Thứ Ba, tháng 9 24, 2013

14. Nhập Thiền Định ; Enter Meditation

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 14
Practice self-taught English translation: No. 14
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 

Thực hành đọc Chơn lý ; Practice reading Truth
Nhập Thiền Định
Enter Meditation

( Trang 212-229 ; Pages 212-229 )
I.- Định thiền là yên lặng ; Meditation is to quiet
Chơn lý của vũ trụ, là yên lặng. ; Truth of the universe, is silence. Yên lặng là lẽ thật, là huyền bí, là không vọng động, nên cũng gọi là "Chân-Như" hay sự kín đáo. ; Silence is the truth, is mysterious, is not expected action, so also known as "Truth-As" or confidentiality. Định thiền: tức là mật, trong ẩn mật nhập định có chứa: tâm linh, giác tánh, và tinh thần. To meditate: ie secret, hidden secret of samadhi contains: spiritual, awareness, and spiritual. Cho nên gọi, thiền định năng sanh ra: "Chân-Như", trí huệ và giới luật. ; So called, meditation engenders energy: "Truth-As", wisdom and discipline. Định thần là chánh, loạn là tà, nên mới có tên chánh địnhIs the chief god, chaos is evil, hence the name right concentrationvà cũng là có chánh mới có định: chánh định là Niết bàn, tâm người trở lại chánh định "Chân-Như" sau khi toàn giác, gọi là Như Lai hay là Phật. ; and also has a new chief to: concentration is Nirvana, who returned to concentration mind "Truthfulness-Like" after the omniscient, called Tathagata or Buddha. Thế nên, Chánh định, là chỗ đã sanh ra tất cả chúng sanh, vạn vật, và các pháp, mà cũng là chỗ trở về, hay chỗ đến, nghỉ ngơi, hưu trí của chúng sanh, vạn vật, và các pháp, kia vậy! ; So, Right concentration, the site has born all beings, all things, and the law, which is also the seat back, or place to, relax, retirement beings, things, and the legal, so there!
Hình thể của thiền định là vũ trụ bao la vô cực, không không vắng lặng và tối đen. ; Form of meditation is the vast universe of infinity, no not quiet and dark. Tướng tính của định là "Chân-như" không có vọng động, đứng ngừng, chết nghỉ, trơ trơ. "Hữu dụng" của định là thay đổi, tiến hóa, an vui giác ngộ, và quả linh thần thông. "Lý tính " của định là tự nhiên, chơn thật. Thân của định: là giới luật, lý trí của định: là huệ, tánh cách của định: là chơn, còn định: là tâm linh của tất cả chúng sanh hay cũng là sự sống, sức mạnh và bao gồm tất cả, v.v...;
Định là: quả yên vui, mà con đường đi đến định: gọi là "đạo", và đắc chánh định: gọi là đắc quả. Định là chỗ đến, kết quả, mục đích của các con đường. Định là một: năng lực mạnh mẽ nhất ! Định là: sanh mạng của thân tâm trí ta. Chính "chánh định" mới là bản ngã vậy ! Trước quả địa cầu là: định, sau quả địa cầu là: định. Trước sanh thân là: định, sau sanh thân là: định. 
Trước khi thức dậy, là Định, sau khi thức dậy là: Định
Before waking up, is Samadhi, after waking up is: Samadhi.
Trước khi làm việc là: định, sau khi làm việc là: định.
Before work is: samadhi after work is: samadhi.
Trước khi nói là: định, sau khi nói: là định. 
Before saying is: samadhi, after saying that samadhi.
Trước khi nghỉ ngơi là: định, sau khi nghỉ ngơi là: định. 
Before the resting: samadhi, after the resting: samadhi.
Cái định hằng có nơi: mọi chỗ, mọi lúc; mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý phải định luôn luôn. Ông thầy giáo không định: thì chết, người học trò không định: thì điên. Ai ai không định thì khổ. Định là: giấc ngủ ngon, hay như cái chết sướng. Cho nên, định là: mùi vị của các sự việc. Có định mới có thành công, thất bại cho mỗi hạng người. 
The place samadhi be constant: any place, any time, eye, ear, nose, tongue, body and mind to be always samadhi. He was not samadhi teacher: the dead, not samadhi student: the insane. Who does not samadhi who is suffering. Samadhi are: sleep, or as happy death. So, samadhi be: the taste of things. There are new samadhi have success, failure for every class of people.
Có chánh, mới có: định ! Chánh Đạo là năng sanh: định quả. Chánh Đạo là: thiện, thiện là không ác, ác là che mất "bản tâm", che mất bản tâm là quên: định ! Cho nên, kẻ không định: là ác tà, loạn vọng rối khổ, tơi bời, không đường lui tới. Vậy, muốn định thì phải răn ngừa: ác ! Và tránh xa chỗ ồn ào, tức là giữ giới luật, tự ta chế ra giới luật cho ta, để bảo tồn định, có định ! mới không có phiền não, vô ích, tai hại. There are primary, new: samadhi! Fold Path is the birth power: samadhi results. Fold Path is: friendly, good is not evil, evil is obscured "the mind", the mind is obscured forget: samadhi! So, samadhi those who do not: evil is evil, unhappy, suffering chaos, carnage, not going back to. So, they must want samadhi prevent commandments: evil! And stay away from noisy places, ie precepts, we developed the self-discipline to do, for samadhi conservation, have samadhi! no new affliction, useless, harmful.
Thế nên, đời sống của ta phải có kỷ luật, giới luật nhiều là: định nhiều, giới luật ít là: định ít, không giới luật là không định. So, my life must have discipline, more the precepts is: samadhi more, the precepts is less: samadhi few, not the precepts is not samadhi. Tâm không định là sự nghĩ ngợi: quán xét, không đặng sáng và chẳng năng: dứt bỏ được điều càng quấy. Mind is not samadhi thought: introspection, no shining and no power: get rid of it as harassment. Không định: không có thần thông, quả linh, thì con người phải té sa ngã vào nơi vật chất giả dối, nắm níu lấy : ác tà loạn vọng, chôn, nhốt giết hại tâm mình. Not samadhi: no psychic, spiritual fruit, the fallen man to fall into place the false material, clinging grasp: evil spirits Disorder Hope, buried, trapped murdered his mind. Cho nên tâm định: thì trí ta mới huệ, huệ nhiều ít là: do định. Định nhiều là huệ nhiều, định ít: là huệ ít, không định là: không có huệ. Có huệ được học tỏ sáng, mới chấm hết mê lầm. ; So samadhi mind: the new wisdom of our minds, much less wisdom is: due samadhi. Samadhi variety is more wisdom, samadhi less: less is wisdom, not samadhi be: there is no wisdom. There is wisdom to be learned highlighted, new end confusion. Không mê lầm là không vọng động: theo cảnh chiêm bao, mộng ảo của lớp thấp thỏi đầu tiên, thì con người mới đặng hưu trí, "chơn như" nín nghỉ, làm kẻ ông già, làm người cao cả, không còn nói làm bậy bạ, ác quấy, uổng công, nhọc sức. No delusion is not real expectations: follow the dream scene, vanity of low class bars first, then the new people who are retired, "Truth like" hold off, as the old man who, as the noble, not to say making graffiti, harassment evil, vain, hard effort.
Có định tâm trí : mới nhớ chứa xa, đựng gồm lớn, nhờ: nhớ đựng bao việc quá khứ hiện tại, mà thấy rõ các pháp vị lai, xét rõ được việc đời, nhìn xa được tâm lý, nghe rõ được trình độ... diệt dứt được phiền não, mà chứng đắc được an hòa. 
Having samadhi mind: the new remote memory storage, including large containers, thanks: remember how to put the past in the present, which shows clearly the way of the future, is clearly at the life, look beyond the psychology, the audible level ... Removal end to sorrow, which is to attain peace.
Có định thì cái hình bóng của biết mới cứng vững chắc già to lớn tốt tươi không hư hoại. Định là một sức mạnh thần thông, nhờ yên lặng cái ý mới mạnh mẽ gom hiệp mà điều khiển sự biến hóa, linh nghiệm.
Có định ta mới dám tin chắc ta là trọn lành, không lầm lạc rối loạn ác quấy. Định nơi lẽ chánh, thiện sẽ đến kết quả an lạc nghỉ ngơi đại định. Bằng nhứt định nơi sự tà ác, ắt phải gặp rối khổ lao chao đại loạn. Cho nên gọi sự quyết định hay nhứt định là cái định yên lặng. Chỉ có cái ấn dấu không dời đổi, chắc chắn tin cậy làm định mạng cho chúng sanh, cái ấn định ấy là sự yên lặng mà thôi, lại sự yên lặng ấy có là do nơi lẽ chánh thiện. Dầu chưa phải là đại định lâu ngày, chớ cái định trong chốt lát, nó cũng giúp cho ta biết bao điều khỏe khoắn nghỉ ngơi, và làm cho ta được tỉnh táo trí huệ. Vậy chúng ta nên nhớ rằng người không định là sẽ điên, mà kẻ điên thì đâu có cái sống biết chi chi ở tại chỗ nào ? Cũng như nước xao lộn là nước đục bùn, đã là nước dơ thì đó là đất chứ đâu còn nước ? Nước yên lặng thì có mắt kiếng sáng thấy rõ muôn hình, cũng như tâm định mới thấy rõ có tâm, và trí sẽ được huệ sáng soi ra cùng khắp. Như vậy nghĩa là không định là không có tâm, không tâm là không có ta, thì đâu còn sự sống.
Chúng sanh ai mà không có định, hoặc nhiều hay ít, hoặc trong giấc ngủ yên. Nhưng bởi sự sanh ra từ nhỏ tới lớn, là ở trong vật chất, trong cái ăn, mặc, ở, bệnh, mà vật chất tứ đại thì vô thường thay đổi biến hóa. Chúng ta mảng quanh quẩn đảo lộn mỗi ngày, còn có đâu giờ phút rảnh rang, mà xem xét lại, coi cái sống, cái biết cái ta, nó còn hay mất, sống hay chết, lớn hay nhỏ ra sao ? Nào ta có cần biết nó định hay không định. Lắm kẻ quên lững đâu còn biết đến định là gì ! Ích lợi chi ? Để khi đến lúc bịnh hoạn ốm đau, phải khi già yếu, hoặc thấy mình sắp chết, hoặc bị thất bại, hoặc phải mệt khổ đớn đau, âu sầu sợ sệt, mà cũng không biết vì đâu ? Lẽ nào ? Nguyên cớ tại đâu ? Vì sao ? Thôi thì ta lại đánh liều nhắm mắt đưa chơn há miệng, hoặc lại đổ thừa nghiệp vận, khấn vái rủi may mặc cho số phận. Than ôi ! Đời sống đường dài nhắm mắt quên mình mà đi như thế, thì ta hỏi thử có ai là kẻ được bình yên lâu dài ? Chẳng phải riêng nơi loài người, mà là tất cả chúng sanh, sanh ra từ nơi tứ đại địa ngục, sanh ra từ trong cái ác, từ trong bóng tối, từ trong sự đảo lộn lăng xăng của địa cầu thì cỏ cây thú người, từ dưới thấp mọc đứng lên cao, cho đến khi đi chạy nói làm, lúc đầu ở trong cái loạn mà ra, và nếu không đứng nơi cái loạn thì lại biết đứng đâu, ở đâu ? Nhưng nếu chúng ta hôm nay may mắn sống sót tiến đến bậc người, nhờ nói làm sanh ra hiểu trắng, thì lẽ nào chẳng biết phân biệt cái đen, để giữ gìn mạng sống, để khi chết thân thì tâm còn tồn tại. Hơn là đất nước lửa gió vô tri, sanh hóa lăn tròn đời đời là đất nước lửa gió chẳng đầu đuôi, không có cái ta thật nhứt định. Cũng như tứ đại sanh cỏ cây thú, rồi cỏ cây thú chết thành tứ đại, cứ mãi như thế mà không có cái gì là hột giống đứng vững lâu dài, cho nên chúng sanh chỉ là tôi mọi của cái khổ cái không ta. Ấy vậy chúng ta phải định, để nắm giữ cái ta, đứng ngừng nơi một địa vị tối cao tốt đẹp, mà đừng thèm nhắm mắt ôm theo bánh xe vô thường quỷ quyệt, để khỏi phải tan hình rã bóng; mà sau khi thân xác rã rồi, thì còn lại được cái chủ tể tâm hồn.
Vậy chúng ta nên nhớ rằng kẻ nào không có chút định quá rối loạn khổ não theo vật chất tứ đại đất nước lửa gió lăn xây, thì sau khi chết rồi xác thân trả về tứ đại, cái tâm hồn cũng sẽ tan rã rối loạn nhập đeo theo vào vật chất, không còn hình bóng, chẳng còn có được cái chi để nhập thai trở lại kiếp thân người. Đến chừng đó chỉ còn là đất nước lửa gió, lâu ngày sanh ra cỏ cây thú khác, sự chết sống cũng y như cỏ cây thú, mà chưa hề được có cái tự chủ của ta, cái ta hột giống để đời chi cả.
Có định mới có vui và có sống. Vui tức là sống, sống tức là vui, còn khổ là chết, chết là khổ. Nếu chúng ta sống đời để phải vô minh chịu khổ thì sống để mà làm chi? Và liệu ta có sống được chăng ? Vô minh khổ để sống, hay là vô minh sống để khổ, rối loạn tức là chết rồi vậy. Kẻ mà bị chết và ở trong vô minh tức là địa ngục, thì còn có được sự vui vẻ gì ? Ấy vậy như kẻ chết mà vui, hay vui mà chết, có chẳng phải là quý hơn không ? Nhưng chính thật vui là ta, là sống, sống là vui là ta. Muốn vui sống có ta thì phải định, muốn có định và biết định, thì phải tầm tỏi quán xét thấy cho rõ lẽ thật là chánh kiến. Có CHÁNH KIẾN thấy rõ lẽ chánh mới phát sanh được những điều suy gẫm về lẽ chánh chơn như, mà thấu rõ đạo lý các pháp! Có thấu đạo lý do CHÁNH TƯ DUY, mới năng nói lời chơn chánh ! Từ nơi CHÁNH NGỮ mới có thật hành CHÁNH NGHIỆP, là việc làm đúng theo đạo lý ! Có làm việc phải mới được nuôi thân mạng bằng cách trong sạch thiện lành, hưởng sự yên vui ! Có được CHÁNH MẠNG mới biết mừng vui siêng năng giữ đạo đi tới ! Nhờ CHÁNH TINH TẤN mới không có thì giờ xao lãng vọng động ác tà, bấy giờ tâm mới trong sạch, ý ngó ngay vào một chỗ chơn như không vọng động, niệm tưởng không lìa xa một chỗ phải ! Nhờ CHÁNH NIỆM giữ ý nơi một điều lành, nơi một chỗ một, thì ý mới định. Ý định thì thân khẩu phải định, thân khẩu ý đều định gọi là tâm định, định tại nơi lẽ chánh, chỗ thiện lành sáng suốt kêu gọi CHÁNH ĐỊNH, là sự yên lặng, nín nghỉ hưu trí, Niết bàn là nơi rốt ráo quyết định, là cảnh giới nhứt định. Cái tâm đã ấn định không còn dời đổi, hay là ý đã ở trong cái chơn như không còn vọng động, ngủ nghỉ vui sướng sống mãi đời đời.
Từ chánh kiến đến chánh định kêu là đạo, đến chánh định gọi là kết quả, quả ấy là quả yên vui sống mãi, do sự giác ngộ, quét sạch diệt dứt căn trần, tứ đại vô minh, nên gọi là quả Phật, quả giác chơn. Giác ngộ mới có chơn như, có chơn như mới được giác ngộ, cũng như có chánh kiến mới có chánh định, có chánh định mới là chánh kiến. Có chánh kiến mới giác ngộ, có chánh định mới có chơn như, hay tức là giác ngộ sanh chánh kiến, chơn như sanh chánh định, là thể nương nhau hiệp một chẳng chia lìa.
Cũng như có TẦM SÁT là tầm tõi quán xét thấy rõ lẽ thật, mới có sự mừng, có HỶ mừng vì lẽ đã gặp được đường đi, mới có sự vui. Có LẠC vui khi đã đi tới trúng đường, không còn khổ não, thì thân tâm trí mới trong sạch, có TỊNH sạch ý mới yên lặng đứng ngừng, không còn bị sự lôi cuốn hấp dẫn nên mới ĐỊNH. Từ tầm sát đến định kêu là đạo, đắc định thì có đủ quả linh và đạo lý, tức là trí huệ và thần thông kêu là đắc quả, quả ấy là tầm sát và định, trong đó có chứa hỷ lạc tịnh, là sự mừng vui trong sạch; quí báu nhứt trong đời, là sự sống của ta đó.
Như vậy là muốn định thì phải có niệm, nhờ niệm tưởng ghi nhớ một câu, một việc, một lời một điều gì đó, mới được định. Cũng như nước bị đựng trong tô chén để yên lặng thì sẽ định, cái ý nhờ bị trói buộc một chỗ mà phải đứng ngừng, đến lâu sau quen lần, mới không còn loạn vọng. Định đây là cái ý định, cũng như cái ngòi trong hột trái, bị sự không nói (như thịt cơm), không làm (như bao vỏ) nhốt đậy lại, chẳng cho nó phóng ý mọc vượt ra được mới khỏi luân hồi sanh tử, khỏi mọc cây đâm rễ trong cõi trần. Nhờ vậy mà hột giống tâm mới cất để đời đời, còn cái ý ngòi mộng thì được sâu trong giữa hột (Tâm đây là hột giống, gồm có ba phần: bao vỏ là thân việc làm, thịt cơm là khẩu lời nói, và các ý là ngòi mộng ở bên trong). Ý có là do thân và khẩu, việc làm lời nói sanh ý tưởng. Bởi trong sự nói làm có hai lẽ tương đối là tình, khi thì buồn, khi thì vui mừng rồi giận, thương đến ghét, thích ưa đến nhàm chán do đó sanh ra ý dục. Ý dục phát sanh nơi loài cây cỏ trước nhất, khi đến thú nó rất ác, được làm người thì ý có chút thiện hơn. Nhưng ý là vọng động không ngừng, cho nên kẻ nào lấy ý làm ta là phải khổ sở điên đảo: Vậy ta phải nhốt nó lại và đổi nó ra cái trí là sự hiểu trắng biết phân biệt, có được học thức, thì mới khỏi sai lầm theo ý dốt nát muốn càng, mà tránh được khổ sở nạn tai. Người sống bằng cái trí sáng láng hay khéo gọi là bậc Trời. Nhưng cái trí khôn ngoan ấy cũng chưa phải là hết khổ sở thất bại, người phải cần đổi trí ra làm cái giác, giác là cái biết sáng suốt chắc chắn chơn thật không mê lầm. Chính người sống chơn thật do nơi biết sáng mới vững bền yên vui, kết quả hơn là sự khéo xảo mưu mô của trí. Vả lại trí có hai : Trí say và trí huệ ! Trí say là phân biệt hiểu trắng đen mà chưa chịu tỉnh dứt bỏ điều vọng quấy. Trí huệ là cái hiểu trắng bằng sự thật hành dứt bỏ được cái điều tội lỗi dối trá giữ được chơn như yên lặng tịnh định chắc thiệt. Cho nên cũng kêu gọi trí huệ là chơn trí, chính chơn trí cũng kêu là giác hay tánh.
Vậy thì tất cả cũng là một cái biết, tùy theo mỗi chỗ đặt tên; Cái biết sa ngã theo thọ tình hai lẽ tương đối kêu là ý. Cái biết thấy trắng phân biệt kêu là trí (tri bạch). Cái biết sáng suốt chơn thật tự nhiên kêu là giác. Cả thảy đều là cái biết của tâm, nơi ý trí lúc đầu là tâm vọng giả tạm, đến giác chơn sau mới là tâm chơn chắc thiệt vĩnh viễn. Tâm chơn tức là tâm của chư Phật, tất cả y nhau như một, trọn sáng trọn lành. Chẳng phải như tâm vọng non nớt của chúng sanh, kẻ vầy người khác, giả dối hư hoại ác tà, lắm khi tiêu hoại chẳng còn có được.
Ý làm người, trí làm Trời, giác làm Phật. Ý trí là còn khổ, chính giác ngộ mới yên vui. Vậy nên chúng ta phải cần tịnh định để ém dấu bỏ mất ý của loài người thì mới mong làm trời Phật đặng.
Cái ý như con ngựa không cương chạy sãi cùng đường ta phải dùng cái niệm làm dây cương kìm thúc trói nó lại cho đi ngay đường thẳng lối, đến khi đã quen thuần thục, buông cương bỏ niệm; mà ý, ngựa, không chạy bậy, chừng đó ta mới dám gọi là ý của ta, ý phải tốt trọn lành, ta mới dám tin dùng xài nó được, và mạng ta là chủ ngồi trên mới chắc sống vững yên vui. Như thế tức là ta tập đổi sửa ý vọng ác tà định giả dối cho nên ý chơn chắc thiệt ngay chánh thiện lành, để trở nên con người tốt đẹp quí giá cao siêu, ích lợi cho chúng sanh nhờ hưởng dám tin dùng. Nhờ chánh niệm mới có được chánh định có niệm một chỗ như nước đứng ngừng mới tịnh sạch. Cho nên cũng gọi là có tịnh mới có định. Muốn có chánh niệm phải nhờ chánh tinh tấn. Muốn có chánh tinh tấn phải nhờ chánh mạng. Muốn có chánh mạng phải nhờ chánh nghiệp. Muốn có chánh nghiệp phải nhờ chánh ngữ. Muốn có chánh ngữ phải nhờ chánh tư duy. Muốn có chánh tư duy phải nhờ chánh kiến. Chánh kiến thì đi đến chánh định, tà kiến thì đi đến tà định. Chánh định là sống yên vui, tà định là chết trối khổ. Thế thì khởi đầu kiến thấy, hễ tà là tà mãi, còn chánh là chánh hoài. Cả thảy chánh là nên, cả thảy tà là hư. Ấy vậy kiến thấy là cặp mắt của ta lúc đầu phải cho tỏ rõ, tìm xét kỹ lưỡng rồi sẽ thật hành đến ngay mục đích, chớ ngàn đời vui, khổ, sống, chết, chẳng phải là sự may rủi, mà chúng ta lại bỏ lãng thờ ơ !
Nên nhớ rằng: Có tầm sát đúng lẽ thật mới có hỷ lạc tịnh định, định là do tịnh, tịnh là do lạc, lạc là do hỷ, hỷ là do tầm sát. Bằng mà tầm sát sái trật hay không có tầm sát là sẽ có nộ giận, có nộ giận mới sanh buồn khổ, có buồn khổ mới sanh cấu trược, có cấu trược mới loạn vòng bối rối, chết khổ điên cuồng vô ích tai hại.
Người có định thì thân khẩu ý mới trong sạch, tuy ít nói mà nói hay, tuy ít làm mà làm nên, tuy ít nhớ mà nhớ phải, là được kết quả yên vui biết bao nhiêu ? Và cũng nhờ định, mà mắt tai mũi lưỡi thân ý mới trọn lành hữu dụng, tốt đẹp trang nghiêm, mới ra con người có giá trị, xứng đáng để nêu gương. Căn nghiệp tròn sáng, tức là viên ngọc quý báu của chúng sanh tôn trọng, để dành, cất giữ, về sau mãi mãi, và là một nhân vật đáng sống đời đời. Mỗi lời nói, mỗi việc làm, mỗi ý niệm là những đám mưa hoa là những cơn gió mát, là những sự phân phát của cải, đủ cách xinh lịch tốt đẹp.
Muốn nhập định không phải một lần mà được định. Chúng ta phải dò lối, bước đi từ bước và tập lần lần. Định yên lặng là cái kho tàng vô tận, là phòng bí mật, là tủ sách chứa kinh; hay cũng như một cái trái, mà chúng sanh từ xưa đã nhọc sức trơn trọt, rờ rẫm leo trèo bên ngoài, chớ chẳng bao giờ vào được bên trong đắc định, để hưởng quả quý báu hay lạ ấy. Là bởi không tìm ra được chìa khóa, hoặc cái cửa kín, hay cái cuống tim là chỗ ra vào. Đành rằng: Ai cũng biết sự nhập định là vui sướng ích lợi sống đời, trong định trí mới huệ, có huệ trừ vọng mới chơn, chơn như là linh ứng; nghĩa là: Định nhiều thì huệ nhiều, phép linh nhiều, định ít thì huệ ít và phép linh ít. Chắc ai cũng muốn có trí huệ đạo lý, với quả linh thần thông, và cũng biết rằng: Cái sống là linh, cái biết là sáng, nhưng khó nỗi là sự thật hành, hoặc thiếu sự kinh nghiệm hoặc không bền chí, hoặc thiếu sức trợ lực của người khác, thì dễ gì đặng kết quả thành công. Cho nên lắm kẻ chán sợ sự hiểm nguy, đành giữ tập việc thiện lành ngay chánh bên ngoài, mà cho là vừa đủ với sức của mình, không ráng chịu khó để đến tận nơi tâm Phật. Thiện chánh là đi tới định, nếu đứng mãi một chỗ chánh thiện mà không định, thì đâu tránh khỏi khổ não luân hồi. Kẻ ác là bởi không định, người thiện mà không định thì khổ, kẻ trí mà không định thì điên. Hễ có sống, ắt có khổ, mà nếu chúng ta chịu khổ tu trong một đời, thì muôn kiếp được thảnh thơi. Như thế có chẳng là hay hơn sự kéo dài đau đớn ? Vả lại sự nhập định đâu có khổ nhọc gì sức lực; càng định là càng vui, miễn là ta chịu bỏ cái ham chơi dốt học nô đùa cẩu thả, thì sự nhập định đối với ta cũng không có lấy chi làm lạ. Con người nếu làm được cái khó, cái hơn người, cái tiến hóa, thì mới được gọi là bậc siêu nhân không còn lẩn quẩn trong cái cỏ, cây thú người, tứ đại, một chỗ. Cũng như kẻ biết lìa bà mẹ, mới gọi là kẻ có chí lượng hơn người, không phải chịu ở trong thai bào mãi mãi.
Vậy thì chúng ta phải cố gắng nhập định, và phải hiểu những pháp của nhập định như vầy: mà đừng trọn chung thủy với cỏ cây, thú, người, tứ đại, cùng là trọn tình nghĩa với ác tà vô minh loạn khổ:
1) Từ nhỏ đến lớn thân và miệng sanh tập thành ý mà thân miệng ác nên ý phải ác, vậy phải sửa thân và khẩu cho thiện thì ý mới thiện. Chúng nó ác là bởi vọng động, vậy bây giờ cần phải tịnh định, nên tập ngồi một chỗ, trói chân ngồi kiết già (hoặc bán già) nắm tay lại. Ngồi ngay, miệng ngậm, cắn răng, đầu cúi, mà chăm chú nơi một việc phải nào đó, mỗi ngày một hai lần theo sức, vừa vừa, chớ đừng thái quá hay bất cập. Chớ nên cố gắng quá hoặc lãng xao, phải nhớ giữ một đề mục mãi dầu trong lúc động tịnh đều không cho xao lãng, lâu ngày sẽ quen lần từ ít tới nhiều, từ mau tới lâu. Cho đến khi ta đã được chủ tâm, thân khẩu ý đã qui phục tùy theo mạng lệnh, chừng đó mới gọi là có ta và thấy lần ra kết quả.
2) Mắt tai mũi lưỡi thân sanh ra ý, vậy muốn phục ý, thì trước phải phục mắt tai mũi lưỡi thân. Xưa năm căn vọng động cấu trược, mở cửa thêu trần chôn giết ý, ý ngộp mới giẫy giụa, nay phải đóng các cửa, tuôn bỏ vật chất ra ngoài, thì ý nhẹ nhàng thong thả mới ngồi yên, ý vốn hay chuyền theo các cửa, vậy hãy đóng cửa là ý hết chỗ leo trèo, lâu ngày buồn ngủ mỏi mệt là sẽ nằm yên. Xem chừng ý thiệt đã giãi đãi không còn cử động, chừng đó ta sẽ bắt đem ra tập dạy khiến xài, thì nó mới không còn tánh ác, và trở nên con vật hay quí khó tìm. Chớ bỏ qua khi nó có sẵn, không biết nhốt dạy, thì sau này ta thiếu thốn, lại hối tiếc không nên.
3) Cái ý có ba là: tham, sân, và si, bằng trị ngay nó, là phải chăm nom gìn giữ, rình đón ngăn rào, xem chừng từng chút, nuôi nó như nuôi con, đừng cho tham sân si tam độc bên ngoài nhập vào và coi chừng, tham sân si tam độc bên trong lộ ra, thì phải mau trừ khử chùi lau! Ý nay mắc bịnh độc tham sân si, vậy phải mau lo chữa chuyên săn sóc nó, vì nó là ý độc hại lây. Phải cần cho ăn uống bằng giới định, huệ, trí trong ra, từ ngoài vào, phải là chỉ một thứ giới định huệ thôi, thì lâu ngày hết bệnh, mới trở nên ý quí. Ý là ma mà ý cũng là Phật kẻ ở nhà của ta sai khiến đó, ta cần phải nuôi nó tử tế, nó mới có giúp được việc cho mình nên. Như vậy là đừng cho nó ra gần năm cửa mắt tai mũi lưỡi thân (hay là thân khẩu), với kẻ ác tà, với đồ cấu trược, thấp thỏi xấu dơ mà phải để nó lên cao chỗ thanh tịnh, mặc cho áo tốt bằng sự vắng lặng, cho đồ ăn ngon là thiện lành, thì nó mới lớn nên người được.
4) Hoặc đổi ý ra làm trí giác, chỉ có còn biết trí giác, mà quên hẳn bỏ ý đi, thì lâu ngày nó sẽ mất đi hoặc hổ thẹn mà phục tùng theo trí giác, muốn như vậy thì đừng ở chỗ phiền não; và chớ đem bụi trần nuôi sóc nó. Mà muốn có trí giác, thì phải yên lặng, ở nơi yên lặng mãi, cho đến khi hết ý quấy rầy, bấy giờ mới nên đứng dậy ra đi, làm nói theo trí giác.
5) Hoặc xem như mình đã chết, hưu trí, nghỉ mệt, mà bỏ hẳn việc đang làm, hoặc phải làm cho rồi, thấy mình như chết nằm trong hòm dưới đất, không còn dính mắc nợ chi nữa. Hoặc như cứ xem là ngủ nghỉ đời đời, để đứng ngừng giữa lúc bánh xe lăn, mặc cho sự thế đổi xoay, đói no sống chết phải quấy, mất còn, đến đi, không có... gì, trối mặc, chỉ biết một cái chơn như yên tịnh mà thôi.
6) Hoặc cứ mãi nói một lời, hoặc cứ mãi làm một việc chăm chú chẫm rãi bền công, không màng biết đến việc ngoài chi khác. Hoặc phải lập đi lập lại mãi một câu, để cho thấy rõ nghĩa lý, phân biệt kỹ càng. Hoặc ra đi giáo hóa cho đầy trí huệ, để sức học nơi nghe thấy, lo tìm, thật hành, và dạy nói, có đủ trí như chai nước đầy, thì mới không còn lưng vọng, tự nhiên chơn như hiện đến.
7) Hoặc tập sửa tướng nói tướng làm, tướng nơi mắt tai mũi lưỡi, thân, cho có qui tắc điều độ, chậm chạp, chẫm rải, thong thả, thanh nhàn, ngay thẳng, chín chắn, trang nghiêm nết hạnh. Cái ý không cho ra ngoài các tướng bảo ấy, cũng như bắt đứa tớ chăn bò, chẳng cho ở không thì nó không còn phóng túng, chạy chơi ngông dạo để gây tai nạn.
8) Hoặc tìm xét nơi tâm lý của chúng sanh, xem xét nhơn duyên, tìm lẽ thật, hay sự nghe pháp nghe kinh, hoặc nghe trái tim nhảy, hoặc thấy hơi thở điều hòa, hoặc ghi nhớ thân mình nơi mọi chỗ, hoặc giữ gìn ngũ tạng, hoặc thận trọng ngăn ngừa bịnh, hoặc giữ oai nghi, hoặc ngồi đếm số, hoặc lượm món đồ, hoặc tập thở bằng rún, hoặc đếm bước đi, hoặc tưởng tượng trên không, hoặc nghe hơi gió, hoặc lặng lóng bên trong, nghe xét bên ngoài. Hoặc hằng giữ đúng một chữ trung trung, hay tập cái công, cái hòa, cái tự nhiên cũng được v.v... thảy đều là phép, nhập định từ ít tới nhiều, từ mau tới lâu, mà người thật hành thì phải bền chí, chịu buồn, giữ tâm nơi rừng rậm, không cho thối chuyển.
9) Hoặc chỉ tìm xét trong cái không, cái vắng lặng, tối tăm, cái huyền bí võ trụ. Hoặc yên lặng dè dặt mà xem nghe chừng , sự động tịnh của tâm mình, với các điều chi xảy đến. Hoặc tin tưởng một vị Phật thánh, hoặc gìn giữ một câu triết lý. Hoặc suy gẫm từ tiếng nói của thế gian, nhận xét sự biến hóa của vạn vật, tìm hiểu thời nhơn duyên, xét xem sự sống của thánh hiền, tập sửa tư cách làm thầy dạy học, học trò v.v... thảy đều là phép nhập định, giữ tâm yên lặng, tránh xa ác khổ.
10) Hoặc tìm xét nơi màu xanh, đỏ, trắng, vàng, đen, tím, đất, nước, lửa, gió, khoảng trống, cái không, cái có; nơi các tử thi, sự chết, thây ma. Hoặc suy gẫm nơi Phật, Pháp, Tăng, Giới, Định, Huệ, ơn đức của Phật và chư Thiên, nơi đức tin, nơi ánh sáng, nơi sự sống, hoặc quán xét nơi phép linh, nơi lòng từ bi hỷ xả vô lượng, nơi cái không có, không lường, không biên, không nhớ tưởng, không nhận biết, không cái ta, không thường, không ranh mé... nơi miếng ăn dơ bẩn, nơi xác thân nhơ nhớp. Hoặc chán ghê hổ thẹn, sợ cho cái khổ, cái luân hồi... Cả thảy các pháp lý sự gì trong thế gian, quấy phải gì, cũng có thể làm đề mục cho ta nhập định được cả. Khi ta hành đến là sẽ được học lần lần, cũng có pháp cao thấp tùy theo trình độ, nhưng ta có thật hành mới có hiểu và rồi tự mình lựa chọn, chế biến cho hạp vừa. Chớ đối với người đã nhập định vững rồi, thì phép nào, đề mục nào, cũng được, cũng y như nhau, vốn không cao thấp khác lạ. Hoặc lúc đầu ta tập giữ một đề mục, hay một câu thoại đầu, đặng chăm chú mà soi sáng, rồi về sau duyên cảnh thay đổi, là ta thay đổi, đề mục khác nữa. Hoặc bữa nay làm việc với một câu này, rồi ngày mai làm việc với câu kia. Hễ khi làm việc là xong, nghỉ xong là đứng dậy, chẳng luận lâu mau sau trước. Hoặc giữ một đề mục cho có ấn chứng, rồi sẽ qua đề mục khác cao hơn cũng được.
Cần nhứt là phải biết rằng: lúc khởi đầu thì phải TẦM SÁT là tìm xét nghĩa lý. Hiểu nghĩa lý rồi mới có HỶ, có hỷ rồi mới có LẠC, có lạc rồi mới có TỊNH, có tịnh rồi mới có ĐỊNH. Về sau hết nghĩa lý để tầm sát rồi, tức là giác ngộ hết pháp nơi mình, thì còn hỷ lạc tịnh định, lâu sau nữa chỉ còn lạc tịnh định, và sau rốt là còn định và xả, xả và định. Bấy giờ cái học sẽ từ nơi yên lặng mà ra, và từ nơi cảnh ngoài mà đến thêm, thêm mãi, tức là giải thoát đã đến bờ bên kia Niết Bàn hết luân hồi khổ não.
Vậy nên sơ định là: tầm sát, hỷ, lạc, tịnh, định.
Nhị định là: hỷ, lạc, tịnh, định.
Tam định là: lạc, tịnh, định.
Tứ định là: tịnh, định, và sẽ đến định xả, là đắc đạo, đắc chơn ngã, chủ tể, kết quả.
Sơ định là cảnh Trời dục giới, nhị định là cảnh Trời sắc giới, tam định là cảnh Trời vô sắc giới, hay xứ cực lạc của Phật A-di-Đà, tứ định là xứ Tịnh độ. Qua khỏi tứ định, xứ Tịnh độ mới gọi là đắc Niết bàn nín nghỉ thiệt thọ gọi là đại định, trong đại định là tự nhiên chớ không còn có pháp gì, như niệm chăm chú, hay tầm sát, hỷ, lạc, tịnh chi cả.
Trong cảnh tâm định, thường có những sự vui như da nổi ốc, trán mát lạnh, như thấy hào quang xẹt, như thấy biển nước trắng xóa phủ chụp xung quanh, như thấy mình nhẹ bay bổng trên không trung, và bay theo mây gió ... Điều mà phải tránh, là trong khi nhập định, chớ quá đua tranh ngồi nhiều ngồi ít, ngồi lâu ngồi mau, hễ qua khỏi tầm sát là đến hỷ lạc tịnh và định, hãy để tự nhiên cho nó định, chớ đừng có ý muốn vọng tưởng đến và khi nó vừa hoạt động thì phải xả đứng dậy đi ra, chớ đừng ngồi nán e thấy quấy, suy nghĩ nhớ bậy; ngồi được lâu mau là nhờ nhiều ngày tập lần từ chút, chớ đừng đua hay khoe giỏi. Và đừng vọng tưởng nhớ ông kia bà nọ chi cả. Đức tin là phải có, mà đừng tưởng tượng ngóng trông. Hãy tính coi là ngồi chơi, nghỉ ngủ, giải trí thế thôi. Chính không trông linh nghiệm, thì lâu ngày mới linh nghiệm. Mà cần phải biết rằng, đó là phép tránh phiền não, giải thoát, ta ngồi tập nhập định, là để cho quen từ chỗ vắng lặng ngủ nghỉ, mai sau đến khi đi đứng ngồi nằm đâu đâu, chỗ đông đảo xao động, ác trược, ta cũng có thể nhập định giữ mình, không cho ô nhiễm, và sống lấy riêng mình, không loạn rối, đặng giúp đỡ cho đời, ích lợi cho mình, cho người. Chính phép nhập định là để ngăn tà ác nơi ta trước vậy.
Hễ định được thì thần thông và trí huệ sẽ có một lượt, từ định mau tới lâu, là quả linh và đạo lý cũng sẽ có từ ít tới nhiều, tự nhiên nơi ta sẵn có, nếu không xao động che đậy, là nó yên trụ và xuất hiện ra, chớ chẳng cầu vái nơi ngoài, ai cho mà có được.
Sắc thân trong sạch như không không thì thọ cảm được yên vui. Hễ thọ cảm được yên vui là tư tưởng được huyền bí. Hễ tư tưởng được huyền bí là hành vi được thần thông. Hễ hành vi được thần thông là thức trí được huệ sáng. Hễ thức trí được huệ sáng là giác ngộ được chơn như. Cho nên gọi rằng: Trong “ sắc thân không ” có đủ giác, linh và thần, sự sống, ba báu quí vô cùng, mà ta phải biết giữ gìn chùi lau, để yên, cất kín, chớ cho dính dơ bụi bặm.
Nhờ nhập định cái tâm mới già cứng, cái ý để cất lâu ngày, sức lực mới mạnh, phát thần thông. Trong cái định là kín đáo ẩn mật, cũng như cái trái có làm vỏ kín đậy, nó mới trọn tốt ngon thơm. Định gom các tư tưởng làm một khối không cho tán loạn, làm một sức cứng chắc.
Trong đó ba cái mật: thân mật, khẩu mật và ý mật, gom lại một thể mạnh vô cùng. Và bởi cùng trong cái mật như kẻ chết, nên thường đi lại với các bậc thần tiên Phật thánh không thân, tuy xác thân còn mà sự sống ở bên kia cảnh giới, qua lại lui tới hai đường thong dong tự tại. Sức mạnh của cái mật kêu là thần, cái thần mạnh hơn hết, gồm cả thân khẩu ý làm một lại, mà bảo no là no, bảo sống là sống, bảo chết là chết, bảo đứng là đứng, bảo đi là đi, bảo lên là lên, bảo xuống là xuống... biến hóa vô cùng. Ta là mật, mật là ta, chư Phật thánh là ta, ta là chư Phật thánh, là cái mật, là như nhau, là có một, nơi ấy chỉ còn một cái đức tính linh thiêng, phép thần, trí huệ với chơn như mà thôi.
Về phép tập nhập định, chúng ta có thể hiểu tóm tắt sơ lược bước đầu ấy. Muốn hiểu kỹ để thực hành, thì mỗi đoạn ắt phải giảng giải ra thành nhiều quyển sách, quí giá vô cùng, và thật hành là phải có bậc cao niên chỉ dẫn mới được.
Muốn định phải có giới ủng hộ, mà chỉ có giới xuất gia khất sĩ mới có thể vào tới đại định nổi. Giới người cư sĩ thì chỉ tập được chút ít thôi. Vậy nên muốn nhập định phải là xuất gia khất sĩ, chỉ có xuất gia khất sĩ mới tu nhập định, không làm khất sĩ khó định được.
Kẻ Khất sĩ mà không có định là ra người khất cái. Chỉ có định mới sanh huệ, định huệ song tu, do nơi giới luật khất sĩ, thì chơn như toàn giác mới sống đời, đúng theo chơn lý lẽ thật, tức là chánh đạo, đạo của vũ trụ, của ta và của tất cả, hay là đạo của tâm mình.
Trong đời có lẽ ai cũng là khất sĩ cả ! Vì có ai mà không có sự xin từ nhỏ tới lớn ? Ai mà không có sự học mỗi ngày ? Ai mà không có sự định từ phút ? Ai mà không có sẵn phép linh thần thông ? Vậy ai sống đúng phép là nên, người hành sái trật là hư, nên hư tự mình, ai nấy hãy tìm xét trong cái tự nhiên là thấy hiểu.
Chính trong tấm kiếng tự nhiên của tâm định như mặt nước, thì việc chi động đến cũng thấy biết rõ ràng ứng hiện và lại tự nó biến hóa linh thiêng. Cái ta khỏi phải cần học hay tập hành điều chi nữa cả.
NÓI TÓM LẠI: chúng ta cần phải mượn cái thiện để học tập đến xuất gia khất sĩ, giới định huệ, mà tu Phật. Như vậy là người xuất gia khất sĩ phải có đủ thiện căn trí thức. Chớ nên vì nghe nói ích lợi mà ham muốn khi mình còn tội lỗi. Nếu kẻ còn quấy ác thiếu học không minh, mà luyện tập tư tưởng ắt cũng được vì linh thiêng, nhưng kẻ ác linh thiêng là không có trí huệ, vì tự cao mà sanh quỉ quyệt là tà ác sái đạo. Vậy nên ai muốn tu chánh định đến Niết bàn, thì trước phải tu tập phước thiện nuôi trí, học hành chơn lý, mở trí thông minh, tập lần giữ giới. Sau lần chắc vững, sẽ đi ngay vào trong nhà Phật. Cần nên hiểu biết sự tu là mãi mãi đời đời là nơi cuối chót của khoảng đường dài, mà ta kết thúc, chớ không phải ra vào lui tới không thường, hay là sự đắc quả trong một hai ngày giây lát, hoặc khi làm Phật, lúc lại làm ma.
Vả lại sự tu hành cũng như ăn cơm để sống, điều ấy vốn không mau chậm, hay đường quanh nẻo tắt gì cả. Vậy nên chúng ta hãy chậm rãi mà đi, nếu là kẻ thiện lành, thì tâm trí đâu có tiêu diệt trong ngày hôm nay, mà hòng lo sợ ! Còn như sự nhập định là lúc đầu phải chấp để thực hành, tu tập đi tới, khi đã tới nơi yên lặng rồi, thì cảnh ấy là tự nhiên vắng lặng chơn như, chớ không còn có chấp hay không chấp, cùng chấp có, chấp không chi cả, theo như lời tranh luận.
Muốn nhập định cũng phải cần cảnh tịnh, tâm cảnh phải y nhau, thời duyên phải hạp lúc, sanh chúng chớ cho gần, hoặc gần thì phải thuận hạp, hoặc hộ trì tán trợ, mà người lành thì phải kiên tâm trì chí, tuy không sợ chết nhưng cũng chớ liều mình, vì quả đạo cũng không ở nơi người chết. Cảnh định là cảnh tự nhiên, tự nhiên là yên lặng. Vậy nên tâm và cảnh phải yên lặng thì mới có cái sống tự nhiên được.
Trước khi nhập định, thì sự việc nào...phải cho rồi xong, hoặc nếu có thể bỏ ngang được, mà bên trong...ở ngoài phải không còn dính mắc thì mới yên lặng; Before samadhi, things have to do ... and then finished, or if you can abort it, but inside ... outside should no longer cling to the new quiet.
Phép tu phải có động tịnh tập lần từ chút cho quen, chớ khá ham mê thái quá, mà ra tù túng bẩn chật. Mỗi khi ngồi phải thay đổi chỗ, không ngồi hai lần một chỗ ngồi, phải tìm nơi thanh vắng hoặc nơi trống trãi thấy được chơn trời. Bằng nơi chỗ xao động phải ngồi day mặt vào vách, vào gốc cây. Tốt hơn là ban ngày ngồi dưới gốc cây, ban đêm ngồi nơi chỗ trống. Sáng thì phơi chút nắng, khuya nên hứng chút sương. Phải thường xuyên thay đổi để không cho nhàm chán, nhưng không lìa xa mục đích, chính nhờ sự tinh tấn đó mà kết quả vậy. Con đường "chánh định" là nơi cuối chót của chúng sanh. Chúng ta ai ai khá nên "nhập định" hết; Path "right concentration" is where the last end of all beings. We all pretty up "samadhi" at all.Tổ sư Minh Đăng Quang ; Patriarch Minh Dang Quang
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )



Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
Nhập Định
Trang 212-229 (Chơn lý 14)
I.- Định thiền là yên lặng.
Chơn lý của vũ trụ, là yên lặng. Yên lặng là lẽ thật, là huyền bí, là không vọng động, nên cũng gọi là "Chân-Như" hay sự kín đáo. Định thiền: tức là mật, trong ẩn mật nhập định có chứa: tâm linh, giác tánh, và tinh thần. Cho nên gọi, thiền định năng sanh ra: "Chân-Như", trí huệ và giới luật. Định thần là chánh, loạn là tà, nên mới có tên chánh định; và cũng là có chánh mới có định: chánh định là Niết bàn, tâm người trở lại chánh định "Chân-Như" sau khi toàn giác, gọi là Như Lai hay là Phật. Thế nên, Chánh định, là chỗ đã sanh ra tất cả chúng sanh, vạn vật, và các pháp, mà cũng là chỗ trở về, hay chỗ đến, nghỉ ngơi, hưu trí của chúng sanh, vạn vật, và các pháp, kia vậy!
"Thể thức" của định là vũ trụ bao la vô  cực, không không vắng lặng và tối đen. "Tướng tính" của định là "chơn-như" không có vọng động, đứng ngừng, chết nghỉ, trơ trơ. "Hữu dụng" của định là thay đổi, tiến hóa, an vui giác ngộ, và quả linh thần thông. "Lý tính " của định là tự nhiên, chơn thật. Thân của định: là giới luật, lý trí của định: là huệ, tánh cách của định: là chơn, còn định: là tâm linh của tất cả chúng sanh hay cũng là sự sống, sức mạnh và bao gồm tất cả, v.v...
Định là: quả yên vui, mà con đường đi đến định: gọi là "đạo", và đắc chánh định: gọi là đắc quả. Định là chỗ đến, kết quả, mục đích của các con đường. Định là một: năng lực mạnh mẽ nhất ! Định là: sanh mạng của thân tâm trí ta. Chính "chánh định" mới là bản ngã vậy ! Trước quả địa cầu là: định, sau quả địa cầu là: định. Trước sanh thân là: định, sau sanh thân là: định. 
Trước khi thức dậy, là Định, sau khi thức dậy là: Định.
Trước khi làm việc là: định, sau khi làm việc là: định.
Trước khi nói là: định, sau khi nói: là định. 
Trước khi nghỉ ngơi là: định, sau khi nghỉ ngơi là: định. 
Cái định hằng có nơi: mọi chỗ, mọi lúc; mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý phải định luôn luôn. Ông thầy giáo không định: thì chết, người học trò không định: thì điên. Ai ai không định thì khổ. Định là: giấc ngủ ngon, hay như cái chết sướng. Cho nên, định là: mùi vị của các sự việc. Có định mới có thành công, thất bại cho mỗi hạng người. 
Có chánh, mới có: định ! Chánh Đạo là năng sanh: định quả. Chánh Đạo là: thiện, thiện là không ác, ác là che mất "bản tâm", che mất bản tâm là quên: định ! Cho nên, kẻ không định: là ác tà, loạn vọng rối khổ, tơi bời, không đường lui tới. Vậy, muốn định thì phải răn ngừa: ác ! Và tránh xa chỗ ồn ào, tức là giữ giới luật, tự ta chế ra giới luật cho ta, để bảo tồn định, có định ! mới không có phiền não, vô ích, tai hại. 
Thế nên, đời sống của ta phải có kỷ luật, giới luật nhiều là: định nhiều, giới luật ít là: định ít, không giới luật là không định. Tâm không định là sự nghĩ ngợi: quán xét, không đặng sáng và chẳng năng: dứt bỏ được điều càng quấy. Không định: không có thần thông, quả linh, thì con người phải té sa ngã vào nơi vật chất giả dối, nắm níu lấy : ác tà loạn vọng, chôn, nhốt giết hại tâm mình. Cho nên tâm định: thì trí ta mới huệ, huệ nhiều ít là: do định. Định nhiều là huệ nhiều, định ít: là huệ ít, không định là: không có huệ. Có huệ được học tỏ sáng, mới chấm hết mê lầm. So samadhi mind: the new wisdom of our minds, much less wisdom is: due samadhi. Samadhi variety is more wisdom, samadhi less: less is wisdom, not samadhi be: there is no wisdom. There is wisdom to be learned highlighted, new end confusion. Không mê lầm là không vọng động: theo cảnh chiêm bao, mộng ảo của lớp thấp thỏi đầu tiên, thì con người mới đặng hưu trí, "chơn như" nín nghỉ, làm kẻ ông già, làm người cao cả, không còn nói làm bậy bạ, ác quấy, uổng công, nhọc sức. 
Có định tâm trí : mới nhớ chứa xa, đựng gồm lớn, nhờ: nhớ đựng bao việc quá khứ hiện tại, mà thấy rõ các pháp vị lai, xét rõ được việc đời, nhìn xa được tâm lý, nghe rõ được trình độ... diệt dứt được phiền não, mà chứng đắc được an hòa.
Có định thì cái hình bóng của biết mới cứng vững chắc già to lớn tốt tươi không hư hoại. Định là một sức mạnh thần thông, nhờ yên lặng cái ý mới mạnh mẽ gom hiệp mà điều khiển sự biến hóa, linh nghiệm.
Có định ta mới dám tin chắc ta là trọn lành, không lầm lạc rối loạn ác quấy. Định nơi lẽ chánh, thiện sẽ đến kết quả an lạc nghỉ ngơi đại định. Bằng nhứt định nơi sự tà ác, ắt phải gặp rối khổ lao chao đại loạn. Cho nên gọi sự quyết định hay nhứt định là cái định yên lặng. Chỉ có cái ấn dấu không dời đổi, chắc chắn tin cậy làm định mạng cho chúng sanh, cái ấn định ấy là sự yên lặng mà thôi, lại sự yên lặng ấy có là do nơi lẽ chánh thiện. Dầu chưa phải là đại định lâu ngày, chớ cái định trong chốt lát, nó cũng giúp cho ta biết bao điều khỏe khoắn nghỉ ngơi, và làm cho ta được tỉnh táo trí huệ. Vậy chúng ta nên nhớ rằng người không định là sẽ điên, mà kẻ điên thì đâu có cái sống biết chi chi ở tại chỗ nào ? Cũng như nước xao lộn là nước đục bùn, đã là nước dơ thì đó là đất chứ đâu còn nước ? Nước yên lặng thì có mắt kiếng sáng thấy rõ muôn hình, cũng như tâm định mới thấy rõ có tâm, và trí sẽ được huệ sáng soi ra cùng khắp. Như vậy nghĩa là không định là không có tâm, không tâm là không có ta, thì đâu còn sự sống ?
Chúng sanh ai mà không có định, hoặc nhiều hay ít, hoặc trong giấc ngủ yên. Nhưng bởi sự sanh ra từ nhỏ tới lớn, là ở trong vật chất, trong cái ăn, mặc, ở, bệnh, mà vật chất tứ đại thì vô thường thay đổi biến hóa. Chúng ta mảng quanh quẩn đảo lộn mỗi ngày, còn có đâu giờ phút rảnh rang, mà xem xét lại, coi cái sống, cái biết cái ta, nó còn hay mất, sống hay chết, lớn hay nhỏ ra sao ? Nào ta có cần biết nó định hay không định. Lắm kẻ quên lững đâu còn biết đến định là gì ! Ích lợi chi ? Để khi đến lúc bịnh hoạn ốm đau, phải khi già yếu, hoặc thấy mình sắp chết, hoặc bị thất bại, hoặc phải mệt khổ đớn đau, âu sầu sợ sệt, mà cũng không biết vì đâu ? Lẽ nào ? Nguyên cớ tại đâu ? Vì sao ? Thôi thì ta lại đánh liều nhắm mắt đưa chơn há miệng, hoặc lại đổ thừa nghiệp vận, khấn vái rủi may mặc cho số phận. Than ôi ! Đời sống đường dài nhắm mắt quên mình mà đi như thế, thì ta hỏi thử có ai là kẻ được bình yên lâu dài ? Chẳng phải riêng nơi loài người, mà là tất cả chúng sanh, sanh ra từ nơi tứ đại địa ngục, sanh ra từ trong cái ác, từ trong bóng tối, từ trong sự đảo lộn lăng xăng của địa cầu thì cỏ cây thú người, từ dưới thấp mọc đứng lên cao, cho đến khi đi chạy nói làm, lúc đầu ở trong cái loạn mà ra, và nếu không đứng nơi cái loạn thì lại biết đứng đâu, ở đâu ? Nhưng nếu chúng ta hôm nay may mắn sống sót tiến đến bậc người, nhờ nói làm sanh ra hiểu trắng, thì lẽ nào chẳng biết phân biệt cái đen, để giữ gìn mạng sống, để khi chết thân thì tâm còn tồn tại. Hơn là đất nước lửa gió vô tri, sanh hóa lăn tròn đời đời là đất nước lửa gió chẳng đầu đuôi, không có cái ta thật nhứt định. Cũng như tứ đại sanh cỏ cây thú, rồi cỏ cây thú chết thành tứ đại, cứ mãi như thế mà không có cái gì là hột giống đứng vững lâu dài, cho nên chúng sanh chỉ là tôi mọi của cái khổ cái không ta. Ấy vậy chúng ta phải định, để nắm giữ cái ta, đứng ngừng nơi một địa vị tối cao tốt đẹp, mà đừng thèm nhắm mắt ôm theo bánh xe vô thường quỷ quyệt, để khỏi phải tan hình rã bóng; mà sau khi thân xác rã rồi, thì còn lại được cái chủ tể tâm hồn.
Vậy chúng ta nên nhớ rằng kẻ nào không có chút định quá rối loạn khổ não theo vật chất tứ đại đất nước lửa gió lăn xây, thì sau khi chết rồi xác thân trả về tứ đại, cái tâm hồn cũng sẽ tan rã rối loạn nhập đeo theo vào vật chất, không còn hình bóng, chẳng còn có được cái chi để nhập thai trở lại kiếp thân người. Đến chừng đó chỉ còn là đất nước lửa gió, lâu ngày sanh ra cỏ cây thú khác, sự chết sống cũng y như cỏ cây thú, mà chưa hề được có cái tự chủ của ta, cái ta hột giống để đời chi cả.
Có định mới có vui và có sống. Vui tức là sống, sống tức là vui, còn khổ là chết, chết là khổ. Nếu chúng ta sống đời để phải vô minh chịu khổ thì sống để mà làm chi? Và liệu ta có sống được chăng ? Vô minh khổ để sống, hay là vô minh sống để khổ, rối loạn tức là chết rồi vậy. Kẻ mà bị chết và ở trong vô minh tức là địa ngục, thì còn có được sự vui vẻ gì ? Ấy vậy như kẻ chết mà vui, hay vui mà chết, có chẳng phải là quý hơn không ? Nhưng chính thật vui là ta, là sống, sống là vui là ta. Muốn vui sống có ta thì phải định, muốn có định và biết định, thì phải tầm tỏi quán xét thấy cho rõ lẽ thật là chánh kiến. Có CHÁNH KIẾN thấy rõ lẽ chánh mới phát sanh được những điều suy gẫm về lẽ chánh chơn như, mà thấu rõ đạo lý các pháp! Có thấu đạo lý do CHÁNH TƯ DUY, mới năng nói lời chơn chánh ! Từ nơi CHÁNH NGỮ mới có thật hành CHÁNH NGHIỆP, là việc làm đúng theo đạo lý ! Có làm việc phải mới được nuôi thân mạng bằng cách trong sạch thiện lành, hưởng sự yên vui ! Có được CHÁNH MẠNG mới biết mừng vui siêng năng giữ đạo đi tới ! Nhờ CHÁNH TINH TẤN mới không có thì giờ xao lãng vọng động ác tà, bấy giờ tâm mới trong sạch, ý ngó ngay vào một chỗ chơn như không vọng động, niệm tưởng không lìa xa một chỗ phải ! Nhờ CHÁNH NIỆM giữ ý nơi một điều lành, nơi một chỗ một, thì ý mới định. Ý định thì thân khẩu phải định, thân khẩu ý đều định gọi là tâm định, định tại nơi lẽ chánh, chỗ thiện lành sáng suốt kêu gọi CHÁNH ĐỊNH, là sự yên lặng, nín nghỉ hưu trí, Niết bàn là nơi rốt ráo quyết định, là cảnh giới nhứt định. Cái tâm đã ấn định không còn dời đổi, hay là ý đã ở trong cái chơn như không còn vọng động, ngủ nghỉ vui sướng sống mãi đời đời.
Từ chánh kiến đến chánh định kêu là đạo, đến chánh định gọi là kết quả, quả ấy là quả yên vui sống mãi, do sự giác ngộ, quét sạch diệt dứt căn trần, tứ đại vô minh, nên gọi là quả Phật, quả giác chơn. Giác ngộ mới có chơn như, có chơn như mới được giác ngộ, cũng như có chánh kiến mới có chánh định, có chánh định mới là chánh kiến. Có chánh kiến mới giác ngộ, có chánh định mới có chơn như, hay tức là giác ngộ sanh chánh kiến, chơn như sanh chánh định, là thể nương nhau hiệp một chẳng chia lìa.


Cũng như có TẦM SÁT là tầm tõi quán xét thấy rõ lẽ thật, mới có sự mừng, có HỶ mừng vì lẽ đã gặp được đường đi, mới có sự vui. Có LẠC vui khi đã đi tới trúng đường, không còn khổ não, thì thân tâm trí mới trong sạch, có TỊNH sạch ý mới yên lặng đứng ngừng, không còn bị sự lôi cuốn hấp dẫn nên mới ĐỊNH. Từ tầm sát đến định kêu là đạo, đắc định thì có đủ quả linh và đạo lý, tức là trí huệ và thần thông kêu là đắc quả, quả ấy là tầm sát và định, trong đó có chứa hỷ lạc tịnh, là sự mừng vui trong sạch; quí báu nhứt trong đời, là sự sống của ta đó.
Như vậy là muốn định thì phải có niệm, nhờ niệm tưởng ghi nhớ một câu, một việc, một lời một điều gì đó, mới được định. Cũng như nước bị đựng trong tô chén để yên lặng thì sẽ định, cái ý nhờ bị trói buộc một chỗ mà phải đứng ngừng, đến lâu sau quen lần, mới không còn loạn vọng. Định đây là cái ý định, cũng như cái ngòi trong hột trái, bị sự không nói (như thịt cơm), không làm (như bao vỏ) nhốt đậy lại, chẳng cho nó phóng ý mọc vượt ra được mới khỏi luân hồi sanh tử, khỏi mọc cây đâm rễ trong cõi trần. Nhờ vậy mà hột giống tâm mới cất để đời đời, còn cái ý ngòi mộng thì được sâu trong giữa hột (Tâm đây là hột giống, gồm có ba phần: bao vỏ là thân việc làm, thịt cơm là khẩu lời nói, và các ý là ngòi mộng ở bên trong). Ý có là do thân và khẩu, việc làm lời nói sanh ý tưởng. Bởi trong sự nói làm có hai lẽ tương đối là tình, khi thì buồn, khi thì vui mừng rồi giận, thương đến ghét, thích ưa đến nhàm chán do đó sanh ra ý dục. Ý dục phát sanh nơi loài cây cỏ trước nhất, khi đến thú nó rất ác, được làm người thì ý có chút thiện hơn. Nhưng ý là vọng động không ngừng, cho nên kẻ nào lấy ý làm ta là phải khổ sở điên đảo: Vậy ta phải nhốt nó lại và đổi nó ra cái trí là sự hiểu trắng biết phân biệt, có được học thức, thì mới khỏi sai lầm theo ý dốt nát muốn càng, mà tránh được khổ sở nạn tai. Người sống bằng cái trí sáng láng hay khéo gọi là bậc Trời. Nhưng cái trí khôn ngoan ấy cũng chưa phải là hết khổ sở thất bại, người phải cần đổi trí ra làm cái giác, giác là cái biết sáng suốt chắc chắn chơn thật không mê lầm. Chính người sống chơn thật do nơi biết sáng mới vững bền yên vui, kết quả hơn là sự khéo xảo mưu mô của trí. Vả lại trí có hai : Trí say và trí huệ ! Trí say là phân biệt hiểu trắng đen mà chưa chịu tỉnh dứt bỏ điều vọng quấy. Trí huệ là cái hiểu trắng bằng sự thật hành dứt bỏ được cái điều tội lỗi dối trá giữ được chơn như yên lặng tịnh định chắc thiệt. Cho nên cũng kêu gọi trí huệ là chơn trí, chính chơn trí cũng kêu là giác hay tánh.
Vậy thì tất cả cũng là một cái biết, tùy theo mỗi chỗ đặt tên; Cái biết sa ngã theo thọ tình hai lẽ tương đối kêu là ý. Cái biết thấy trắng phân biệt kêu là trí (tri bạch). Cái biết sáng suốt chơn thật tự nhiên kêu là giác. Cả thảy đều là cái biết của tâm, nơi ý trí lúc đầu là tâm vọng giả tạm, đến giác chơn sau mới là tâm chơn chắc thiệt vĩnh viễn. Tâm chơn tức là tâm của chư Phật, tất cả y nhau như một, trọn sáng trọn lành. Chẳng phải như tâm vọng non nớt của chúng sanh, kẻ vầy người khác, giả dối hư hoại ác tà, lắm khi tiêu hoại chẳng còn có được.
Ý làm người, trí làm Trời, giác làm Phật. Ý trí là còn khổ, chính giác ngộ mới yên vui. Vậy nên chúng ta phải cần tịnh định để ém dấu bỏ mất ý của loài người thì mới mong làm trời Phật đặng.
Cái ý như con ngựa không cương chạy sãi cùng đường ta phải dùng cái niệm làm dây cương kìm thúc trói nó lại cho đi ngay đường thẳng lối, đến khi đã quen thuần thục, buông cương bỏ niệm; mà ý, ngựa, không chạy bậy, chừng đó ta mới dám gọi là ý của ta, ý phải tốt trọn lành, ta mới dám tin dùng xài nó được, và mạng ta là chủ ngồi trên mới chắc sống vững yên vui. Như thế tức là ta tập đổi sửa ý vọng ác tà định giả dối cho nên ý chơn chắc thiệt ngay chánh thiện lành, để trở nên con người tốt đẹp quí giá cao siêu, ích lợi cho chúng sanh nhờ hưởng dám tin dùng. Nhờ chánh niệm mới có được chánh định có niệm một chỗ như nước đứng ngừng mới tịnh sạch. Cho nên cũng gọi là có tịnh mới có định. Muốn có chánh niệm phải nhờ chánh tinh tấn. Muốn có chánh tinh tấn phải nhờ chánh mạng. Muốn có chánh mạng phải nhờ chánh nghiệp. Muốn có chánh nghiệp phải nhờ chánh ngữ. Muốn có chánh ngữ phải nhờ chánh tư duy. Muốn có chánh tư duy phải nhờ chánh kiến. Chánh kiến thì đi đến chánh định, tà kiến thì đi đến tà định. Chánh định là sống yên vui, tà định là chết trối khổ. Thế thì khởi đầu kiến thấy, hễ tà là tà mãi, còn chánh là chánh hoài. Cả thảy chánh là nên, cả thảy tà là hư. Ấy vậy kiến thấy là cặp mắt của ta lúc đầu phải cho tỏ rõ, tìm xét kỹ lưỡng rồi sẽ thật hành đến ngay mục đích, chớ ngàn đời vui, khổ, sống, chết, chẳng phải là sự may rủi, mà chúng ta lại bỏ lãng thờ ơ !


Nên nhớ rằng: Có tầm sát đúng lẽ thật mới có hỷ lạc tịnh định, định là do tịnh, tịnh là do lạc, lạc là do hỷ, hỷ là do tầm sát. Bằng mà tầm sát sái trật hay không có tầm sát là sẽ có nộ giận, có nộ giận mới sanh buồn khổ, có buồn khổ mới sanh cấu trược, có cấu trược mới loạn vòng bối rối, chết khổ điên cuồng vô ích tai hại.
Người có định thì thân khẩu ý mới trong sạch, tuy ít nói mà nói hay, tuy ít làm mà làm nên, tuy ít nhớ mà nhớ phải, là được kết quả yên vui biết bao nhiêu ? Và cũng nhờ định, mà mắt tai mũi lưỡi thân ý mới trọn lành hữu dụng, tốt đẹp trang nghiêm, mới ra con người có giá trị, xứng đáng để nêu gương. Căn nghiệp tròn sáng, tức là viên ngọc quý báu của chúng sanh tôn trọng, để dành, cất giữ, về sau mãi mãi, và là một nhân vật đáng sống đời đời. Mỗi lời nói, mỗi việc làm, mỗi ý niệm là những đám mưa hoa là những cơn gió mát, là những sự phân phát của cải, đủ cách xinh lịch tốt đẹp.
Muốn nhập định không phải một lần mà được định. Chúng ta phải dò lối, bước đi từ bước và tập lần lần. Định yên lặng là cái kho tàng vô tận, là phòng bí mật, là tủ sách chứa kinh; hay cũng như một cái trái, mà chúng sanh từ xưa đã nhọc sức trơn trọt, rờ rẫm leo trèo bên ngoài, chớ chẳng bao giờ vào được bên trong đắc định, để hưởng quả quý báu hay lạ ấy. Là bởi không tìm ra được chìa khóa, hoặc cái cửa kín, hay cái cuống tim là chỗ ra vào. Đành rằng: Ai cũng biết sự nhập định là vui sướng ích lợi sống đời, trong định trí mới huệ, có huệ trừ vọng mới chơn, chơn như là linh ứng; nghĩa là: Định nhiều thì huệ nhiều, phép linh nhiều, định ít thì huệ ít và phép linh ít. Chắc ai cũng muốn có trí huệ đạo lý, với quả linh thần thông, và cũng biết rằng: Cái sống là linh, cái biết là sáng, nhưng khó nỗi là sự thật hành, hoặc thiếu sự kinh nghiệm hoặc không bền chí, hoặc thiếu sức trợ lực của người khác, thì dễ gì đặng kết quả thành công. Cho nên lắm kẻ chán sợ sự hiểm nguy, đành giữ tập việc thiện lành ngay chánh bên ngoài, mà cho là vừa đủ với sức của mình, không ráng chịu khó để đến tận nơi tâm Phật. Thiện chánh là đi tới định, nếu đứng mãi một chỗ chánh thiện mà không định, thì đâu tránh khỏi khổ não luân hồi. Kẻ ác là bởi không định, người thiện mà không định thì khổ, kẻ trí mà không định thì điên. Hễ có sống, ắt có khổ, mà nếu chúng ta chịu khổ tu trong một đời, thì muôn kiếp được thảnh thơi. Như thế có chẳng là hay hơn sự kéo dài đau đớn ? Vả lại sự nhập định đâu có khổ nhọc gì sức lực; càng định là càng vui, miễn là ta chịu bỏ cái ham chơi dốt học nô đùa cẩu thả, thì sự nhập định đối với ta cũng không có lấy chi làm lạ. Con người nếu làm được cái khó, cái hơn người, cái tiến hóa, thì mới được gọi là bậc siêu nhân không còn lẩn quẩn trong cái cỏ, cây thú người, tứ đại, một chỗ. Cũng như kẻ biết lìa bà mẹ, mới gọi là kẻ có chí lượng hơn người, không phải chịu ở trong thai bào mãi mãi.
Vậy thì chúng ta phải cố gắng nhập định, và phải hiểu những pháp của nhập định như vầy: mà đừng trọn chung thủy với cỏ cây, thú, người, tứ đại, cùng là trọn tình nghĩa với ác tà vô minh loạn khổ:
1) Từ nhỏ đến lớn thân và miệng sanh tập thành ý mà thân miệng ác nên ý phải ác, vậy phải sửa thân và khẩu cho thiện thì ý mới thiện. Chúng nó ác là bởi vọng động, vậy bây giờ cần phải tịnh định, nên tập ngồi một chỗ, trói chân ngồi kiết già (hoặc bán già) nắm tay lại. Ngồi ngay, miệng ngậm, cắn răng, đầu cúi, mà chăm chú nơi một việc phải nào đó, mỗi ngày một hai lần theo sức, vừa vừa, chớ đừng thái quá hay bất cập. Chớ nên cố gắng quá hoặc lãng xao, phải nhớ giữ một đề mục mãi dầu trong lúc động tịnh đều không cho xao lãng, lâu ngày sẽ quen lần từ ít tới nhiều, từ mau tới lâu. Cho đến khi ta đã được chủ tâm, thân khẩu ý đã qui phục tùy theo mạng lệnh, chừng đó mới gọi là có ta và thấy lần ra kết quả.
2) Mắt tai mũi lưỡi thân sanh ra ý, vậy muốn phục ý, thì trước phải phục mắt tai mũi lưỡi thân. Xưa năm căn vọng động cấu trược, mở cửa thêu trần chôn giết ý, ý ngộp mới giẫy giụa, nay phải đóng các cửa, tuôn bỏ vật chất ra ngoài, thì ý nhẹ nhàng thong thả mới ngồi yên, ý vốn hay chuyền theo các cửa, vậy hãy đóng cửa là ý hết chỗ leo trèo, lâu ngày buồn ngủ mỏi mệt là sẽ nằm yên. Xem chừng ý thiệt đã giãi đãi không còn cử động, chừng đó ta sẽ bắt đem ra tập dạy khiến xài, thì nó mới không còn tánh ác, và trở nên con vật hay quí khó tìm. Chớ bỏ qua khi nó có sẵn, không biết nhốt dạy, thì sau này ta thiếu thốn, lại hối tiếc không nên.
3) Cái ý có ba là: tham, sân, và si, bằng trị ngay nó, là phải chăm nom gìn giữ, rình đón ngăn rào, xem chừng từng chút, nuôi nó như nuôi con, đừng cho tham sân si tam độc bên ngoài nhập vào và coi chừng, tham sân si tam độc bên trong lộ ra, thì phải mau trừ khử chùi lau! Ý nay mắc bịnh độc tham sân si, vậy phải mau lo chữa chuyên săn sóc nó, vì nó là ý độc hại lây. Phải cần cho ăn uống bằng giới định, huệ, trí trong ra, từ ngoài vào, phải là chỉ một thứ giới định huệ thôi, thì lâu ngày hết bệnh, mới trở nên ý quí. Ý là ma mà ý cũng là Phật kẻ ở nhà của ta sai khiến đó, ta cần phải nuôi nó tử tế, nó mới có giúp được việc cho mình nên. Như vậy là đừng cho nó ra gần năm cửa mắt tai mũi lưỡi thân (hay là thân khẩu), với kẻ ác tà, với đồ cấu trược, thấp thỏi xấu dơ mà phải để nó lên cao chỗ thanh tịnh, mặc cho áo tốt bằng sự vắng lặng, cho đồ ăn ngon là thiện lành, thì nó mới lớn nên người được.
4) Hoặc đổi ý ra làm trí giác, chỉ có còn biết trí giác, mà quên hẳn bỏ ý đi, thì lâu ngày nó sẽ mất đi hoặc hổ thẹn mà phục tùng theo trí giác, muốn như vậy thì đừng ở chỗ phiền não; và chớ đem bụi trần nuôi sóc nó. Mà muốn có trí giác, thì phải yên lặng, ở nơi yên lặng mãi, cho đến khi hết ý quấy rầy, bấy giờ mới nên đứng dậy ra đi, làm nói theo trí giác.
5) Hoặc xem như mình đã chết, hưu trí, nghỉ mệt, mà bỏ hẳn việc đang làm, hoặc phải làm cho rồi, thấy mình như chết nằm trong hòm dưới đất, không còn dính mắc nợ chi nữa. Hoặc như cứ xem là ngủ nghỉ đời đời, để đứng ngừng giữa lúc bánh xe lăn, mặc cho sự thế đổi xoay, đói no sống chết phải quấy, mất còn, đến đi, không có... gì, trối mặc, chỉ biết một cái chơn như yên tịnh mà thôi.
6) Hoặc cứ mãi nói một lời, hoặc cứ mãi làm một việc chăm chú chẫm rãi bền công, không màng biết đến việc ngoài chi khác. Hoặc phải lập đi lập lại mãi một câu, để cho thấy rõ nghĩa lý, phân biệt kỹ càng. Hoặc ra đi giáo hóa cho đầy trí huệ, để sức học nơi nghe thấy, lo tìm, thật hành, và dạy nói, có đủ trí như chai nước đầy, thì mới không còn lưng vọng, tự nhiên chơn như hiện đến.
7) Hoặc tập sửa tướng nói tướng làm, tướng nơi mắt tai mũi lưỡi, thân, cho có qui tắc điều độ, chậm chạp, chẫm rải, thong thả, thanh nhàn, ngay thẳng, chín chắn, trang nghiêm nết hạnh. Cái ý không cho ra ngoài các tướng bảo ấy, cũng như bắt đứa tớ chăn bò, chẳng cho ở không thì nó không còn phóng túng, chạy chơi ngông dạo để gây tai nạn.
8) Hoặc tìm xét nơi tâm lý của chúng sanh, xem xét nhơn duyên, tìm lẽ thật, hay sự nghe pháp nghe kinh, hoặc nghe trái tim nhảy, hoặc thấy hơi thở điều hòa, hoặc ghi nhớ thân mình nơi mọi chỗ, hoặc giữ gìn ngũ tạng, hoặc thận trọng ngăn ngừa bịnh, hoặc giữ oai nghi, hoặc ngồi đếm số, hoặc lượm món đồ, hoặc tập thở bằng rún, hoặc đếm bước đi, hoặc tưởng tượng trên không, hoặc nghe hơi gió, hoặc lặng lóng bên trong, nghe xét bên ngoài. Hoặc hằng giữ đúng một chữ trung trung, hay tập cái công, cái hòa, cái tự nhiên cũng được v.v... thảy đều là phép, nhập định từ ít tới nhiều, từ mau tới lâu, mà người thật hành thì phải bền chí, chịu buồn, giữ tâm nơi rừng rậm, không cho thối chuyển.
9) Hoặc chỉ tìm xét trong cái không, cái vắng lặng, tối tăm, cái huyền bí võ trụ. Hoặc yên lặng dè dặt mà xem nghe chừng , sự động tịnh của tâm mình, với các điều chi xảy đến. Hoặc tin tưởng một vị Phật thánh, hoặc gìn giữ một câu triết lý. Hoặc suy gẫm từ tiếng nói của thế gian, nhận xét sự biến hóa của vạn vật, tìm hiểu thời nhơn duyên, xét xem sự sống của thánh hiền, tập sửa tư cách làm thầy dạy học, học trò v.v... thảy đều là phép nhập định, giữ tâm yên lặng, tránh xa ác khổ.
10) Hoặc tìm xét nơi màu xanh, đỏ, trắng, vàng, đen, tím, đất, nước, lửa, gió, khoảng trống, cái không, cái có; nơi các tử thi, sự chết, thây ma. Hoặc suy gẫm nơi Phật, Pháp, Tăng, Giới, Định, Huệ, ơn đức của Phật và chư Thiên, nơi đức tin, nơi ánh sáng, nơi sự sống, hoặc quán xét nơi phép linh, nơi lòng từ bi hỷ xả vô lượng, nơi cái không có, không lường, không biên, không nhớ tưởng, không nhận biết, không cái ta, không thường, không ranh mé... nơi miếng ăn dơ bẩn, nơi xác thân nhơ nhớp. Hoặc chán ghê hổ thẹn, sợ cho cái khổ, cái luân hồi... Cả thảy các pháp lý sự gì trong thế gian, quấy phải gì, cũng có thể làm đề mục cho ta nhập định được cả. Khi ta hành đến là sẽ được học lần lần, cũng có pháp cao thấp tùy theo trình độ, nhưng ta có thật hành mới có hiểu và rồi tự mình lựa chọn, chế biến cho hạp vừa. Chớ đối với người đã nhập định vững rồi, thì phép nào, đề mục nào, cũng được, cũng y như nhau, vốn không cao thấp khác lạ. Hoặc lúc đầu ta tập giữ một đề mục, hay một câu thoại đầu, đặng chăm chú mà soi sáng, rồi về sau duyên cảnh thay đổi, là ta thay đổi, đề mục khác nữa. Hoặc bữa nay làm việc với một câu này, rồi ngày mai làm việc với câu kia. Hễ khi làm việc là xong, nghỉ xong là đứng dậy, chẳng luận lâu mau sau trước. Hoặc giữ một đề mục cho có ấn chứng, rồi sẽ qua đề mục khác cao hơn cũng được.
Cần nhứt là phải biết rằng: lúc khởi đầu thì phải TẦM SÁT là tìm xét nghĩa lý. Hiểu nghĩa lý rồi mới có HỶ, có hỷ rồi mới có LẠC, có lạc rồi mới có TỊNH, có tịnh rồi mới có ĐỊNH. Về sau hết nghĩa lý để tầm sát rồi, tức là giác ngộ hết pháp nơi mình, thì còn hỷ lạc tịnh định, lâu sau nữa chỉ còn lạc tịnh định, và sau rốt là còn định và xả, xả và định. Bấy giờ cái học sẽ từ nơi yên lặng mà ra, và từ nơi cảnh ngoài mà đến thêm, thêm mãi, tức là giải thoát đã đến bờ bên kia Niết Bàn hết luân hồi khổ não.
Vậy nên sơ định là: tầm sát, hỷ, lạc, tịnh, định.
Nhị định là: hỷ, lạc, tịnh, định.
Tam định là: lạc, tịnh, định.
Tứ định là: tịnh, định, và sẽ đến định xả, là đắc đạo, đắc chơn ngã, chủ tể, kết quả.
Sơ định là cảnh Trời dục giới, nhị định là cảnh Trời sắc giới, tam định là cảnh Trời vô sắc giới, hay xứ cực lạc của Phật A-di-Đà, tứ định là xứ Tịnh độ. Qua khỏi tứ định, xứ Tịnh độ mới gọi là đắc Niết bàn nín nghỉ thiệt thọ gọi là đại định, trong đại định là tự nhiên chớ không còn có pháp gì, như niệm chăm chú, hay tầm sát, hỷ, lạc, tịnh chi cả.
Trong cảnh tâm định, thường có những sự vui như da nổi ốc, trán mát lạnh, như thấy hào quang xẹt, như thấy biển nước trắng xóa phủ chụp xung quanh, như thấy mình nhẹ bay bổng trên không trung, và bay theo mây gió ... Điều mà phải tránh, là trong khi nhập định, chớ quá đua tranh ngồi nhiều ngồi ít, ngồi lâu ngồi mau, hễ qua khỏi tầm sát là đến hỷ lạc tịnh và định, hãy để tự nhiên cho nó định, chớ đừng có ý muốn vọng tưởng đến và khi nó vừa hoạt động thì phải xả đứng dậy đi ra, chớ đừng ngồi nán e thấy quấy, suy nghĩ nhớ bậy; ngồi được lâu mau là nhờ nhiều ngày tập lần từ chút, chớ đừng đua hay khoe giỏi. Và đừng vọng tưởng nhớ ông kia bà nọ chi cả. Đức tin là phải có, mà đừng tưởng tượng ngóng trông. Hãy tính coi là ngồi chơi, nghỉ ngủ, giải trí thế thôi. Chính không trông linh nghiệm, thì lâu ngày mới linh nghiệm. Mà cần phải biết rằng, đó là phép tránh phiền não, giải thoát, ta ngồi tập nhập định, là để cho quen từ chỗ vắng lặng ngủ nghỉ, mai sau đến khi đi đứng ngồi nằm đâu đâu, chỗ đông đảo xao động, ác trược, ta cũng có thể nhập định giữ mình, không cho ô nhiễm, và sống lấy riêng mình, không loạn rối, đặng giúp đỡ cho đời, ích lợi cho mình, cho người. Chính phép nhập định là để ngăn tà ác nơi ta trước vậy.
Hễ định được thì thần thông và trí huệ sẽ có một lượt, từ định mau tới lâu, là quả linh và đạo lý cũng sẽ có từ ít tới nhiều, tự nhiên nơi ta sẵn có, nếu không xao động che đậy, là nó yên trụ và xuất hiện ra, chớ chẳng cầu vái nơi ngoài, ai cho mà có được.
Sắc thân trong sạch như không không thì thọ cảm được yên vui. Hễ thọ cảm được yên vui là tư tưởng được huyền bí. Hễ tư tưởng được huyền bí là hành vi được thần thông. Hễ hành vi được thần thông là thức trí được huệ sáng. Hễ thức trí được huệ sáng là giác ngộ được chơn như. Cho nên gọi rằng: Trong “ sắc thân không ” có đủ giác, linh và thần, sự sống, ba báu quí vô cùng, mà ta phải biết giữ gìn chùi lau, để yên, cất kín, chớ cho dính dơ bụi bặm.
Nhờ nhập định cái tâm mới già cứng, cái ý để cất lâu ngày, sức lực mới mạnh, phát thần thông. Trong cái định là kín đáo ẩn mật, cũng như cái trái có làm vỏ kín đậy, nó mới trọn tốt ngon thơm. Định gom các tư tưởng làm một khối không cho tán loạn, làm một sức cứng chắc.
Trong đó ba cái mật: thân mật, khẩu mật và ý mật, gom lại một thể mạnh vô cùng. Và bởi cùng trong cái mật như kẻ chết, nên thường đi lại với các bậc thần tiên Phật thánh không thân, tuy xác thân còn mà sự sống ở bên kia cảnh giới, qua lại lui tới hai đường thong dong tự tại. Sức mạnh của cái mật kêu là thần, cái thần mạnh hơn hết, gồm cả thân khẩu ý làm một lại, mà bảo no là no, bảo sống là sống, bảo chết là chết, bảo đứng là đứng, bảo đi là đi, bảo lên là lên, bảo xuống là xuống... biến hóa vô cùng. Ta là mật, mật là ta, chư Phật thánh là ta, ta là chư Phật thánh, là cái mật, là như nhau, là có một, nơi ấy chỉ còn một cái đức tính linh thiêng, phép thần, trí huệ với chơn như mà thôi.
Về phép tập nhập định, chúng ta có thể hiểu tóm tắt sơ lược bước đầu ấy. Muốn hiểu kỹ để thực hành, thì mỗi đoạn ắt phải giảng giải ra thành nhiều quyển sách, quí giá vô cùng, và thật hành là phải có bậc cao niên chỉ dẫn mới được.
Muốn định phải có giới ủng hộ, mà chỉ có giới xuất gia khất sĩ mới có thể vào tới đại định nổi. Giới người cư sĩ thì chỉ tập được chút ít thôi. Vậy nên muốn nhập định phải là xuất gia khất sĩ, chỉ có xuất gia khất sĩ mới tu nhập định, không làm khất sĩ khó định được.
Kẻ Khất sĩ mà không có định là ra người khất cái. Chỉ có định mới sanh huệ, định huệ song tu, do nơi giới luật khất sĩ, thì chơn như toàn giác mới sống đời, đúng theo chơn lý lẽ thật, tức là chánh đạo, đạo của vũ trụ, của ta và của tất cả, hay là đạo của tâm mình.
Trong đời có lẽ ai cũng là khất sĩ cả ! Vì có ai mà không có sự xin từ nhỏ tới lớn ? Ai mà không có sự học mỗi ngày ? Ai mà không có sự định từ phút ? Ai mà không có sẵn phép linh thần thông ? Vậy ai sống đúng phép là nên, người hành sái trật là hư, nên hư tự mình, ai nấy hãy tìm xét trong cái tự nhiên là thấy hiểu.
Chính trong tấm kiếng tự nhiên của tâm định như mặt nước, thì việc chi động đến cũng thấy biết rõ ràng ứng hiện và lại tự nó biến hóa linh thiêng. Cái ta khỏi phải cần học hay tập hành điều chi nữa cả.
NÓI TÓM LẠI: chúng ta cần phải mượn cái thiện để học tập đến xuất gia khất sĩ, giới định huệ, mà tu Phật. Như vậy là người xuất gia khất sĩ phải có đủ thiện căn trí thức. Chớ nên vì nghe nói ích lợi mà ham muốn khi mình còn tội lỗi. Nếu kẻ còn quấy ác thiếu học không minh, mà luyện tập tư tưởng ắt cũng được vì linh thiêng, nhưng kẻ ác linh thiêng là không có trí huệ, vì tự cao mà sanh quỉ quyệt là tà ác sái đạo. Vậy nên ai muốn tu chánh định đến Niết bàn, thì trước phải tu tập phước thiện nuôi trí, học hành chơn lý, mở trí thông minh, tập lần giữ giới. Sau lần chắc vững, sẽ đi ngay vào trong nhà Phật. Cần nên hiểu biết sự tu là mãi mãi đời đời là nơi cuối chót của khoảng đường dài, mà ta kết thúc, chớ không phải ra vào lui tới không thường, hay là sự đắc quả trong một hai ngày giây lát, hoặc khi làm Phật, lúc lại làm ma.
Vả lại sự tu hành cũng như ăn cơm để sống, điều ấy vốn không mau chậm, hay đường quanh nẻo tắt gì cả. Vậy nên chúng ta hãy chậm rãi mà đi, nếu là kẻ thiện lành, thì tâm trí đâu có tiêu diệt trong ngày hôm nay, mà hòng lo sợ ! Còn như sự nhập định là lúc đầu phải chấp để thực hành, tu tập đi tới, khi đã tới nơi yên lặng rồi, thì cảnh ấy là tự nhiên vắng lặng chơn như, chớ không còn có chấp hay không chấp, cùng chấp có, chấp không chi cả, theo như lời tranh luận.
Muốn nhập định cũng phải cần cảnh tịnh, tâm cảnh phải y nhau, thời duyên phải hạp lúc, sanh chúng chớ cho gần, hoặc gần thì phải thuận hạp, hoặc hộ trì tán trợ, mà người lành thì phải kiên tâm trì chí, tuy không sợ chết nhưng cũng chớ liều mình, vì quả đạo cũng không ở nơi người chết. Cảnh định là cảnh tự nhiên, tự nhiên là yên lặng. Vậy nên tâm và cảnh phải yên lặng thì mới có cái sống tự nhiên được.
Trước khi nhập định, thì sự việc nào...phải cho rồi xong, hoặc nếu có thể bỏ ngang được, mà bên trong...ở ngoài phải không còn dính mắc thì mới yên lặng.
Phép tu phải có động tịnh tập lần từ chút cho quen, chớ khá ham mê thái quá, mà ra tù túng bẩn chật. Mỗi khi ngồi phải thay đổi chỗ, không ngồi hai lần một chỗ ngồi, phải tìm nơi thanh vắng hoặc nơi trống trãi thấy được chơn trời. Bằng nơi chỗ xao động phải ngồi day mặt vào vách, vào gốc cây. Tốt hơn là ban ngày ngồi dưới gốc cây, ban đêm ngồi nơi chỗ trống. Sáng thì phơi chút nắng, khuya nên hứng chút sương. Phải thường xuyên thay đổi để không cho nhàm chán, nhưng không lìa xa mục đích, chính nhờ sự tinh tấn đó mà kết quả vậy. Con đường "chánh định" là nơi cuối chót của chúng sanh. Chúng ta ai ai khá nên "nhập định" hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang


Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét