chủ Nhật, tháng 9 22, 2013

12. "Y-Bát Chân Truyền" ; "Robe-Bowl Truthfulness Communications"

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 12
Practice self-taught English translation: No. 12
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 
Thực hành đọc Chơn lý ; Practice reading Truth
Y-bát "Chân-Truyền"
Robe-bowl "Truthfulness-Communications"
(   )
( Trang 180-195 ; Pages 180-195 )
"Y-bát" là mảnh áo, chén cơm ; "Robe-bowl" is a piece of clothing, a bowl of rice.
—Sao gọi là: y-bát "Chân-Truyền" ? - Why Called: "robe-bowl", "Truthfulness-communications "?
—Bởi, đạo Phật là đạo: Khất Sĩ, Du hành Tăng lữ: con đường của bậc giác ngộ ! ; Because Buddhism is a religion: mendicant, Travel clergy: the path of enlightened! Đi theo con đường ấy, là đến với Chơn lý vũ trụ, để đạt mục đích Niết Bàn; Follow this path, is to cosmic Truth, to achieve the purpose of Nirvana; Khất Sĩ "y-bát" là bậc thượng-trí huệ, sau sự học của lớp thế-gian. ; Mendicant "robe-bowl" is the upper level-wise, after the school of earth layers. Kẻ du học ấy, phải đi xin ăn, mặc một bộ "áo" ba mảnh và một cái chén đựng chứa đồ ăn, để nhẹ mình lo tu học, và đi khắp xứ ; Who study it, to go begging, wearing a "shirt" three-piece and a bowl containing food, to his mild concern in practice, and go through the land.
Muốn vào hàng ngũ Khất Sĩ, phải có "chân sư" truyền dạy ! Bằng chẳng như vậy, sẽ ra người khất-cái, kẻ ăn mày, đê tiện tội lỗi mà chúng lại khinh khi, nếu quả thật là một người "Khất Sĩ", có "Chơn Truyền" đúng phép ! Mới xứng đáng là một đệ tử của Phật, rồi sẽ tới địa vị của Phật, ai ai cũng sùng tôn lễ bái. Khắp cả Trời, người, ít ai mà làm theo được, nên phải giúp công ủng hộ, tiếp đón, cúng dường; Thế nên từ xưa tới nay, kẻ nào được "chân sư" xét xem chọn lựa, trên hai năm kỹ lưỡng đủ thiện-căn phước đức, nhân duyên, mới chịu dạy truyền cho giáo lý y-bát ấy, để tách khỏi xa thầy một mình đi ra tu học thành công ; So from ancient times until now, those who are +> "masters" consider options, thorough enough in two years charity-based merit, causes and conditions, subject to teach new doctrine commanded his robe-bowl, to split from afar he alone come out successful practice. Thế nên sư được ban truyền-y-bát, rất kỹ-lưỡng khó khăn, mà kẻ nào thọ lãnh được là vinh-hạnh lắm, rồi sẽ nối chí giống hệt tổ thầy, nối truyền chơn đạo, nên khắp Trời người đều uy-tín, hy-vọng cho kẻ đó sẽ đắc đạo buổi tương-lai vậy. Vã lại con đường của Phật rất cao-viễn, như tận trên chót núi cao xa, người mà không cẩn-thận ắt sa xuống hố thẳm sâu địa-ngục, nên sự hành đạo là một còn một mất, một thắng một bại, một Phật một ma, nếu phải Khất-Sĩ là ở Niết-Bàn, bằng ra Khất-Cái là con ma đói ở trong địa-ngục. Vậy nên Y-bát chơn-truyền, xưa nay là giáo-lý riêng đặc-sắc của thầy tổ trao dạy, một thầy chỉ có một trò thôi, quí báo vô cùng nhờ đó đạo Phật mới được nâng cao, và mãi mãi bền dài không dứt tuyệt.
—Sự công dụng của "áo", "bát" ra sao ? ; The Use of "clothing", "bowl" like?
—Bởi Khất-Cái với Khất-Sĩ cũng tương tợ in nhau, vì kẻ gian manh muốn sắm áo bát bao nhiêu cũng được, vậy nên người Khất-Sĩ phải có thật học, phả đủ đức-hạnh, phải có chơn-tu mới gọi đúng danh-từ Khất-sĩ. Gía trị của Khất-sĩ với Khất-cái khác nhau rất xa, một Trời một vực, kẻ Khất-Cái tàn tật mới đi xin, tham-sân-si tội ác chẳng tiêu trừ, mà trái lại Khất-Sĩ là kẻ thông-minh trí thức, hiền lương mạnh khoẻ, mà lại đi xin ăn nuôi sống, mới là sự chướng ngại xốn mắt kẻ thế-gian, là việc làm mà ít ai thấu hiểu, bởi quá cao thâm, vậy nên Khất-Sĩ phải có những đức tính hơn người, thấy chắc kết-quả mới đứng ra thực-hành và làm cho thế-gian kính trọng, chẳng dám khinh khi đạo Phật. Đạo Phật xưa nay ai cũng cho kỳ lạ, mới đạt được cái kết-quả kỳ lạ ấy! Tuy nói thế chứ thật ra đạo Phật, con đường của bậc giác-ngộ là đúng phải, chớ có đâu kỳ lạ, mà chúng-sanh thì đã quen ở trong cảnh kỳ-lạ mãi mãi lâu ngày, nên hầu như là vừa thấy gặp, cho là khác mắt trong giây lát. Vậy nên lời Phật có dạy: Đạo là thường, vui và có ta, và thế-gian là vô-thường khổ não không ta, là bởi nơi kỳ hay, mới lạ của sự say-sưa vấp té lội sình kia đó.
Xưa kia cổ nhân mặc áo vỏ lá cây, mảnh manh lá miếng, chẳng có tay ống áo quần may vá, dưới cái chăn trên tấm choàn, khi đi đâu thì phủ thêm một tấm choàn vấn lớn từ trên tới dưới, đêm đến lấy đó làm mền, nên được thông-thã rảnh-rang, không điều phiền phức, không có cất giữ dư, để giành cho cắp trộm, khi rách mất thì mới sắm thêm cái khác, bỏ ra cái cũ, lúc nào cũng mặc một bộ trong mình, không làm tôi tớ cho áo quần dư dả. Muốn đi đâu, ở đâu, vào lúc nào cũng được, không điều chi nán lại, cũng như rể có dính liền với cỏ, như lông da thú dính sát với thịt xương, cho nên lúc nào cũng rảnh trí thanh-nhàn thung-dung khoái-lạc. Thân như vỏ trái chín mùi đen xấu, mà tâm trí bên trong cứng, chắc lại ngon thơm.
Trẻ nhỏ mới sanh mẹ cha lót cho miếng tả, khăn choàn vải đậy, cũng là bộ tam-y như người xưa, ông già khi sắp chết bệnh đau, cũng phải chỉ mặc chăn, vải choàn và mền đắp, tam-y như trẻ nhỏ. Đến chết tắm rửa, liệm đem theo cũng tam-y đó vậy. Người Khất-Sĩ mặc tam-y, để dứt trừ tham vọng, ngăn ngừa kẻ ác đoạn diệt phiền-não, trong tâm trong sạch nên gọi là y thanh-tịnh, cũng gọi là y- giải-thoát, áo rảnh-rang hay là y trẻ nhỏ, áo ông già, y cổ-nhân, áo người trí, y của kẻ chơn-như v.v…
Xưa giống loài người sanh tại chân núi Hy Mã Lạp Sơn trung-ương Ấn-Độ, mặc áo choàng, lần lần tản mác sang phương tây xứ lạnh, mới sắm mặc bố bô dầy nóng, tập làm máy móc công nghệ, mới may thêm có nút, có ống có tay cho lanh gọn.Về sau Phuơng Đông tập nhiễm sắm áo quần, lại còn chế ra mỏng-manh trơn láng tuỳ theo mùa nóng lạnh, cho đến ngày nay, không còn vì cái mặc che thân đậy bệnh, mà còn trau chuốt se sua, phô bày bóng dáng, nay vầy mai khác thay đổi vô-thường, khổ não vì quần áo và cũng chưa biết được cái ta đã định, của ta là thứ cách kiểu màu nào chắc-chắn, thả cho cái ý buông-lung lựa chọn, hành ma tác quái, biến thuật nhiệm-mầu, xúi kẻ gian tham, xúi người bày sanh giặc-giả. Cũng có kẻ sau khi hưu-trí, sau buổi việc làm trút hơi thở dài, bằng sự cởi bỏ áo quần, vận chăn đóng khố, vai vắt khăn lau, đi tắm dưới sông hay trong phòng kín, lấy làm sung-sướng mát mẻ khoẻ khoắn, say sưa với cái hay của sự mặc rảnh-rang sau cơn khổ nhọc. Trong lúc ấy có kẻ lại sợ áo quần, khổ sở và ao ước sự thông-thã mà mặc chăn đơn, chán nhàm với áo quần lao lực, ghê tởm những y-phục se-sua, sợ sệt cho cái tham sân-si dối giả, của đời ác trược ở nơi quần áo. Có người lại ao ước cái mặc chơn thật, cái mặc có ta, cái mặc thường bền, cái mặc yên vui của người Khất-Sĩ, muốn trở lại thanh-nhàn, nương theo lẽ phải, để tìm lo tu học, mà đã lỡ bước vướng chơn rồi, khó bề lui tới, thật là rất thương hại cho giùm.
Con người cũng vì sự mặc lành tốt, miếng ăn ngon, chỗ ở đẹp, thuốc ngọt thơm, mà phải chịu chết với nhau, kéo nhau vào hố độc thụt lùi vô hang tối, dầu biết đó là chỗ chết, chỗ tiêu-diệt, khổ điên cuồng, nhưng bởi sự lôi cuốn rủ-ren, sự đua chen cám dỗ, bởi trớn nặng té ngã của số đông người, nên kẻ yếu sức khó bề đứng gượng, cũng phải chịu sự xô-nhào chúi-nhủi như ai, thật đáng thương thay. Thế thì cái mặc áo vá bô dầy, lượm xin vải bỏ, đâu lại chầm khiếu, màu dơ nám xấu, dùng sự ăn xin rau trái trộn lộn, chỗ ở cốc lều hang bộng, thuốc uống cỏ cây, của người Khất-Sĩ giác-ngộ kia, chẳng là sự duy-trì phong-hóa cải sửa cuộc đời, thức tỉnh cho người, chỉ đường nẻo sống, dắt đến chỗ yên-vui, chống ngăn cơn sập đổ, cứu vớt biết bao người, ích-lợi biết bao nhiêu, và có gì đâu khó hiểu.
Cho đến miếng ăn của người Khất-Sĩ cũng y như vậy, cổ nhơn xưa ít quen ăn lạm xạm, ở không, ngày ăn một bữa, cũng đủ no lòng, xin nơi rau trái, ở nơi vườn rừng, khi vào xóm dạy đạo cho người, không chút rảnh-rang, nên phải đi xin nơi người dư-giả, xin của học trò, xin nơi người từ thiện, xin chén cơm dư thừa thải của kẻ tối-tăm, cái xin tốt đẹp nơi người cho, xin để kết-duyên bạn đạo, xin để giáo-đạo, cảm hóa, nhắc nhở tâm người, cho họ nhớ lại thuở ngày xưa.
Khất-Sĩ giống như người chết ông già, hay trẻ nhỏ mới sanh, hoặc như người bịnh, giống kẻ cổ nhân, in như người đi du-lịch, nào khác kẻ dạo đồng, tắm biển, hứng mát bờ sông, đi đâu chỉ đem theo cái chén to bằng đất để đựng đồ ăn là đủ. Vừa là để tránh sự bối rối thiếu hụt, tay không khi đến bữa ăn, vừa là gọn tiện, một cái chén đủ đựng chung ăn trộn, để khi vào bụng rồi, thì nó cũng lộn xộn in nhau. Một cái chén to, một lon nước uống, một muỗng múc đồ ăn, đủ làm của cải theo mình đi đây đó, trọn đời không lo cất giữ, áo bá-nạp tháo ra, vá may lại nhiều miếng, dầu có kêu cho cũng không ai lấy, bát đất như nồi thố đen thui, quên bỏ chẳng ai giành, bán chẳng ai mua, nài không ai nhận. Cũng như thân mình chết bỏ, vật tạm chẳng tiếc ham, khi rách bể, xin nơi giàu nghèo ai ai đều sẵn có, trộm cắp chẳng rình mò, nằm đêm không lo sợ, thong-thã rất thanh-nhàn. Muốn nhập-định lúc nào cũng được, muốn chết lúc nào cũng an, học gẫm điều chi không xáo-trộn, bằng mất hết cũng không nhìn, một hột gạo cũng không, một đồng xu không có, chẳng cất dành đem một món ăn chi, không một miếng vải dư, giờ trưa xin đủ ăn, có dư thì bố-thí, đặng để có thì giờ nuôi trí.
Điều quý nhứt của người Khất Sĩ là sự giữ gìn giới luật:
1) Cấm: sát sanh. (người, thú, cây to)
1) Prohibition: killing. (people, animals, big trees)
2) Cấm: trộm cắp.(của người, thú, cây to)
2) Prohibition: thefts. (of people, animals, big trees)
3) Cấm: dâm dục.(với người, thú, cây to) (thọ-thần)
3) Prohibition: sexual immorality. (with people, animals, big trees) (feeling-gods)
4) Cấm: nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.
4) Prohibition: lie, brag, piercing, verbally abusive.
5) Cấm: uống rượu, tham lam, sân giận, si mê.
5) Prohibition: drinking alcohol, greed, anger, delusion.
6) Cấm: (trang điểm) phấn, son, áo quần hàng lụa tươi tốt. (như kẻ sang giàu)
6) Prohibition (makeup) powder, lipstick, lush silk clothing. (as to the rich man)
7) Cấm: nghe, xem hát, múa, các nhạc cụ, kèn, yến tiệc vui đông người. (như vị quan lại)
7) Prohibition: hear, see singing, dancing, musical instruments, trumpet, large banquets fun. (as the officials)
8) Cấm: ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếc chiếu lớn xinh đẹp. (chỗ xinh đẹp như ngôi vua)
8) Prohibition: seat height, wide bed, large mats beautiful. (beautiful place as king)
9) Cấm: ăn sai trái giờ từ quá ngọ đến ngọ mai. (phải ăn chay !)
9) Prohibition: eat the wrong hour from midday to midday tomorrow. (to be vegetarian!)
10) Cấm: rớ đến tiền, bạc vàng, của quý, đồ trang sức.
10) Prohibition: touch money, silver and gold, of precious jewelry.
Để tập tâm chơn, lần giữ oai-nghi hạnh-kiểm 250 điều, cử chỉ đoan-trang nết-na đầm thắm, không chung lộn với kẻ vậy tà. Nơi cốc am ngoài đường xá, vào xóm nơi rừng đi đứng ngồi nằm, ăn mặc nói làm, thức ngủ sống chết, thân tâm trí tánh, thảy ôn-hòa nhả-nhặn, từ-bi trống rỗng. Sống với chúng-sanh chung, bình-đẳng không trói buộc, hỷ-xả chằng câu hềm, tâm thì nhập-định vắng êm, trí-năng soi ra cắt đứt điều ô nhiễm. Chỉ lo tập tánh chơn-như, hằng ngày lòng không vướng mắc, chẳng buộc ràng, không hơn thua cùng ai cả thảy, ai có duyên đến hỏi thì chỉ dạy, nói vài lời, không việc thì nghỉ yên, không tìm vọng động ác quấy, khoẻ-khoắn biết là bao. Ấy cũng nhờ y theo nơi chơn-lý, chánh-pháp của võ-trụ: Là sự ăn mặc ở bịnh chẳng lo, mới được yên vui như vậy, ăn phải đi xin, mặc áo vải vá, chỗ ở lều lá gốc cây, bịnh không tự lo tìm thuốc uống. Nếu là ta sống có lợi-ích lại cho người, thì người khác họ cũng sẽ sống có ích-lợi cho ta, y theo lẽ tiến-hóa, chẳng bảo cho ai, tự lo lấy mình và không để cho ai có lòng tư-kỷ, mà kẻ nào sái đạo-luật, thì phải bị phạt răn khổ-sở thất bại đau sầu.
Gía trị của người Khất-Sĩ là mắt tai mũi lưỡi miệng thân ý phải cho trọn lành trong sạch, do nhiều đời trước có tu hiền, phải là người có tu tập bố-thí, phước lành không bỏn-xẻn, phải là người có nhơn-đức biết thương yêu cứu giúp chúng-sanh, không tham sân si tật đố, ích-kỷ tự-cao, phải là người trước có nhơn-duyên gặp Phật, nghe Pháp gần Tăng, tập giữ giới-hạnh, hoặc đã có theo hầu thầy được dạy dỗ. Người Khất-Sĩ phải có đủ điều kiện của một người học trò, không dính dấp con, vợ cửa nhà, bệnh hoạn, thiếu nợ, tà ma nhập xác, hoặc kẻ trốn tránh, tội-lỗi chi chi, phải trên mười tám tuổi, phải hiền hậu thông-minh có nết hạnh…
Đời Khất-Sĩ phải là khổ cực không-không, xem mình đã chết, chỉ sống bằng tâm hồn, nơi cõi nầy cũng như nơi cõi khác, năm nầy cũng như những tháng kia, chỉ biết một việc lo tu học, cho mau tấn tới mà thôi. 
Những ai mới vào tập sự coi khá, thì cho mặc y-bát tạm một thời-gian, hoặc từ hai năm, nếu được thì cho nhập đạo, bằng xem-xét không được thì cho trở ra về thế, vì sự lựa chọn kỹ-lưỡng bậc hiền đức siêu-nhân cho nên đạo Khất-Sĩ Y bát tuy ít mà lại rất cao, người tội-lỗi khó bước lên, kẻ tự-cao khó bước xuống, trong đó thảy thuần-thục như nhau, sự tà ác vô-minh khổ-não không sao có được nên mới gọi Giáo-Hội Tăng-Già, là cõi Niết-Bàn hữu dư trên mặt đất hiện tại. Mà không xã-hội gia-đình nào ví sánh sự hòa-hiệp yên vui của đạo cho kịp. Cho nên đạo là trên trước quí báu hơn hết trong đời, Giáo-lý Y-bát không phải dễ, không phải tự ai muốn bước ra hành là được, nếu kẻ bắt chước ham vui, hoặc không thông chơn-lý, chẳng có giới-hạnh, không hiểu chánh-pháp, chẳng biết cách tu-học, không rõ sự quí giá của muôn đời, chẳng nếm được mùi vị của Niết-Bàn đạo-lý, thì khó mà thật-hành, khó mà chắc chắn bền dài, khó mà giữ hạnh đắc-đạo và nhứt là sẽ bị ma-vương phá đổ, chư thiên xô đùa, nhơn loại bắt tội, thú dữ hại thân, với dễ gì đủ can-đảm diệt lòng tự-trọng, để đứng ra đi xin ăn, bữa no, bữa đói, thấp thỏi ăn mày cho chúng khi ngạo chửi la, làm như kẻ tội nhơn bị sa thải phải mặc áo tù, đầu cạo trọc, xấu hổ hơn kẻ tật nguyền. Bởi vậy cho nên từ xưa tới nay, đứng ra dẫn đầu lập đạo thì chỉ có chư Như-Lai Bồ-Tát, bậc Chánh-Đẳng Chánh-Giác, đại-hùng đại-lực, đại từ-bi hỷ-xả, mới thật hành được. Và từ sau đó, Tăng-đồ nương theo nẻo sẵn mới dễ-dàng đi. Chớ bậc vua Trời người, tuy cũng hiểu thông lẽ ấy mà ngán sợ nỗi thi hành lâu năm nhiều tháng, chán nản rớt rơi té nặng. 
Thật vậy, đạo Khất-Sĩ Y-Bát nguy-hiểm lắm, khất-sĩ cũng như người tướng xông pha vào dinh giặc nghịch, chỉ có kẻ đã đắng đo xét kỹ, mới dám bạo gan liều mình bước vào quảy bát mang y, chịu khổ sở hơn người tật bịnh. Ấy vì giáo-lý quá cao siêu như mũi dao xoay ngược nguồn đời, cắt đứt tung lưới sắt, đập bể chuồng đồng của thế-gian địa-ngục, để cứu người thì tránh sao ai nấy vì cảnh quen chóa mắt, mê-muội hiểu lầm, mà chém, đâm đánh giặc, đập phá hại đạo, lật đổ đả đảo lăng-xăng, dầu ta có lòng thương vì họ, muốn lập đạo cứu đời, mà mắc phải chúng-sanh nó đi thù nghịch trở lại hại ta, khiến nên sự lo chống đở mệt nhọc, nguy hiểm gây go khó bề đứng vững, vì thế mà lắm nhà sư y-bát thối chí ngã lòng, hoặc tức giận chúng-sanh, mà quay lui bỏ xụi. Sự khổ cực bền gan ấy, cũng như kẻ đầu tiên mở lối chông gai nơi rừng rậm, như sự thương người giải-cứu, mà tất cả trở lại trả ơn cho lòng tốt ấy bằng cách đáp oán gây thù, ta phải bị chúng vây giết hại, vì chúng đã mắc phải bùa độc sảng mê, nên trở làm quyến thuộc ma-vương chướng ngại. Vậy nên không phải lòng từ-bi trí-huệ sáng suốt dõng mãnh như Phật, dễ gì thắng giặc ma-vương cứu tử cháu con, bắt đem về giác tỉnh, để lập thành nền đạo vững chắc trong đời, ấy cũng bởi đạo quá cao thâm, vì đời thương giải cứu, nhưng chúng-sanh đâu rõ cho là kẻ đi phá nghịch nhà họ, nên lo chống báng, khiến kẻ hành đạo thật rất gian nan. Nhưng cũng nhờ có sự gây go ấy, nên mới ít người khất-sĩ, mà kẻ nào được bất thối vô sanh tức thì nên đạo, đó cũng tức là trường thi, nơi sàng lựa chớ không phải là Niết-Bàn, là cảnh dễ đến cho người chưa tắm sạch, mà được hưởng quả yên vui, nhứt là đối với kẻ thân miệng ý chẳng hay ngừng, và những người trẻ con xao-xuyến, thì chẳng bao giờ có được cái vui hay của bậc ông già hưu trí nín nghỉ ấy được.
Đó là về sự của y-bát, còn giáo-lý y-bát chơn-truyền nghĩa rằng: Y là Pháp, Bát là Đạo, tức là đạo pháp đường chơn truyền dạy, có y-bát mới có chơn-như. Luật-pháp cũng như manh áo che tâm, sự đi sưu-tầm gom góp kinh luật, luận cũng như lượm từ miếng vải đâu kết lại, cho thành kho tạng. Xưa kia đức Huệ-Năng xin chủ đất một lỏm đất đặng trải y, khi đem y-pháp giáo-lý banh trải, hoằng dương truyền bá ra, bằng sự nói pháp, thâu dạy đệ-tử mở khai chánh-giáo, có đến số muôn người, cho nên chật bít cả miếng vườn to, Tăng chúng ở còn thiếu chỗ, mà áo pháp vẫn cò chưa mở banh ra hết. Áo đây tức là pháp-bảo, giáo-lý để đậy che pháp thân là: Kinh-Luật-Luận, cũng là thân đạo, thân của Phật, tức là chơn thân, thân to lớn. Áo của nhà sư cũng như giáp sắt, nhờ mặc nó vào đi xông pha khắp cùng thế-giới, đến đâu cũng được, tà ma ác thú thần quỉ chẳng khá lại gần, nhờ mặc nó mà nhẹ bay trôi khắp cùng thiên-hạ, che cả thân tâm, mà đùm bọc cho biết bao nhiêu kẻ khác. Mỗi miếng vải vá, nhà sư xem như là một điều luật, một câu pháp, một bài kinh, mặc nó vào tâm hồn yên vui thơ-thới, nhờ thanh-bần đơn-giản, mới sống mãi lâu đời tâm hồn sẽ được giàu sang vô-tận.
Áo ấy Trời người khó mặc, mặc mà hành không đúng, ắt phải họa tai. Áo vá ngăn ranh như ruộng đất, ý-nghĩa nó là ruộng phước cho chúng-sanh, hễ ai tìm gặp là mau nên lựa giống đặt gieo-trồng, áo ấy cũng gọi là y nguyên chơn thật, cội nguồn không sửa đổi, y như hồi xưa ông già, trẻ nhỏ, kẻ chết, cổ nhân, y như người rảnh-rang không vọng động. Cũng gọi là đúng Y chơn-lý, Y như luật tiến-hóa mặc nó vào, cuộc đời đã định, muôn kiếp chẳng đổi dời, bao giờ cũng vẫn y nhiên như nguyên, áo vá mà lành, có nghĩa là pháp thiện lành, gom cả chúng-sanh khắp nơi chung hiệp, kết liền làm một cái thể lành để che thân tạm, mà nuôi tâm trí, ấy là giáo-lý chúng-sanh chung, bình đẳng hiệp hòa, trọn lành kính đáo, chẳng để rách, thiếu trống hở trần tâm. Cũng gọi là áo chơn-như không vọng động, cũng gọi áo lành không rách, là thiện lành sống chung không ác hung chia rẽ, cũng là áo giải-thoát khổ, hay gọi giáo-lý yên-vui. Cái Y mặc, mặc vắng lặng, Y như võ-trụ.
Còn cái Bát là thể của Bát-Chánh-Đạo, đạo Bát-Chánh ví như bầu đựng cơm, đạo như bầu võ-trụ, tâm chúng-sanh như cơm, đồ ăn chứa mang vào trong đó, bầu đạo-đức để rộng chứa quần-sanh, hay là lòng từ-bi của chư Phật hằng ôm giữ. Khi xưa đức Phật Thích-Ca liệng bát xuống sông Ni-Liên, bát nổi trôi ngược một khoảng xa rồi chìm xuống đụng khua cùng bát chư Phật quá khứ, kêu nghe rổn-rảng, có nghĩa là: Ngài thã đạo Ngài xuống chốn sông mê, nổi lên trên cao ráo, trôi ngược trào lưu, qua trên bốn chục năm đi dạy đạo, Ngài mới đứng lại, và Ngài ngưng nghỉ vào Niết-Bàn, hiệp cùng chư Phật quá khứ, thì tiếng đạo lại vang dội lan-tràn, khắp nơi túa rộng.
Chính đạo Phật là đạo Bát-Chánh, là đạo Khất-Sĩ mới có bát-y, là con đường đến Niết-Bàn kêu là đại-đạo, đường đi ngay thẳng chỗ chứa tâm người. Trong trần thế nầy chỉ có đạo ăn xin là đến nơi rốt ráo, là con đàng đi tắt, mau đến chỗ thành-công, dầu là hạng bậc nào, mục-đích gì mà kẻ thật hành, kiên tâm trì chí, nhẫn nhục, khổ công, xin ăn khó nhọc, lúc buổi ban đầu, thì đến sau cũng sẽ được thành-công, đắc đạo hưởng quả trên người, vì càng khổ nhọc, sẽ là càng sung-sướng, làm trước hưởng sau, nhơn quả vốn không sai chạy, vậy thì những ai:
Muốn làm vua, trước cũng phải đi xin ăn, dồi đức.
Muốn làm quan, trước cũng phải đi xin ăn, học hành.
Muốn được giàu sang, trước cũng phải đi xin ăn, tu phước.
Muốn học sĩ, nông, công, thương, trước cũng phải đi xin ăn, đặng trau tài.
Trong đời hạng bậc nào trước chẳng có đi xin ăn khổ nhọc, thì ngày sau khó được nên công phú quí, đó là đi xin ăn nhịn chịu thiệt thòi một lúc, để tích-trử phước dư, đặng ngày sau ngồi không ăn hưởng. Mà còn phải đi xin thay, huống hồ giáo-lý y-bát, Niết-Bàn là sự không tiêu sài phước-đức, mãi tích-trữ thêm hoài không lấy bớt, mười phần thêm chỉ hưởng bớt ra ba, còn bao nhiêu chia sớt bố-thí lại cho chúng-sanh, kết duyên thành quyến-thuộc cho thêm sanh lời nẩy-nở, tự mình đi xin mãi mãi, vật-chất miễn đủ dùng nuôi thân mỗi ngày, còn tinh-thần công dư vạn bội, hưởng sự hạnh-phúc nơi thân tâm trí bền-bĩ, há chẳng đáng quí hay sao? Vậy ta nên nhớ rằng: Muốn không công mà trông mong thọ hưởng mãi, là nguồn gốc của sự thất bại.
Bởi vậy cho nên, những ai khi đã bước chân vào đường y-bát, dầu thiếu trí-huệ ở Niết-Bàn, thì cũng được hưởng phước lạc của thiên-đường, bằng không được thiền định, chỉ có điều trì-giới, thì cũng được làm bậc người trên trước, nhờ sự giữ giới của y-bát mà tránh khỏi địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, A-Tu-La bốn đường ác đạo như vậy, là oai lực của y-bát rất thần-thông mạnh-mẽ linh diệu đó. Giáo-lý y-bát không còn có nương theo văn-tự, lời nói việc làm, người Khất-Sĩ chỉ có ba pháp tu học vắn tắt là: Giới, Định, Huệ, bởi giữ giới y-bát là giải-thoát mọi điều trói buộc, phiền não ô-nhiễm rồi, nên bằng được thông-thã rảnh-rang, ở trong cái thật cái không xao-động, chỉ còn có nhập-định và tham-thiền, tức là vừa học trong trí-não, vừa để tâm yên lặng, đứng ngừng. Gọi là tâm nghỉ ngơi, và trí làm việc khỏe, làm mệt trí, khi trí làm thì năng sinh huệ, lúc tâm nghỉ thì phát thần-thông: cho nên, quả linh và tiến triển nhiệm-mầu, mà người Khất-Sĩ thì không có phút nào gọi là lêu-lỗng, nhưng đối với sự làm việc định-huệ ấy, không có tướng hình chi cả, nên xem bề ngoài như kẻ ở không. Vậy thế thì giới-luật là Y-bát, Khất-Sĩ là Định, Huệ, nếu Khất-Sĩ không có tu về định-huệ, dầu mà có trì giới không đi nữa, cũng chưa gọi được trọn là Khất-Sĩ, vì chữ Sĩ đây là sự học đạo-lý với quả linh, bằng pháp tu định-huệ, tu tức là học, hay học tức là tu, bởi tại hành mà , sanh ra học. Tu học định-huệ là do giới y-bát Khất-Sĩ, như vậy là trong tiếng Khất-Sĩ, đủ gồm cả Giới, Định, Huệ, có giới hạnh mới được làm Khất-Sĩ, nên trước khi vào đạo cũng phải học giới và tu tập cho thuộc nhuần, chỉ có giới-luật là bằng văn-tự, bằng sự học nơi bề ngoài, tiếng tăm hình sắc mà thôi. Bởi vậy, cho nên từ xưa đệ-tử Phật quá đông, lắm kẻ không gặp, nghe giảng dạy, chỉ được có điều giữ giới, hành theo tứ-y-pháp của y-bát, sống thanh-khiết về ăn mặc ở bịnh, như vậy là được ở trong cảnh thật rồi, lần hồi suy-nghiệm tìm hiểu nơi giáo-lý của mình, mà mãi lo tịnh dưỡng an nhiên, nên lâu ngày cũng đắc đạo. Chứng quả A-La-Hán như Phật được.
Thế nên lời Phật dạy rằng: Trong giới có chứa sẵn định huệ đạo quả rồi, trong luật có chứa sẵn kinh-luận rồi, như vậy thì quả linh vào đạo-lý đã là có sẵn trong y-bát đó rồi, dầu Phật không nói ra, chớ kẻ nào hành y và chú tâm nhận xét thì sẽ được học ngay, cũng cầm bằng như là đã được ngồi gần bên Phật, và được hiểu cả tâm trí của Phật, như thế nghĩa là: Bao nhiêu giáo-lý pháp-bảo kho-tàng của võ-trụ, đều đã để sẵn trong y-bát hai tiếng Khất-Sĩ cả rồi, kẻ nào sáng trí định tâm bươi ra, là dùng xài mãi mãi, khỏi đợi phải ai truyền dạy, điều ấy để chỉ rằng: Kẻ nào giữ y-bát theo giới luật lâu đời mà không thối chuyển, thì sẽ lần hồi đắc-đạo. Nhưng lại dễ gì mà không thối-chuyển sa-ngã, nếu kẻ ăn cơm chẳng biết mùi vị, vậy nên chỉ có người nào có trí biết phân biệt miếng ăn của mình, thì mới được yên tâm sống mãi, lớn lần kết-quả. Có y-bát không chưa đủ, vì nếu ta còn chen lấn nơi chỗ yêu ma náo nhiệt, thì tránh sao cho khỏi bị người cướp giựt, hoặc rớt bể rách tan. Bằng muốn bảo tồn y-bát, thì phải cần giữ-gìn giới-luật, có giới luật ngăn ranh ủng-hộ, ta mới được yên tịnh tự-do mà học hành tinh-tấn, ấy vậy, giới luật là y-bát chơn-truyền, kẻ nào giữ được mười giới, là sẽ được tập-sự đắp y ôm bát. Nhờ có được y-bát mới đến thẳng đường chơn lẽ thật, để sống đời an hưởng nơi cõi tự nhiên của tinh-thần bất diệt, ở cảnh vui tột cao siêu chơn phước. Thế nên những ai muốn được y-bát, thì phải tập học giữ-gìn giới hạnh, có đủ giới hạnh, mới được thọ trao giới luật y-bát, và cần phải nhờ thầy dạy thêm cho trúng cách tu theo định huệ, sau lại mới sẽ tự mình đi tới, đi tới chỗ ý muốn của tự mình.
—Có những người tu, mà không cần đắp y mang bát được chăng ? There are those who cultivate, without robes carrying bowls are reasonable?
—Tu học lớp nào lại không được, miễn là cho vừa tới trình độ chí hướng tạm thời. Nhưng đối với quả giác của Phật thì ngoài cách y-bát ra, không thể đắc đạo được. Cũng có lắm cách tu luyện công phu, đắc thần-thông quả linh làm tiên trời, nhưng vì ở một chỗ thì không toàn giác được, vậy nên tuỳ theo sở chấp, kẻ thì thích tu học giới, để phát định huệ, kẻ thi tu học định để phát giới huệ, kẻ thì tu học huệ để phát định giới, sở chấp nào buổi đầu cũng được cả, nhưng khi đến đủ cả ba rồi, thì ai ai cũng y-bát ta-bà như nhau, còn kẻ nào đi ngay giới định huệ đều đủ một lượt, thì y-bát phải có mới được. Nếu kẻ tu không y-bát thì dầu cao giỏi bậc gì, cũng không thành Phật, không thể gọi Phật, bởi đạo Phật là trung-đạo, vừa vừa, chớ không cao thái quá như bậc Trời vô-sắc, chính sự hay giỏi của thái quá bất-cập là nguyên nhân khổ bởi không thường, cho nên đạo Phật tuy thấp hơn Tiên, ở bậc trung mà gọi là đạo chơn-thường giác-ngộ, đạo của võ-trụ càn-khôn, đạo của chúng-sanh người trí. Vả lại Giới Định, Huệ, là chân, mình, đầu của một thân hình cái sống, thiếu một là chưa đủ, nên dầu ai có chấp trước đoạn nào, chớ sau rồi cũng nhìn ra cả thể như nhau, cho nên gọi rằng: Đạo y-bát giác-ngộ của Giới Định Huệ là đạo của tất cả, kêu là rún đạo, đạo cái, ai-ai có đi quanh-quẩn đâu-đâu rồi cũng đến đó mà thôi.
Làm sao cho hiểu được mùi vị y-bát, cho kẻ trước khi vào đạo?
Hãy nghiên cứu “Vũ-Trụ quan", Ngũ uẩn", sáu căn bản (sáu "trần tục", tám phần: cái thức biết), "Mười hai nhơn duyên", "Bát chánh đạo", "Thuyết Có" và "Thuyết Không", "Sanh và tử", ("nhân-sanh quan") ("Chơn lý" : "Nam và Nữ") , "Chánh Đẳng Chánh Giác", "Công Lý Vũ Trụ”. Có nghiên cứu mười quyển sách ấy... đã thì ắt hẵn sẽ hiểu "đạo", sau đó hãy hiểu các "Chơn lý": “Khất Sĩ" , "Y-bát Chơn Truyền", "Luật Khất Sĩ", các "Giới bổn" , "Ăn chay", "Nhập Thiền Định", và Giới luật, Thiền định, Trí huệ v.v…” (Trang 193)
***Có người lại nói: tự mình làm ăn lo tu cho mình là quí hơn phải chăng? Có người lại nói: tu là tốt mà phải tự nuôi sống, chớ sao lại bắt người khác nuôi ?
*** Some people say: eat yourself worry yourself as you cultivate more affordable? Yet others say as well that have to cultivate to feed, why not start feeding others?
—Nói vậy, mới nghe qua cũng cho là được, bằng xét kỹ lại sái lắm, nào có ai thật-hành lời nói đó trong đời? Nếu tự mình làm ăn thì tập thêm tham sân si dốt nát, độc ác khổ hại, chớ có học tu được cái chi mà gọi là quí,cái quí là không có độc, độc là riêng một mình, câu nói đó tham lam nhỏ hẹp, ích-kỷ, bỏn-sẻn, vô-đạo, biếng nhác, sợ hao công, không muốn sống chung với ai, và không muốn cho ai nhờ cậy chi mình, câu nói đó của kẻ sái quấy, nói lời cùng túng ém lỗi vào trong, cũng vì lời nói đó lan rộng, mới có cõi ma đói nơi kia. Vả lại trong đời chúng-sanh đang sống chung cho nhau, ta đang nhờ nơi tất cả, nào có ai lo cho mình được mà không phải nhờ nơi kẻ khác, hoặc tài, hay pháp bố-thí cho nhau, sao ai lại nói là mình tự làm, nuôi lấy chẳng là dối. Chính một kẻ kia đang bắt cỏ cây thú người, đất nước lửa gió nuôi mình đó sao lại quên đi, còn giáo-lý Phật Trời ai đang ăn dùng đó, sao mãi nói tội-lỗi vong-ân tự-đắc được!
Còn như nói phải tự nuôi sống chớ sao lại bắt người nuôi, nói như thế là phải cho sự hiểu lầm nói càng, chớ đâu có ai được như vậy. Kìa ông vua có đi cầy cấy đâu, vị quan có đi nhổ mạ đâu, người giàu-sang có đi giã-gạo đâu, kẻ quân sĩ có đi phát cỏ gặt hái đâu, người công, người thương có đi gieo mạ đâu…
Vậy ta nên biết rằng: Lẽ sống chung tiến-hóa trong võ-trụ, chúng-sanh vạn-vật và các pháp đều sống cho nhau, trao đổi cho nhau, hoặc tài thí, hoặc pháp thí, kẻ giúp cho linh hồn, người giúp cho xác thịt, đó là đạo phận của tất cả, chớ nào có ai mà sống cho mình được.
Lại nữa, Khất-Sĩ là kẻ thi hành Pháp-Thí, ban bố tinh-thần, tạo sự sống linh hồn cho muôn loại là người đạo-đức, hiền lương nết hạnh, quí giá cho đời biết mấy, gương đức-hạnh dạy đạo lý, chẳng kể công đòi lương, mà cơm dư ai hảo tâm đem cho thì ăn chớ không ép buộc rầy-rà. Khất-Sĩ hy-sinh chịu sống cực thân, để lo tô đắp nền đạo cho thế-gian, trang sức hạnh-phúc cho cõi đời, loài người mà có lòng nhơn, đang biết lẽ phải sống đó, là do từ đâu? Chén cơm áo mặc của người đang có kia, há chẳng phải là do ảnh-hưởng của đạo-đức sao? Vua quan đâu có ví với các nhà sư? Thế sao lại có người đi nói quấy không kiên gì luật pháp, là đạo-đức đang tôn kính trong đời.
—Những người tu theo đạo Phật, mà không có "y-bát" có hại gì không? ; The Buddhist monk, without the "y-bowl" that cause problems?

—Nếu không có y-bát hay là y-bát có mà không dùng, thì gọi là bậc Trời người đang tập học, nhìn xem Phật chứ chưa gọi đúng là người đã tu theo như Phật, vì Định, Huệ có là do giới, giới là y-bát giáo-lý Khất-Sĩ, nếu không y-bát thì đâu có giới cõi Phật, bằng mà giới của người chế ra, vầy khác, thì gọi đó là giới của Trời người thôi. Lại như quả A-La-Hán là ứng cúng, chữ ứng cúng chỉ có nơi người Khất-Sĩ chớ đâu có cho kẻ ở nhà, nếu không có y-bát thì đi xin không được, đâu có ai cho, đâu ra vẻ người Khất-Sĩ. Bằng kẻ đi xin mà có đồ vật, ắt phải mang tù rạc, chúng oán ghét vu phao ngờ vực, và nếu có đồ-đạc thì nào được đi xin, để đi các nơi gieo nhơn lành khắp cùng thiên-hạ. Vả lại một người mặc áo quần thì phải hai cái thay đổi, cái đang mặc cái cất giữ, giấc ngủ phải nhớ lo, và nếu vải nguyên tốt thì còn bị cắp trộm, lại e chúng giết hại thân mạng, như vậy thì làm sao cho có được định huệ, mà gọi là tu học giống như Phật, để thành Phật. Còn kẻ không quần áo, thì cũng không tiện việc tu học, đến như chén bát mà có nhiều là tư bổn gốc khổ bị hại, bằng không ngơ lại bối rối cũng lo âu phiền não (mà việc thế lại rách, bể, hư, bịnh, lo mãi có rồi đâu). Vậy nên giáo-lý của y-bát là trung-đạo Chánh-Đẳng Chánh-Giác vô thượng không hai, tức là đạo giải-thoát toàn-giác. Nếu không có dùng y-bát, thì chẳng dứt được cái khổ của ăn mặc, và có y-bát mới ra Khất-Sĩ mà giải-thoát luôn chỗ ở, thuốc men thì đời sống tinh-thần mới được hoàn-toàn cứu cánh, sự chết khổ mới sẽ dứt hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang ; Patriarch Minh Dang Quang

Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )

@@@


Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
Y-bát "Chân-Truyền"
Trang 180-195 (Chơn lý số 12 )
"Y-bát" là mảnh áo, chén cơm.
—Sao gọi là: y-bát "Chân-Truyền" ? 
—Bởi, đạo Phật là đạo: Khất Sĩ, Du hành Tăng lữ: con đường của bậc giác ngộ ! Đi theo con đường ấy, là đến với Chơn lý vũ trụ, để đạt mục đích Niết Bàn. Khất Sĩ "y-bát" là bậc thượng-trí huệ, sau sự học của lớp thế-gian. Kẻ du học ấy, phải đi xin ăn, mặc một bộ "áo" ba mảnh và một cái chén đựng chứa đồ ăn, để nhẹ mình lo tu học, và đi khắp xứ.
Muốn vào hàng ngũ Khất Sĩ, phải có chân sư truyền dạy ! Bằng chẳng như vậy, sẽ ra người khất-cái, kẻ ăn mày, đê tiện tội lỗi mà chúng lại khinh khi, nếu quả thật là một người "Khất Sĩ", có "Chơn Truyền" đúng phép ! Mới xứng đáng là một đệ tử của Phật, rồi sẽ tới địa vị của Phật, ai ai cũng sùng tôn lễ bái. Khắp cả Trời, người, ít ai mà làm theo được, nên phải giúp công ủng hộ, tiếp đón, cúng dường. Thế nên từ xưa tới nay, kẻ nào được "chân sư" xét xem chọn lựa, trên hai năm kỹ lưỡng đủ thiện-căn phước đức, nhân duyên, mới chịu dạy truyền cho giáo lý y-bát ấy, để tách khỏi xa thầy một mình đi ra tu học thành công. Thế nên sư được ban truyền-y-bát, rất kỹ-lưỡng khó khăn, mà kẻ nào thọ lãnh được là vinh-hạnh lắm, rồi sẽ nối chí giống hệt tổ thầy, nối truyền chơn đạo, nên khắp Trời người đều uy-tín, hy-vọng cho kẻ đó sẽ đắc đạo buổi tương-lai vậy. Vã lại con đường của Phật rất cao-viễn, như tận trên chót núi cao xa, người mà không cẩn-thận ắt sa xuống hố thẳm sâu địa-ngục, nên sự hành đạo là một còn một mất, một thắng một bại, một Phật một ma, nếu phải Khất-Sĩ là ở Niết-Bàn, bằng ra Khất-Cái là con ma đói ở trong địa-ngục. Vậy nên Y-bát chơn-truyền, xưa nay là giáo-lý riêng đặc-sắc của thầy tổ trao dạy, một thầy chỉ có một trò thôi, quí báo vô cùng nhờ đó đạo Phật mới được nâng cao, và mãi mãi bền dài không dứt tuyệt.
—Sự công dụng của "áo", "bát" ra sao ?
—Bởi Khất-Cái với Khất-Sĩ cũng tương tợ in nhau, vì kẻ gian manh muốn sắm áo bát bao nhiêu cũng được, vậy nên người Khất-Sĩ phải có thật học, phả đủ đức-hạnh, phải có chơn-tu mới gọi đúng danh-từ Khất-sĩ. Gía trị của Khất-sĩ với Khất-cái khác nhau rất xa, một Trời một vực, kẻ Khất-Cái tàn tật mới đi xin, tham-sân-si tội ác chẳng tiêu trừ, mà trái lại Khất-Sĩ là kẻ thông-minh trí thức, hiền lương mạnh khoẻ, mà lại đi xin ăn nuôi sống, mới là sự chướng ngại xốn mắt kẻ thế-gian, là việc làm mà ít ai thấu hiểu, bởi quá cao thâm, vậy nên Khất-Sĩ phải có những đức tính hơn người, thấy chắc kết-quả mới đứng ra thực-hành và làm cho thế-gian kính trọng, chẳng dám khinh khi đạo Phật. Đạo Phật xưa nay ai cũng cho kỳ lạ, mới đạt được cái kết-quả kỳ lạ ấy! Tuy nói thế chứ thật ra đạo Phật, con đường của bậc giác-ngộ là đúng phải, chớ có đâu kỳ lạ, mà chúng-sanh thì đã quen ở trong cảnh kỳ-lạ mãi mãi lâu ngày, nên hầu như là vừa thấy gặp, cho là khác mắt trong giây lát. Vậy nên lời Phật có dạy: Đạo là thường, vui và có ta, và thế-gian là vô-thường khổ não không ta, là bởi nơi kỳ hay, mới lạ của sự say-sưa vấp té lội sình kia đó.
Xưa kia cổ nhân mặc áo vỏ lá cây, mảnh manh lá miếng, chẳng có tay ống áo quần may vá, dưới cái chăn trên tấm choàn, khi đi đâu thì phủ thêm một tấm choàn vấn lớn từ trên tới dưới, đêm đến lấy đó làm mền, nên được thông-thã rảnh-rang, không điều phiền phức, không có cất giữ dư, để giành cho cắp trộm, khi rách mất thì mới sắm thêm cái khác, bỏ ra cái cũ, lúc nào cũng mặc một bộ trong mình, không làm tôi tớ cho áo quần dư dả. Muốn đi đâu, ở đâu, vào lúc nào cũng được, không điều chi nán lại, cũng như rể có dính liền với cỏ, như lông da thú dính sát với thịt xương, cho nên lúc nào cũng rảnh trí thanh-nhàn thung-dung khoái-lạc. Thân như vỏ trái chín mùi đen xấu, mà tâm trí bên trong cứng, chắc lại ngon thơm.
Trẻ nhỏ mới sanh mẹ cha lót cho miếng tả, khăn choàn vải đậy, cũng là bộ tam-y như người xưa, ông già khi sắp chết bệnh đau, cũng phải chỉ mặc chăn, vải choàn và mền đắp, tam-y như trẻ nhỏ. Đến chết tắm rửa, liệm đem theo cũng tam-y đó vậy. Người Khất-Sĩ mặc tam-y, để dứt trừ tham vọng, ngăn ngừa kẻ ác đoạn diệt phiền-não, trong tâm trong sạch nên gọi là y thanh-tịnh, cũng gọi là y- giải-thoát, áo rảnh-rang hay là y trẻ nhỏ, áo ông già, y cổ-nhân, áo người trí, y của kẻ chơn-như v.v…
Xưa giống loài người sanh tại chân núi Hy Mã Lạp Sơn trung-ương Ấn-Độ, mặc áo choàng, lần lần tản mác sang phương tây xứ lạnh, mới sắm mặc bố bô dầy nóng, tập làm máy móc công nghệ, mới may thêm có nút, có ống có tay cho lanh gọn.Về sau Phuơng Đông tập nhiễm sắm áo quần, lại còn chế ra mỏng-manh trơn láng tuỳ theo mùa nóng lạnh, cho đến ngày nay, không còn vì cái mặc che thân đậy bệnh, mà còn trau chuốt se sua, phô bày bóng dáng, nay vầy mai khác thay đổi vô-thường, khổ não vì quần áo và cũng chưa biết được cái ta đã định, của ta là thứ cách kiểu màu nào chắc-chắn, thả cho cái ý buông-lung lựa chọn, hành ma tác quái, biến thuật nhiệm-mầu, xúi kẻ gian tham, xúi người bày sanh giặc-giả. Cũng có kẻ sau khi hưu-trí, sau buổi việc làm trút hơi thở dài, bằng sự cởi bỏ áo quần, vận chăn đóng khố, vai vắt khăn lau, đi tắm dưới sông hay trong phòng kín, lấy làm sung-sướng mát mẻ khoẻ khoắn, say sưa với cái hay của sự mặc rảnh-rang sau cơn khổ nhọc. Trong lúc ấy có kẻ lại sợ áo quần, khổ sở và ao ước sự thông-thã mà mặc chăn đơn, chán nhàm với áo quần lao lực, ghê tởm những y-phục se-sua, sợ sệt cho cái tham sân-si dối giả, của đời ác trược ở nơi quần áo. Có người lại ao ước cái mặc chơn thật, cái mặc có ta, cái mặc thường bền, cái mặc yên vui của người Khất-Sĩ, muốn trở lại thanh-nhàn, nương theo lẽ phải, để tìm lo tu học, mà đã lỡ bước vướng chơn rồi, khó bề lui tới, thật là rất thương hại cho giùm.
Con người cũng vì sự mặc lành tốt, miếng ăn ngon, chỗ ở đẹp, thuốc ngọt thơm, mà phải chịu chết với nhau, kéo nhau vào hố độc thụt lùi vô hang tối, dầu biết đó là chỗ chết, chỗ tiêu-diệt, khổ điên cuồng, nhưng bởi sự lôi cuốn rủ-ren, sự đua chen cám dỗ, bởi trớn nặng té ngã của số đông người, nên kẻ yếu sức khó bề đứng gượng, cũng phải chịu sự xô-nhào chúi-nhủi như ai, thật đáng thương thay. Thế thì cái mặc áo vá bô dầy, lượm xin vải bỏ, đâu lại chầm khiếu, màu dơ nám xấu, dùng sự ăn xin rau trái trộn lộn, chỗ ở cốc lều hang bộng, thuốc uống cỏ cây, của người Khất-Sĩ giác-ngộ kia, chẳng là sự duy-trì phong-hóa cải sửa cuộc đời, thức tỉnh cho người, chỉ đường nẻo sống, dắt đến chỗ yên-vui, chống ngăn cơn sập đổ, cứu vớt biết bao người, ích-lợi biết bao nhiêu, và có gì đâu khó hiểu.
Cho đến miếng ăn của người Khất-Sĩ cũng y như vậy, cổ nhơn xưa ít quen ăn lạm xạm, ở không, ngày ăn một bữa, cũng đủ no lòng, xin nơi rau trái, ở nơi vườn rừng, khi vào xóm dạy đạo cho người, không chút rảnh-rang, nên phải đi xin nơi người dư-giả, xin của học trò, xin nơi người từ thiện, xin chén cơm dư thừa thải của kẻ tối-tăm, cái xin tốt đẹp nơi người cho, xin để kết-duyên bạn đạo, xin để giáo-đạo, cảm hóa, nhắc nhở tâm người, cho họ nhớ lại thuở ngày xưa.
Khất-Sĩ giống như người chết ông già, hay trẻ nhỏ mới sanh, hoặc như người bịnh, giống kẻ cổ nhân, in như người đi du-lịch, nào khác kẻ dạo đồng, tắm biển, hứng mát bờ sông, đi đâu chỉ đem theo cái chén to bằng đất để đựng đồ ăn là đủ. Vừa là để tránh sự bối rối thiếu hụt, tay không khi đến bữa ăn, vừa là gọn tiện, một cái chén đủ đựng chung ăn trộn, để khi vào bụng rồi, thì nó cũng lộn xộn in nhau. Một cái chén to, một lon nước uống, một muỗng múc đồ ăn, đủ làm của cải theo mình đi đây đó, trọn đời không lo cất giữ, áo bá-nạp tháo ra, vá may lại nhiều miếng, dầu có kêu cho cũng không ai lấy, bát đất như nồi thố đen thui, quên bỏ chẳng ai giành, bán chẳng ai mua, nài không ai nhận. Cũng như thân mình chết bỏ, vật tạm chẳng tiếc ham, khi rách bể, xin nơi giàu nghèo ai ai đều sẵn có, trộm cắp chẳng rình mò, nằm đêm không lo sợ, thong-thã rất thanh-nhàn. Muốn nhập-định lúc nàocũng được, muốn chết lúc nào cũng an, học gẫm điều chi không xáo-trộn, bằng mất hết cũng không nhìn, một hột gạo cũng không, một đồng xu không có, chẳng cất dành đem một món ăn chi, không một miếng vải dư, giờ trưa xin đủ ăn, có dư thì bố-thí, đặng để có thì giờ nuôi trí.
Điều quý nhứt của người Khất Sĩ là sự giữ gìn giới luật:
1) Cấm: sát sanh. (người, thú, cây to)
2) Cấm: trộm cắp.(của người, thú, cây to)
3) Cấm: dâm dục.(với người, thú, cây to) (thọ-thần)
4) Cấm: nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi
5) Cấm: uống rượu, tham lam, sân giận, si mê.
6) Cấm: (trang điểm) phấn, son, áo quần hàng lụa tươi tốt. (như kẻ sang giàu)
7) Cấm: nghe, xem hát, múa, các nhạc cụ, kèn, yến tiệc vui đông người. (như vị quan lại)
8) Cấm: ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếc chiếu lớn xinh đẹp. (chỗ xinh đẹp như ngôi vua)
9) Cấm: ăn sai trái giờ từ quá ngọ đến ngọ mai. (phải ăn chay !)
10) Cấm: rớ đến tiền, bạc vàng, của quý, đồ trang sức.
Để tập tâm chơn, lần giữ oai-nghi hạnh-kiểm 250 điều, cử chỉ đoan-trang nết-na đầm thắm, không chung lộn với kẻ vậy tà. Nơi cốc am ngoài đường xá, vào xóm nơi rừng đi đứng ngồi nằm, ăn mặc nói làm, thức ngủ sống chết, thân tâm trí tánh, thảy ôn-hòa nhả-nhặn, từ-bi trống rỗng. Sống với chúng-sanh chung, bình-đẳng không trói buộc, hỷ-xả chằng câu hềm, tâm thì nhập-định vắng êm, trí-năng soi ra cắt đứt điều ô nhiễm. Chỉ lo tập tánh chơn-như, hằng ngày lòng không vướng mắc, chẳng buộc ràng, không hơn thua cùng ai cả thảy, ai có duyên đến hỏi thì chỉ dạy, nói vài lời, không việc thì nghỉ yên, không tìm vọng động ác quấy, khoẻ-khoắn biết là bao. Ấy cũng nhờ y theo nơi chơn-lý, chánh-pháp của võ-trụ: Là sự ăn mặc ở bịnh chẳng lo, mới được yên vui như vậy, ăn phải đi xin, mặc áo vải vá, chỗ ở lều lá gốc cây, bịnh không tự lo tìm thuốc uống. Nếu là ta sống có lợi-ích lại cho người, thì người khác họ cũng sẽ sống có ích-lợi cho ta, y theo lẽ tiến-hóa, chẳng bảo cho ai, tự lo lấy mình và không để cho ai có lòng tư-kỷ, mà kẻ nào sái đạo-luật, thì phải bị phạt răn khổ-sở thất bại đau sầu.
Gía trị của người Khất-Sĩ là mắt tai mũi lưỡi miệng thân ý phải cho trọn lành trong sạch, do nhiều đời trước có tu hiền, phải là người có tu tập bố-thí, phước lành không bỏn-xẻn, phải là người có nhơn-đức biết thương yêu cứu giúp chúng-sanh, không tham sân si tật đố, ích-kỷ tự-cao, phải là người trước có nhơn-duyên gặp Phật, nghe Pháp gần Tăng, tập giữ giới-hạnh, hoặc đã có theo hầu thầy được dạy dỗ. Người Khất-Sĩ phải có đủ điều kiện của một người học trò, không dính dấp con, vợ cửa nhà, bệnh hoạn, thiếu nợ, tà ma nhập xác, hoặc kẻ trốn tránh, tội-lỗi chi chi, phải trên mười tám tuổi, phải hiền hậu thông-minh có nết hạnh…
Đời Khất-Sĩ phải là khổ cực không-không, xem mình đã chết, chỉ sống bằng tâm hồn, nơi cõi nầy cũng như nơi cõi khác, năm nầy cũng như những tháng kia, chỉ biết một việc lo tu học, cho mau tấn tới mà thôi. 
Những ai mới vào tập sự coi khá, thì cho mặc y-bát tạm một thời-gian, hoặc từ hai năm, nếu được thì cho nhập đạo, bằng xem-xét không được thì cho trở ra về thế, vì sự lựa chọn kỹ-lưỡng bậc hiền đức siêu-nhân cho nên đạo Khất-Sĩ Y bát tuy ít mà lại rất cao, người tội-lỗi khó bước lên, kẻ tự-cao khó bước xuống, trong đó thảy thuần-thục như nhau, sự tà ác vô-minh khổ-não không sao có được nên mới gọi Giáo-Hội Tăng-Già, là cõi Niết-Bàn hữu dư trên mặt đất hiện tại. Mà không xã-hội gia-đình nào ví sánh sự hòa-hiệp yên vui của đạo cho kịp. Cho nên đạo là trên trước quí báu hơn hết trong đời, Giáo-lý Y-bát không phải dễ, không phải tự ai muốn bước ra hành là được, nếu kẻ bắt chước ham vui, hoặc không thông chơn-lý, chẳng có giới-hạnh, không hiểu chánh-pháp, chẳng biết cách tu-học, không rõ sự quí giá của muôn đời, chẳng nếm được mùi vị của Niết-Bàn đạo-lý, thì khó mà thật-hành, khó mà chắc chắn bền dài, khó mà giữ hạnh đắc-đạo và nhứt là sẽ bị ma-vương phá đổ, chư thiên xô đùa, nhơn loại bắt tội, thú dữ hại thân, với dễ gì đủ can-đảm diệt lòng tự-trọng, để đứng ra đi xin ăn, bữa no, bữa đói, thấp thỏi ăn mày cho chúng khi ngạo chửi la, làm như kẻ tội nhơn bị sa thải phải mặc áo tù, đầu cạo trọc, xấu hổ hơn kẻ tật nguyền. Bởi vậy cho nên từ xưa tới nay, đứng ra dẫn đầu lập đạo thì chỉ có chư Như-Lai Bồ-Tát, bậc Chánh-Đẳng Chánh-Giác, đại-hùng đại-lực, đại từ-bi hỷ-xả, mới thật hành được. Và từ sau đó, Tăng-đồ nương theo nẻo sẵn mới dễ-dàng đi. Chớ bậc vua Trời người, tuy cũng hiểu thông lẽ ấy mà ngán sợ nỗi thi hành lâu năm nhiều tháng, chán nản rớt rơi té nặng. 
Thật vậy, đạo Khất-Sĩ Y-Bát nguy-hiểm lắm, khất-sĩ cũng như người tướng xông pha vào dinh giặc nghịch, chỉ có kẻ đã đắng đo xét kỹ, mới dám bạo gan liều mình bước vào quảy bát mang y, chịu khổ sở hơn người tật bịnh. Ấy vì giáo-lý quá cao siêu như mũi dao xoay ngược nguồn đời, cắt đứt tung lưới sắt, đập bể chuồng đồng của thế-gian địa-ngục, để cứu người thì tránh sao ai nấy vì cảnh quen chóa mắt, mê-muội hiểu lầm, mà chém, đâm đánh giặc, đập phá hại đạo, lật đổ đả đảo lăng-xăng, dầu ta có lòng thương vì họ, muốn lập đạo cứu đời, mà mắc phải chúng-sanh nó đi thù nghịch trở lại hại ta, khiến nên sự lo chống đở mệt nhọc, nguy hiểm gây go khó bề đứng vững, vì thế mà lắm nhà sư y-bát thối chí ngã lòng, hoặc tức giận chúng-sanh, mà quay lui bỏ xụi. Sự khổ cực bền gan ấy, cũng như kẻ đầu tiên mở lối chông gai nơi rừng rậm, như sự thương người giải-cứu, mà tất cả trở lại trả ơn cho lòng tốt ấy bằng cách đáp oán gây thù, ta phải bị chúng vây giết hại, vì chúng đã mắc phải bùa độc sảng mê, nên trở làm quyến thuộc ma-vương chướng ngại. Vậy nên không phải lòng từ-bi trí-huệ sáng suốt dõng mãnh như Phật, dễ gì thắng giặc ma-vương cứu tử cháu con, bắt đem về giác tỉnh, để lập thành nền đạo vững chắc trong đời, ấy cũng bởi đạo quá cao thâm, vì đời thương giải cứu, nhưng chúng-sanh đâu rõ cho là kẻ đi phá nghịch nhà họ, nên lo chống báng, khiến kẻ hành đạo thật rất gian nan. Nhưng cũng nhờ có sự gây go ấy, nên mới ít người khất-sĩ, mà kẻ nào được bất thối vô sanh tức thì nên đạo, đó cũng tức là trường thi, nơi sàng lựa chớ không phải là Niết-Bàn, là cảnh dễ đến cho người chưa tắm sạch, mà được hưởng quả yên vui, nhứt là đối với kẻ thân miệng ý chẳng hay ngừng, và những người trẻ con xao-xuyến, thì chẳng bao giờ có được cái vui hay của bậc ông già hưu trí nín nghỉ ấy được.
Đó là về sự của y-bát, còn giáo-lý y-bát chơn-truyền nghĩa rằng: Y là Pháp, Bát là Đạo, tức là đạo pháp đường chơn truyền dạy, có y-bát mới có chơn-như. Luật-pháp cũng như manh áo che tâm, sự đi sưu-tầm gom góp kinh luật, luận cũng như lượm từ miếng vải đâu kết lại, cho thành kho tạng. Xưa kia đức Huệ-Năng xin chủ đất một lỏm đất đặng trải y, khi đem y-pháp giáo-lý banh trải, hoằng dương truyền bá ra, bằng sự nói pháp, thâu dạy đệ-tử mở khai chánh-giáo, có đến số muôn người, cho nên chật bít cả miếng vườn to, Tăng chúng ở còn thiếu chỗ, mà áo pháp vẫn cò chưa mở banh ra hết. Áo đây tức là pháp-bảo, giáo-lý để đậy che pháp thân là: Kinh-Luật-Luận, cũng là thân đạo, thân của Phật, tức là chơn thân, thân to lớn. Áo của nhà sư cũng như giáp sắt, nhờ mặc nó vào đi xông pha khắp cùng thế-giới, đến đâu cũng được, tà ma ác thú thần quỉ chẳng khá lại gần, nhờ mặc nó mà nhẹ bay trôi khắp cùng thiên-hạ, che cả thân tâm, mà đùm bọc cho biết bao nhiêu kẻ khác. Mỗi miếng vải vá, nhà sư xem như là một điều luật, một câu pháp, một bài kinh, mặc nó vào tâm hồn yên vui thơ-thới, nhờ thanh-bần đơn-giản, mới sống mãi lâu đời tâm hồn sẽ được giàu sang vô-tận.
Áo ấy Trời người khó mặc, mặc mà hành không đúng, ắt phải họa tai. Áo vá ngăn ranh như ruộng đất, ý-nghĩa nó là ruộng phước cho chúng-sanh, hễ ai tìm gặp là mau nên lựa giống đặt gieo-trồng, áo ấy cũng gọi là y nguyên chơn thật, cội nguồn không sửa đổi, y như hồi xưa ông già, trẻ nhỏ, kẻ chết, cổ nhân, y như người rảnh-rang không vọng động. Cũng gọi là đúng Y chơn-lý, Y như luật tiến-hóa mặc nó vào, cuộc đời đã định, muôn kiếp chẳng đổi dời, bao giờ cũng vẫn y nhiên như nguyên, áo vá mà lành, có nghĩa là pháp thiện lành, gom cả chúng-sanh khắp nơi chung hiệp, kết liền làm một cái thể lành để che thân tạm, mà nuôi tâm trí, ấy là giáo-lý chúng-sanh chung, bình đẳng hiệp hòa, trọn lành kính đáo, chẳng để rách, thiếu trống hở trần tâm. Cũng gọi là áo chơn-như không vọng động, cũng gọi áo lành không rách, là thiện lành sống chung không ác hung chia rẽ, cũng là áo giải-thoát khổ, hay gọi giáo-lý yên-vui. Cái Y mặc, mặc vắng lặng, Y như võ-trụ.
Còn cái Bát là thể của Bát-Chánh-Đạo, đạo Bát-Chánh ví như bầu đựng cơm, đạo như bầu võ-trụ, tâm chúng-sanh như cơm, đồ ăn chứa mang vào trong đó, bầu đạo-đức để rộng chứa quần-sanh, hay là lòng từ-bi của chư Phật hằng ôm giữ. Khi xưa đức Phật Thích-Ca liệng bát xuống sông Ni-Liên, bát nổi trôi ngược một khoảng xa rồi chìm xuống đụng khua cùng bát chư Phật quá khứ, kêu nghe rổn-rảng, có nghĩa là: Ngài thã đạo Ngài xuống chốn sông mê, nổi lên trên cao ráo, trôi ngược trào lưu, qua trên bốn chục năm đi dạy đạo, Ngài mới đứng lại, và Ngài ngưng nghỉ vào Niết-Bàn, hiệp cùng chư Phật quá khứ, thì tiếng đạo lại vang dội lan-tràn, khắp nơi túa rộng.
Chính đạo Phật là đạo Bát-Chánh, là đạo Khất-Sĩ mới có bát-y, là con đường đến Niết-Bàn kêu là đại-đạo, đường đi ngay thẳng chỗ chứa tâm người. Trong trần thế nầy chỉ có đạo ăn xin là đến nơi rốt ráo, là con đàng đi tắt, mau đến chỗ thành-công, dầu là hạng bậc nào, mục-đích gì mà kẻ thật hành, kiên tâm trì chí, nhẫn nhục, khổ công, xin ăn khó nhọc, lúc buổi ban đầu, thì đến sau cũng sẽ được thành-công, đắc đạo hưởng quả trên người, vì càng khổ nhọc, sẽ là càng sung-sướng, làm trước hưởng sau, nhơn quả vốn không sai chạy, vậy thì những ai:
Muốn làm vua, trước cũng phải đi xin ăn, dồi đức.
Muốn làm quan, trước cũng phải đi xin ăn, học hành.
Muốn được giàu sang, trước cũng phải đi xin ăn, tu phước.
Muốn học sĩ, nông, công, thương, trước cũng phải đi xin ăn, đặng trau tài.
Trong đời hạng bậc nào trước chẳng có đi xin ăn khổ nhọc, thì ngày sau khó được nên công phú quí, đó là đi xin ăn nhịn chịu thiệt thòi một lúc, để tích-trử phước dư, đặng ngày sau ngồi không ăn hưởng. Mà còn phải đi xin thay, huống hồ giáo-lý y-bát, Niết-Bàn là sự không tiêu sài phước-đức, mãi tích-trữ thêm hoài không lấy bớt, mười phần thêm chỉ hưởng bớt ra ba, còn bao nhiêu chia sớt bố-thí lại cho chúng-sanh, kết duyên thành quyến-thuộc cho thêm sanh lời nẩy-nở, tự mình đi xin mãi mãi, vật-chất miễn đủ dùng nuôi thân mỗi ngày, còn tinh-thần công dư vạn bội, hưởng sự hạnh-phúc nơi thân tâm trí bền-bĩ, há chẳng đáng quí hay sao? Vậy ta nên nhớ rằng: Muốn không công mà trông mong thọ hưởng mãi, là nguồn gốc của sự thất bại.
Bởi vậy cho nên, những ai khi đã bước chân vào đường y-bát, dầu thiếu trí-huệ ở Niết-Bàn, thì cũng được hưởng phước lạc của thiên-đường, bằng không được thiền định, chỉ có điều trì-giới, thì cũng được làm bậc người trên trước, nhờ sự giữ giới của y-bát mà tránh khỏi địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, A-Tu-La bốn đường ác đạo như vậy, là oai lực của y-bát rất thần-thông mạnh-mẽ linh diệu đó. Giáo-lý y-bát không còn có nương theo văn-tự, lời nói việc làm, người Khất-Sĩ chỉ có ba pháp tu học vắn tắt là: Giới, Định, Huệ, bởi giữ giới y-bát là giải-thoát mọi điều trói buộc, phiền não ô-nhiễm rồi, nên bằng được thông-thã rảnh-rang, ở trong cái thật cái không xao-động, chỉ còn có nhập-định và tham-thiền, tức là vừa học trong trí-não, vừa để tâm yên lặng, đứng ngừng. Gọi là tâm nghỉ ngơi, và trí làm việc khỏe, làm mệt trí, khi trí làm thì năng sinh huệ, lúc tâm nghỉ thì phát thần-thông: cho nên, quả linh và tiến triển nhiệm-mầu, mà người Khất-Sĩ thì không có phút nào gọi là lêu-lỗng, nhưng đối với sự làm việc định-huệ ấy, không có tướng hình chi cả, nên xem bề ngoài như kẻ ở không. Vậy thế thì giới-luật là Y-bát, Khất-Sĩ là Định, Huệ, nếu Khất-Sĩ không có tu về định-huệ, dầu mà có trì giới không đi nữa, cũng chưa gọi được trọn là Khất-Sĩ, vì chữ Sĩ đây là sự học đạo-lý với quả linh, bằng pháp tu định-huệ, tu tức là học, hay học tức là tu, bởi tại hành mà , sanh ra học. Tu học định-huệ là do giới y-bát Khất-Sĩ, như vậy là trong tiếng Khất-Sĩ, đủ gồm cả Giới, Định, Huệ, có giới hạnh mới được làm Khất-Sĩ, nên trước khi vào đạo cũng phải học giới và tu tập cho thuộc nhuần, chỉ có giới-luật là bằng văn-tự, bằng sự học nơi bề ngoài, tiếng tăm hình sắc mà thôi. Bởi vậy, cho nên từ xưa đệ-tử Phật quá đông, lắm kẻ không gặp, nghe giảng dạy, chỉ được có điều giữ giới, hành theo tứ-y-pháp của y-bát, sống thanh-khiết về ăn mặc ở bịnh, như vậy là được ở trong cảnh thật rồi, lần hồi suy-nghiệm tìm hiểu nơi giáo-lý của mình, mà mãi lo tịnh dưỡng an nhiên, nên lâu ngày cũng đắc đạo. Chứng quả A-La-Hán như Phật được.
Thế nên lời Phật dạy rằng: Trong giới có chứa sẵn định huệ đạo quả rồi, trong luật có chứa sẵn kinh-luận rồi, như vậy thì quả linh vào đạo-lý đã là có sẵn trong y-bát đó rồi, dầu Phật không nói ra, chớ kẻ nào hành y và chú tâm nhận xét thì sẽ được học ngay, cũng cầm bằng như là đã được ngồi gần bên Phật, và được hiểu cả tâm trí của Phật, như thế nghĩa là: Bao nhiêu giáo-lý pháp-bảo kho-tàng của võ-trụ, đều đã để sẵn trong y-bát hai tiếng Khất-Sĩ cả rồi, kẻ nào sáng trí định tâm bươi ra, là dùng xài mãi mãi, khỏi đợi phải ai truyền dạy, điều ấy để chỉ rằng: Kẻ nào giữ y-bát theo giới luật lâu đời mà không thối chuyển, thì sẽ lần hồi đắc-đạo. Nhưng lại dễ gì mà không thối-chuyển sa-ngã, nếu kẻ ăn cơm chẳng biết mùi vị, vậy nên chỉ có người nào có trí biết phân biệt miếng ăn của mình, thì mới được yên tâm sống mãi, lớn lần kết-quả. Có y-bát không chưa đủ, vì nếu ta còn chen lấn nơi chỗ yêu ma náo nhiệt, thì tránh sao cho khỏi bị người cướp giựt, hoặc rớt bể rách tan. Bằng muốn bảo tồn y-bát, thì phải cần giữ-gìn giới-luật, có giới luật ngăn ranh ủng-hộ, ta mới được yên tịnh tự-do mà học hành tinh-tấn, ấy vậy, giới luật là y-bát chơn-truyền, kẻ nào giữ được mười giới, là sẽ được tập-sự đắp y ôm bát. Nhờ có được y-bát mới đến thẳng đường chơn lẽ thật, để sống đời an hưởng nơi cõi tự nhiên của tinh-thần bất diệt, ở cảnh vui tột cao siêu chơn phước. Thế nên những ai muốn được y-bát, thì phải tập học giữ-gìn giới hạnh, có đủ giới hạnh, mới được thọ trao giới luật y-bát, và cần phải nhờ thầy dạy thêm cho trúng cách tu theo định huệ, sau lại mới sẽ tự mình đi tới, đi tới chỗ ý muốn của tự mình.
—Có những người tu, mà không cần đắp y mang bát được chăng ?
—Tu học lớp nào lại không được, miễn là cho vừa tới trình độ chí hướng tạm thời. Nhưng đối với quả giác của Phật thì ngoài cách y-bát ra, không thể đắc đạo được. Cũng có lắm cách tu luyện công phu, đắc thần-thông quả linh làm tiên trời, nhưng vì ở một chỗ thì không toàn giác được, vậy nên tuỳ theo sở chấp, kẻ thì thích tu học giới, để phát định huệ, kẻ thi tu học định để phát giới huệ, kẻ thì tu học huệ để phát định giới, sở chấp nào buổi đầu cũng được cả, nhưng khi đến đủ cả ba rồi, thì ai ai cũng y-bát ta-bà như nhau, còn kẻ nào đi ngay giới định huệ đều đủ một lượt, thì y-bát phải có mới được. Nếu kẻ tu không y-bát thì dầu cao giỏi bậc gì, cũng không thành Phật, không thể gọi Phật, bởi đạo Phật là trung-đạo, vừa vừa, chớ không cao thái quá như bậc Trời vô-sắc, chính sự hay giỏi của thái quá bất-cập là nguyên nhân khổ bởi không thường, cho nên đạo Phật tuy thấp hơn Tiên, ở bậc trung mà gọi là đạo chơn-thường giác-ngộ, đạo của võ-trụ càn-khôn, đạo của chúng-sanh người trí. Vả lại Giới Định, Huệ, là chân, mình, đầu của một thân hình cái sống, thiếu một là chưa đủ, nên dầu ai có chấp trước đoạn nào, chớ sau rồi cũng nhìn ra cả thể như nhau, cho nên gọi rằng: Đạo y-bát giác-ngộ của Giới Định Huệ là đạo của tất cả, kêu là rún đạo, đạo cái, ai-ai có đi quanh-quẩn đâu-đâu rồi cũng đến đó mà thôi.
Làm sao cho hiểu được mùi vị y-bát, cho kẻ trước khi vào đạo?
Hãy nghiên cứu “Vũ-Trụ quan", Ngũ uẩn", sáu căn bản (sáu "trần tục", tám phần: cái thức biết), "Mười hai nhơn duyên", "Bát chánh đạo", "Thuyết Có" và "Thuyết Không", "Sanh và tử", ("nhân-sanh quan") ("Chơn lý" : "Nam và Nữ") , "Chánh Đẳng Chánh Giác", "Công Lý Vũ Trụ”. Có nghiên cứu mười quyển sách ấy... đã thì ắt hẵn sẽ hiểu "đạo", sau đó hãy hiểu các "Chơn lý": “Khất Sĩ" , "Y-bát Chơn Truyền", "Luật Khất Sĩ", các "Giới bổn" , "Ăn chay", "Nhập Thiền Định", và Giới luật, Thiền định, Trí huệ v.v…” (Trang 193)
***Có người lại nói: tự mình làm ăn lo tu cho mình là quí hơn phải chăng? Có người lại nói: tu là tốt mà phải tự nuôi sống, chớ sao lại bắt người khác nuôi ?
—Nói vậy, mới nghe qua cũng cho là được, bằng xét kỹ lại sái lắm, nào có ai thật-hành lời nói đó trong đời? Nếu tự mình làm ăn thì tập thêm tham sân si dốt nát, độc ác khổ hại, chớ có học tu được cái chi mà gọi là quí,cái quí là không có độc, độc là riêng một mình, câu nói đó tham lam nhỏ hẹp, ích-kỷ, bỏn-sẻn, vô-đạo, biếng nhác, sợ hao công, không muốn sống chung với ai, và không muốn cho ai nhờ cậy chi mình, câu nói đó của kẻ sái quấy, nói lời cùng túng ém lỗi vào trong, cũng vì lời nói đó lan rộng, mới có cõi ma đói nơi kia. Vả lại trong đời chúng-sanh đang sống chung cho nhau, ta đang nhờ nơi tất cả, nào có ai lo cho mình được mà không phải nhờ nơi kẻ khác, hoặc tài, hay pháp bố-thí cho nhau, sao ai lại nói là mình tự làm, nuôi lấy chẳng là dối. Chính một kẻ kia đang bắt cỏ cây thú người, đất nước lửa gió nuôi mình đó sao lại quên đi, còn giáo-lý Phật Trời ai đang ăn dùng đó, sao mãi nói tội-lỗi vong-ân tự-đắc được!
Còn như nói phải tự nuôi sống chớ sao lại bắt người nuôi, nói như thế là phải cho sự hiểu lầm nói càng, chớ đâu có ai được như vậy. Kìa ông vua có đi cầy cấy đâu, vị quan có đi nhổ mạ đâu, người giàu-sang có đi giã-gạo đâu, kẻ quân sĩ có đi phát cỏ gặt hái đâu, người công, người thương có đi gieo mạ đâu…
Vậy ta nên biết rằng: Lẽ sống chung tiến-hóa trong võ-trụ, chúng-sanh vạn-vật và các pháp đều sống cho nhau, trao đổi cho nhau, hoặc tài thí, hoặc pháp thí, kẻ giúp cho linh hồn, người giúp cho xác thịt, đó là đạo phận của tất cả, chớ nào có ai mà sống cho mình được.
Lại nữa, Khất-Sĩ là kẻ thi hành Pháp-Thí, ban bố tinh-thần, tạo sự sống linh hồn cho muôn loại là người đạo-đức, hiền lương nết hạnh, quí giá cho đời biết mấy, gương đức-hạnh dạy đạo lý, chẳng kể công đòi lương, mà cơm dư ai hảo tâm đem cho thì ăn chớ không ép buộc rầy-rà. Khất-Sĩ hy-sinh chịu sống cực thân, để lo tô đắp nền đạo cho thế-gian, trang sức hạnh-phúc cho cõi đời, loài người mà có lòng nhơn, đang biết lẽ phải sống đó, là do từ đâu? Chén cơm áo mặc của người đang có kia, há chẳng phải là do ảnh-hưởng của đạo-đức sao? Vua quan đâu có ví với các nhà sư? Thế sao lại có người đi nói quấy không kiên gì luật pháp, là đạo-đức đang tôn kính trong đời.
—Những người tu theo đạo Phật mà không có "y-bát" có hại gì không?
—Nếu không có y-bát hay là y-bát có mà không dùng, thì gọi là bậc Trời người đang tập học, nhìn xem Phật chứ chưa gọi đúng là người đã tu theo như Phật, vì Định, Huệ có là do giới, giới là y-bát giáo-lý Khất-Sĩ, nếu không y-bát thì đâu có giới cõi Phật, bằng mà giới của người chế ra, vầy khác, thì gọi đó là giới của Trời người thôi. Lại như quả A-La-Hán là ứng cúng, chữ ứng cúng chỉ có nơi người Khất-Sĩ chớ đâu có cho kẻ ở nhà, nếu không có y-bát thì đi xin không được, đâu có ai cho, đâu ra vẻ người Khất-Sĩ. Bằng kẻ đi xin mà có đồ vật, ắt phải mang tù rạc, chúng oán ghét vu phao ngờ vực, và nếu có đồ-đạc thì nào được đi xin, để đi các nơi gieo nhơn lành khắp cùng thiên-hạ. Vả lại một người mặc áo quần thì phải hai cái thay đổi, cái đang mặc cái cất giữ, giấc ngủ phải nhớ lo, và nếu vải nguyên tốt thì còn bị cắp trộm, lại e chúng giết hại thân mạng, như vậy thì làm sao cho có được định huệ, mà gọi là tu học giống như Phật, để thành Phật. Còn kẻ không quần áo, thì cũng không tiện việc tu học, đến như chén bát mà có nhiều là tư bổn gốc khổ bị hại, bằng không ngơ lại bối rối cũng lo âu phiền não (mà việc thế lại rách, bể, hư, bịnh, lo mãi có rồi đâu). Vậy nên giáo-lý của y-bát là trung-đạo Chánh-Đẳng Chánh-Giác vô thượng không hai, tức là đạo giải-thoát toàn-giác. Nếu không có dùng y-bát, thì chẳng dứt được cái khổ của ăn mặc, và có y-bát mới ra Khất-Sĩ mà giải-thoát luôn chỗ ở, thuốc men thì đời sống tinh-thần mới được hoàn-toàn cứu cánh, sự chết khổ mới sẽ dứt hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
"Bấm vào chữ Dịch bên dưới" !  <= (mở trang nầy! trước khi Dịch ! đã có liên kết trang!)
(Hãy bấm  quay trở lại ! Sau khi đã copy bản dịch hoàn chỉnh !) (Copy văn bản dán vào ô Dịch)

Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Pháp
Phát hiện ngôn ngữ
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Trung (Giản Thể)












Tiêu đề của tôi





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét