Thứ Ba, tháng 9 17, 2013

Nghi Thức Tụng Kinh A DI ĐÀ (Ngày 17/11 âl.); Rite chant Amitabha Sutra (On 17/11 lunar.)

Nghi Thức Tụng Kinh
A DI ĐÀ
( 式 頌     )
Rite chant Amitabha Sutra
Chánh niệm: "Mô Phật ! Xin lửa cúng dường chư Phật, Pháp, Tăng mười phương ba đời !" 
Mindfulness:  "Buddha bless you! Please fire offerings to the Buddha, Dharma and Sangha ten three generations!" 
Tham khảo: (chữ Vía xuất phát từ chữ Hán  Giái, âm chữ Nôm là hư, sau nầy đọc chệch âm là Vái, Giái có nghĩa sụt sùi, là nức nở thổn thức, nức nở khóc thầm, đi kèm với chữ hi !  Cúng, Tế )
1.-Trang download Phần Mềm Hán Nôm Tự Điển  漢 喃   : ( Hanosoft 3.0 (năm 2010. Giải File nén và Copy thư mục phần mềm dán vào Programe Files ở ổ đĩa khởi động. Gõ vào ô Hán Việt, theo bảng mã Unicode đựng sẵn, Unicode tổ hợp thì phải gõ các dấu hai lần mới ra chữ để tra mục từ ! ) 
2.-Trang Phần Mềm Gõ Hán Nôm : Hanosoft Tool 2004
4. Trang gõ Hán Nôm : WinVNKey  
NGHI THỨC TỤNG NIỆM
( 頌 )
Ý Nghĩa Và Cách Tụng Niệm:
Tụng là đọc tụng.
Niệm là suy nghĩ nhớ tưởng. 
Tụng niệm là miệng đọc tụng, tâm nhớ nghĩ, tâm và miệng hợp nhất, chú ý vào lời kinh điển Phật Pháp và ý nghĩa pháp âm vi diệu.
Tụng Niệm Có Nhiều Ý Nghĩa:
1.-Tụng niệm để giữ tâm hồn được trong sạch, giao cảm với các tâm niệm tối cao. Tụng niệm lại là cách huân tập tâm thức rất tốt, rất dễ dàng.
2.-Tụng niệm để ôn lại những lời Phật dạy, hầu lấy đó làm phương châm cho đời sống hằng ngày và gieo giống Bồ đề giải thoát vào tâm thức.
3.-Tụng niệm để kềm chế thân khẩu trong khuôn khổ thanh tịnh, trang nghiêm thích đáng, không cho nói năng, hành động buông lung theo tập quán đê hèn tham dục.
4.-Tụng niệm để Cầu an, để ngăn dòng tội lỗi, dứt các nghiệp chướng lâu đời, hầu tránh khỏi tai họa do tội lỗi nghiệp chướng gây nên.
5.-Tụng niệm để Cầu siêu để chuyển tâm niệm của người khác, khiến họ xa lìa nghiệp cấu ác, rời khỏi cảnh giới tối tăm siêu sinh về Lạc Quốc.
6.-Tụng niệm để làm cho tiếng Pháp âm lưu chuyển trong nhân gian, cảm hóa mọi người cải tà qui chánh.
7.-Tụng niệm để kích thích, nhắc nhỡ mình và người trên đường làm lành, học đạo.
8.-Tụng niệm để hướng lòng bi nguyện đến tất cả chúng sanh, cầu cho chúng sanh thuần hòa vui vẻ.
9.-Tụng niệm để tỏ lòng Sám hối tội lỗi, trước ngôi Tam Bảo, là nơi hoàn toàn thanh tịnh, không chút tội lỗi nhiễm ô.
     Vì ý nghĩa đó, người đã tin Phật nên phải phát tâm tụng niệm và Tụng niệm đúng cách. Khi tụng niệm phải giữ gìn trang nghiêm, tránh mọi sự ồn ào, phức tạp, tránh mọi điều làm kích động tâm ý đắm lợi mê danh, tham luyến trần tục. Chỉ tụng niệm trước bàn Tam Bảo, trong Đạo tràng, thanh tịnh, hoặc nơi thanh tịnh, hoặc nơi thích hợp chính đáng. Không tụng niệm trước chỗ thờ Quỷ Thần, cùng đồ mặn, đốt vàng mả theo tục lệ mê tín dị đoan, không thích hợp với Phật Pháp.
LỜI KHUYÊN TRƯỚC KHI TỤNG NIỆM 
_ Các Phật tử cần nên dọn mình cho trong sạch.
_ Thắp 3 nén hương, lễ Phật 3 lạy.
_ An tọa xong chắp tay hướng về Đức Phật bắt đầu trì tụng.
_Muốn tụng thành phần nào, trang số mấy, hãy coi theo mục lục ở trang đầu hoặc trang cuối thì sẽ rõ.
_ Khi trì tụng chỉ đọc thường. Chậm rãi, điều hòa nghe cho dễ hiểu đặng hành theo. Chớ nên dùng sắc tướng, âm thinh trầm bổng, du dương làm sai ý nghĩa kinh pháp.
_ Khi đọc dứt một đoạn có chữ o thì đánh 1 tiếng chuông và lễ 1 lạy. Các nghi thức tùy theo trường hợp có thể linh động đọc nhiều hay ít cũng được (tùy theo thời giờ).
_ Mỗi đêm cần nên thọ trì tại tịnh xá hoặc tư gia, nhất là mỗi tháng 4 ngày cúng hội: mùng 8, rằm, 23 và 30 (tháng thiếu 29). Phật tử cần nên quy tựu về Tịnh xá sám hối và nghe kinh học pháp để tu tâm dưỡng tánh, hầu phát triễn tinh thần đạo hạnh.
_ Kinh nghĩa nầy rất dễ đọc, mau hiểu, dành cho các giới đồng bào Phật tử, ai siêng năng trì tụng sẽ được mở mang trí tuệ, lợi lạc thân tâm, tu hành tinh tiến.
XỬ DỤNG CHUÔNG MÕ
(Nguyên văn của Tôn Sư Minh Đăng Quang, truyền trao cho Sư Thầy Thích Giác Tịnh, và đã hiệu chỉnh cho phù hợp với hiện tại !)
A.-Trước Khi Làm Lễ:
1.- Hai em đánh chuông mõ vào trước sửa soạn bàn Phật, thắp đèn đốt hương xông trầm.
2.- Thắp sẵn ba cây hương để người chủ lễ niệm hương.
3.- Khi xem mọi sự đều xong cả thì đánh ba tiếng chuông để báo hiệu cho các em đi vào. Vào Niệm Phật Đường đều chắp tay cả.
4.- Khi các em vào đứng yên ổn thì đánh một tiếng chuông để cho người chủ lễ vào. Tất cả niệm hương xong, đánh ba tiếng chuông cho chủ lễ lạy.
Khi chủ lễ cúng hương tán thán Phật xong thì đánh ba tiếng chuông để tất cả đều quỳ xuống.
Cách Thức Đánh Chuông Mõ:
Lạy xong thì chuông nhập một tiếng. Mõ đánh ba tiếng từ từ, rồi tiếp đến là hai tiếng nhanh về trường canh, tiếp hai tiếng vừa (Tiếng cuối cùng lớn một chút). Rồi chuông đánh một tiếng mõ đánh một tiếng (Ba lần như vậy một cách từ từ) tiếp đánh bốn tiếng (một tiếng chậm, hai tiếng giữa nhanh, tiếng cuối cùng chậm). Khi tiếng mõ cuối đánh thì chuông đồng nhập một lần. Bắt đầu tụng.
B.- Trước Khi Lễ Bái:
1.- Khi tụng thì người chủ lễ hay em đánh chuông bắt đầu.
2.- Mõ đánh phải theo người xướng, theo tiếng thứ hai, tiếng thứ tư đúng với hơi kéo dài hay ngắn của người xướng rồi mới đánh đều đều. Gặp bài chú thì đánh mau hơn.
3.- Lỡ gặp khi tụng không đều thời phải dằn tiếng mõ cho rõ ràng và lúc ấy người đánh chuông cần phải trở cán chuông đánh hai tiếng tiếng để báo hiệu cho biết.
4.- Gặp người đánh mõ vụng không đều thời người đánh chuông phải trở cán nhịp sửa theo cho đúng.
5.- Khi dứt một bài nào thì trước năm sáu tiếng cuối, chuông đánh hai tiếng thúc để báo hiệu, đến tiếng tụng thứ ba, trước khi hết bài, thì mõ đánh một tiếng lớn dằn lại.
6.- Lúc tụng tiếng gần cuối cùng, thì mõ đánh thúc hai tiếng và chờ khi người tụng kéo dài hơi tụng đến tiếng cuối cùng thì mõ liền đánh theo đồng thời thì chuông cũng nhập một lần cho thật nhịp nhàng.
7.- Khi tụng danh hiệu và muốn tụng qua danh hiệu khác thì chờ độ bốn hay năm tiếng lần cuối cùng, đánh một tiếng chuông không quá sớm hay quá chậm vì sợ người tụng bị bỡ ngỡ phân vân.
8.- Khi tụng đến bài Tự Quy Y thì đến chữ thứ ba của mỗi câu đánh một tiếng chuông để tất cả đều lạy và tụng đến chữ thứ tám thì nhập chuông để những người lạy biết mà đứng dậy cho đều.
C.-Sau Khi Lễ Bái:
1.- Tụng xong đánh ba tiếng chuông từ từ để im lặng tịnh niệm độ một phút rồi bắt đầu hát bài Trm Hương Đt.(Video.Sáng tác: Bửu Bác) 
2.- Khi hát đến danh hiệu Đức Phật Thích Ca thì đánh một tiếng chuông và năm chữ trước khi hết bài thì đánh hai tiếng chuông từ từ, đến chữ cuối bài thì đánh một tiếng chót để toàn thể đều vái.
3.- Vái xong tất cả quỳ xuống đọc điều luật: Điều luật giáo đoàn nào Trưởng Giáo Đoàn của đoàn ấy xướng trước. Mỗi câu điều luật đều một tiếng chuông. Đọc xong quý chư Phật tử đi ra theo hàng lối của mình cho có thứ tự, các chúng, Huynh trưởng, phó tùy chỗ đứng của mình mà hướng qua bên mặt, hoặc bên trái đi vòng theo sát tường, cho đến khi ra khỏi Niệm Phật Đường mới thôi không chắp tay ! Chú ý khi vào Niệm Phật Đường đi thuận theo chiều kim đồng hồ, từ trái qua phải.
4.- Hai em đánh chuông, mõ chờ quý chư Phật tử ra hết, mới đến lạy Phật và tắt đèn dầu, lau lại bàn Phật cho tử tế rồi mới ra sau.
Vài Điểm Chú Ý: 
Chuông để bên trái, mõ để bên phải.
(Đứng trong bàn Phật ngó ra làm chuẩn cho bên trái và phải)
1.- Hai em đánh chuông mõ trong lúc tụng không xoay mặt vào bàn Phật, mà đứng theo chiều chuông mõ, ngó thẳng nhau. Không ngó nhìn qua lại, hoặc ngó nhìn xuống người hành lễ, trừ khi cần phải ra dấu hiệu gì khác. Luôn đứng thẳng, không cúi đầu vái mỗi khi niệm kinh dứt hoặc niệm danh hiệu.
2.- Trong buổi lễ, nếu có cần việc gì thì trở dùi đánh hai tiếng để làm dấu, người Phụ Trách buổi lễ phải chú ý, đến bên em đánh chuông hỏi xem có việc gì.
3.- Cắm hương phải cho ngay ngắn, trước khi cắm, nhớ bẻ gốc cây hương, so sánh cho đều cả ba cây. Một cây cắm ngay chính giữa lư hương, tiếp đến hai tay đưa cắm hai cây hai bên cho đều.
4.- Thắp đèn dầu đừng cho có khói.
5.- Chỉ khi nào bàn Phật sắp đặt tử tế xong mới đánh chuông báo hiệu vào buổi lễ. 
Ghi chú: Cách copy văn bản và lưu vào Word ! Chư vị hành giả tu tập, muốn in kinh Ấn Tống, làm ơn, hãy rê con chuột, bôi xanh văn bản. Kích chuột phải và chọn "Sao chép". Xong đem dán (past) vào trình của Microsoft Office Word. Nơi trình nầy, chư vị kích chuột vào ô Style, và kích chọn Clear Formatting (hoặc Normal), tất yếu là trước hết phải chọn lệnh: Ctrl +A, kích chọn bôi đen toàn văn bản, như hình minh họa trên !
Biểu tượng Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam
Icon Vietnam Buddhist mendicants
@@@


Phần I.-CÔNG PHU TỐI:
NIỆM HƯƠNG
(Thắp đèn đốt hương trầm xong đứng ngay ngắn chắp tay để ngang ngực đọc lời Niệm Hương, hoặc đọc lớn hoặc mật niệm lời cầu xin chánh đáng !)
Thân hành chánh niệm nghiêm trì,
Khẩu âm vang vọng, khắc ghi nguyện cầu.
Ý nghiêm mật định nhiệm mầu,
Tri hành Lễ Phật, đồng cầu Pháp, Tăng.
Chứng lòng con niệm kinh văn,
Tri ân phúng tụng, thiện căn khấn hành.
Kính dâng một tấm lòng lành,
Dâng hương khấn niệm, chí thành niệm hương.
Nam Mô Hương Vân Cúng Dường Bồ Tát. (đọc 3 lần)
NGUYỆN HƯƠNG
(Đốt hương trầm xong đứng ngay ngắn chắp tay để trên trán Nguyện Hương)
Nguyện đem lòng thành kính,
Gởi theo áng mây hương.
Phảng phất khắp mười phương,
Cúng dường ngôi Tam bảo.
Thề trọn đời giữ đạo,
Theo tự tánh làm lành.
Cùng pháp giới chúng sanh :
"Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ-đề kiên cố
Chí tu học vững bền
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác !"
***
Đệ tử chúng con,
Một lòng thành kính.
Phần hương thanh tịnh,
Phúng tụng Như Lai
Phủ phục trước đài
Kính dâng Từ phụ
Tây phương Giáo chủ
Minh chứng lòng son
Tất cả chúng con
Đồng tâm phát  nguyện:
Ba ngày chánh niệm
A DI ĐÀ PHẬT !
Tưởng niệm thành thật
Bậc Thầy cao cả
Chí thành nhất dạ
Tín ngưỡng cầu sanh
Tán thán vinh danh
Nhân ngày Khánh đản
Công phu viên mãn
Nhân ngày tảo mộ
Địa Tạng cứu độ
Nhân ngày thượng tượng
Mong được bình an
Chánh niệm biết giờ
Thánh chúng đón chờ
Rước về Cực Lạc
Hiện tiền an lạc
Tội diệt phước sinh
Mong Phật chứng minh:
Từ bi gia hộ :
"........................!"
Chân thành khấn nguyện khắp mười phương,
Kết lại thành mây nguyện cúng dường.
Trên tam hương nầy, xin Phật ngự,
Chứng minh đệ tử, khấn nguyện hương !
NAM MÔ HƯƠNG VĂN: CÚNG DƯỜNG BỒ TÁT ma ha tát (3 lần)
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (6 lần)
(Ghi chú: Xem như đây là bài dâng sớ, bằng chữ Việt !)
Chú thích: Bài Nguyện Hương nầy, xuất phát từ quyển Kinh của Thích Nữ Như Lan, và vài bài nữa..., đã được hiệu chỉnh cho phù hợp. Mô Phật !
1.-Trong khi có Lễ An Táng, người nhà DÂNG SỚ và phát nguyện, tâm niệm : "NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT" liền trong ba ngày, tức là đồng trợ niệm cầu siêu cho người: Từ bi gia hộ:...[ghi tên người thân vừa chết]...! Vãng Sanh ! Nếu điền tên hay niệm thầm tên người còn sống cũng chính là CẦU AN VÀ CẦU SIÊU VIỆT theo căn nghĩa là tiến hóa vượt bỏ tham, sân, si, tam độc, nguyện xem mình như đã chết mà xuất gia, chuyển hóa thành tu sĩ. Hay nhân ngày lành tháng tốt "Thượng Tượng hay ảnh Phật A Di Đà" như trên, lên bàn thờ tại gia, để tụng niệm cho gia sự của chính mình. Mô Phật !
2.-Làm Lễ Khánh Thành các Tịnh Thất,  Tịnh Xá, THIỀN VIỆN .v.v...
3.-In ra, bỏ vào bì Dâng Sớ, hiện nay có bán nhiều nơi, hoặc xếp nhỏ bỏ vào bì đựng hương.
4.-Đặc biệt, là chư vị đi viếng mộ phần cho người thân hay nhân ngày tảo mộ phần, thì nên khấn vái hay đốt Bài NGUYỆN HƯƠNG nầy, như là dâng sớ cầu nguyện siêu thoát cho vong linh người thân. Mô Phật !
DÂNG HƯƠNG
(Chủ Lễ thắp ba cây hương quỳ ngay ngắn cầm hương ngang trán niệm bài Dâng Hương)
Giới hương, định hương dữ huệ hương
Giải thoát, giải thoát tri kiến hương
Quang minh vân đài biến pháp giới
Cúng dường Tam Bảo khắp mười phương
Nam mô Hương văn cúng dường Bồ Tát (3 lần)
KỈNH NGUYỆN
(Việt Nam)... Quốc, (Bình Định)... tỉnh, (Qui Nhơn)... thành phố, (Đệ ngũ)... khu vực, Tổ... (26), (Đống Đa)... phường.
Hôm nay ngày ......tháng......năm......dương lịch
(Nhằm ngày.......tháng......năm......âm lịch)
Chúng đệ tử đồng tề tựu qui hướng Tam Bảo ! Kính dâng nén tâm hương Thiết cúng phúng tụng kinh; Cập niệm Phật công đức. Nguyện thập phương thường trụ Tam Bảo.
Kính lạy Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật.
Tiếp dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.
Thập phương chư Phật, Vô thượng Phật Pháp cùng Thánh Hiền Tăng.
Chúng đệ tử lâu đời lâu kiếp; Nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc, ngày nay nhờ Phật.
Biết sự lỗi lầm, Thành tâm sám hối.
Thề tránh điều dữ, Nguyện làm việc lành, Ngửa trông ơn Phật, Từ Bi gia hộ, Thân không  bịnh tật, Tâm không phiền não. Hằng ngày an vui, Tu tập phép Phật nhiệm mầu, Để ra khỏi luân hồi. Minh tâm kiến tánh, Trí huệ sáng suốt, Thần thông tự tại, Đặng cứu độ các bậc Tôn trưởng, Cha mẹ, Anh em, Thân bằng quyến thuộc, cùng tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo.
Phiền não đoạn diệt
Nghiệp chướng tiêu trừ
Thường hoạch kiết tường
Vĩnh ly khổ ách
PHỔ NGUYỆN
Âm siêu dương thới
Hải yến hà thanh
Pháp giới chúng sanh
Tề thành Phật đạo
(Đứng dậy cắm hương vào lư hương, rồi chắp tay đứng thẳng và niệm lớn)
TÁN THÁN PHẬT
Đấng Pháp Vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy lạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Quy y tròn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận
QUÁN TƯỞNG
Phật chúng sanh tánh thường rỗng lặng
Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới đế châu ví đạo tràng
Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi đầu thệ nguyện quy mạng lễ :
ĐẢNH LỄ
_Chí tâm đảnh lễ: Nam mô quá khứ Phật, Tây Phương Tịnh Độ, Giáo chủ Lạc bang, Tiếp dẫn Tứ chúng Đại Từ Bi Phụ A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ tát. (1 lạy)
_Chí tâm đảnh lễ: Nam mô hiện tại Phật, Ta bà Giáo chủ điều ngự Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ tát. (1 lạy)
_Chí tâm đảnh lễ: Nam mô vị lai Phật, Long Hoa Giáo chủ, Từ Thị Di Lặc Tôn Phật, Đương Lai hạ sanh Di Lạc Tôn Phật, Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Chư Bồ tát, Chư hiền Thánh tăng. (1 lạy)
(Đứng ngay hay ngồi nghiêm chỉnh,đứng vì trong buổi lễ còn có hai em đứng hai bên gõ chuông mõ, vô chuông mõ và đồng tụng hoặc không mõ cũng được)
HÀNH LỄ QUY Y
(Chủ Lễ phụ trách, cho người mới quy y, chưa có Pháp Danh.)
Con xin đem hết lòng thành kính: đảnh lễ Đức Thế Tôn.
Ngài là bậc Ứng Cúng cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri, do Ngài tự ngộ, không Thầy chỉ dạy. Xá lạy 1 lạy  ! (3 lần, lạy 3 lạy)
Con xin vâng giữ lời dạy: "tâm chơn chẳng vọng, tánh giác không mê" quyết quay về nẻo chánh và đảnh lễ Đức Thế Tôn !
(Thầy Trụ Trì, Chủ Lễ: đọc to rõ ràng, mỗi câu sau đây, và mỗi câu lạy 1 lạy !)
Mô Phật :
NGŨ ĐIỀU KHÔNG
Một không hại mạng sát sanh,
Hai không trộm cắp, làm lành ăn chay !
Ba không gian dâm tà vạy,
Bốn không nói dối, đổi thay nghĩa tình.
Năm không uống rượu điêu linh,
Năm điều giữ giới: gia đình yên vui !
Mô Phật !
BỒ ĐỀ CHƠN TÂM 
Một phân biệt dữ, lành,
Hai là, Tinh tấn lướt lên ! Hạnh nguyện.
Ba an lạc đạo cần chuyên,
Trong vòng đạo đức, phổ truyền lời răn:
"Thành tâm sám hối ăn năn, 
Bốn thắng phục tâm ý, đặng làm lành !"
Năm nhớ đạo lý nhân sanh,
Sáu là, Nhứt tâm đại định, hành thiền.
Thích Ca Chánh Pháp Nối Truyền,
 Chánh giác phổ nguyện, thiện duyên chiếu rọi.
Phiền não đoạn diệt rõ soi,  
Bảy là, Vui chịu với mọi cảnh ngộ !
Hồi hướng Phật đạo cứu độ,
Chúng sanh giữa đời, bể khổ nguồn mê.
Sớm nương thuyền giác quay về,
Lục độ giải thoát, Bồ đề chơn tâm !
Mô Phật !
THẤT BỒ ĐỀ PHẦN
Một là, Phân biệt sự lành với sự dữ.
Hai là, Tinh tấn mà lướt lên.
Ba là, An lạc trong vòng đạo đức.
Bốn là, Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành.
Năm là, Nhớ tưởng đạo lý.
Sáu là, Nhứt tâm đại định.
Bảy là, Vui chịu với mọi cảnh ngộ. 
Mô Phật !
THE SEVEN PARTS OF BODHI 
1. One is, to distinguish the good with the evil.
2. Second, that glide up diligently.
3. Third, within ethical peace.
4. Fourth, won for his mind to heal.
5. Fifth, remember how morality.
6. Sixth, the most attention "samadhi". 
7. Seventh, have fun with all the circumstances. 
(Buddha bless you!)
(From :=> Bát Chánh Đạo)
(Thầy Trụ Trì Hành Bồ Tát Đạo, Dạy Đạo: viết mẫu câu 5 và 6 Chánh niệm, bằng bút màu đỏ, đánh số thứ tự ba biến 01-03 và ngoài lề biên ghi ngày tháng. Căn dặn, đây là: Trường Đạo Lý. Pháp: Viết-Học-Ôn; Môn học: Siêu Hình Học. Ngày về Cúng Lễ Chúng Hội, đem theo Bạch Trình và lưu giữ để Làm Bằng Chứng, kẻo sau nầy, tâm bị hành phạt, khảo đảo. Mô Phật ! Tham khảo: Trang tổng hợp về : Siêu hình học; The Metaphysics) [Chú Thích Thêm:Triết học vật lý: động từ số ít: Triết học; Các chi nhánh của triết lý đó xem xét bản chất của thực tại, bao gồm cả mối quan hệ giữa tâm và vật, chất và thuộc tính, thực tế và giá trị. Động từ số nhiều: Các nguyên tắc lý thuyết hoặc đầu tiên của một kỷ luật cụ thể: siêu hình học của pháp luật ; Quá mức tinh tế và khó hiểu lý do.] Môn khoa học vật lý: Vật lý, tiêu đề của luận thuyết của Aristotle về "nguyên tắc đầu tiên", từ mà nhà Toán học Aristole, đưa ra các Định đề, gọi tựa đề quyển sách Triết của mình là "Triết Học Đầu Tiên". (Vậy, tóm lại, có những câu hỏi được nêu lên, chưa chắc đã, đang và sẽ tìm ra đáp án ! Nên chú ý rằng các nhà "cực đoan" tư tưởng, một khi đã trở thành là định kiến và thành kiến chỉ trích, phê bình và phê phán mà không cần sự trích dẫn để chứng minh, chỉ xu hướng duy nhất, thì khó lòng lãnh hội-comprehension mà giác ngộ về Phật Pháp giáo hóa chúng sanh. Mô Phật !)...Và bao gồm: triết lý của tôn giáo , triết lý của tâm trí , triết lý của nhận thức , triết lý của ngôn ngữ , và triết lý của khoa học. => Pluralism (philosophy) ĐA NGUYÊN (Triết lý)...Trong nhận thức luận, đa nguyên là vị trí mà không có một phương tiện phù hợp để tiếp cận sự thật về thế giới, mà là nhiều. Thường thì điều này có liên quan đến chủ nghĩa thực dụng , hoặc khái niệm, ngữ cảnh-contextual , hoặc văn hóa tương đối.] => REDS.VN - Siêu Hình Học 
Tham khảo: The Free Dictionary 
(Ghi chú quan trọng: 14 DANH HIỆU PHẬT: 1.NHƯ LAI, 2.ỨNG CÚNG, 3.CHÁNH BIẾN TRI, 4.MINH HẠNH TÚC, 5.THIỆN THỆ, 6.THẾ GIAN GIẢI, 7.VÔ THƯỢNG SĨ, 8.ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU, 9.THIÊN NHƠN SƯ, 10.PHẬT, 11.THẾ TÔN, 12.PHÁP VƯƠNG, 13.SĨ TRUNG THẮNG, 14.THIÊN THƯỢNG TÔN. Trong TỨ DIỆU ĐẾ : khổ, tập, diệt, đạo. Con đường Giải thoát của Trung đạo, Đức Phật thuyết Kinh Chuyển Pháp Luân chỉ rõ vướng mắt về "diệt đế" là gì ? Hay nói rõ "diệt là diệt khổ" ! Tham Khảo: Kinh Chuyển Pháp Luân [Tìm nhanh])
TÁN LƯ HƯƠNG
Kim lư vừa bén chiên đàn,
Khắp xông pháp giới, đạo tràng mười phương.
Hiện thành mây báu kiết tường,
Chư Phật rõ biết, ngọn hương chí thiền.
Pháp thân toàn thể hiện tiền,
Chứng minh hương nguyện, phước duyên đạo đời.
Hôm nay thính nguyện khấn lời:
Noi gương Bồ tát, đời đời vị tha.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật (3 lần)
Phần II.- CÔNG PHU KHUYA:




CHÚ ĐẠI BI
Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần) 
Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni. 
Nam-mô hắc ra đát na, đá ra dạ da. 
Nam-mô a rị da, bà lô Yết-đế, thước bát ra da, 
bồ đề tát đỏa bà da. Ma-ha-tát đỏa bà da, 
ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, 
số đát na đát tỏa. Nam-mô tất kiết lật đỏa,
y mông a rị da bà lô Yết-đế, thất Phật ra lăng đà bà.
Nam-mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế,
tát bà a tha đậu du bằng,
a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà đà,
ma phạt đặc đậu, đát điệt tha.
Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, 
ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra,
ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô kiết mông,
độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế,
đà la đà la, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra.
Ma mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê,
thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm,
Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra,
hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị,
tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ,
bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì,
địa rị sắt ni na, ba dạ ma na ta-bà ha,
tất đà dạ ta-bà ha. Ma ha tất đà dạ ta-bà ha. 
Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta-bà ha. 
Na ra cẩn trì ta-bà ha. Ma ra na ra ta-bà ha. 
Tất ra tăng a mục khư da, ta-bà ha. 
Ta-bà ma ha, a tất đà dạ ta-bà ha. 
Giả kiết ra a tất đà dạ ta-bà ha.
Ba đà ma kiết tất đà dạ ta-bà ha.
Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta-bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ,
ta-bà ha. Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da.
Nam-mô a rị da bà lô Yết-đế thước bàn ra dạ, ta-bà ha. 
Án tất điện đô mạn đa ra bạt đà dạ ta-bà ha. (3 lần)


Phần III.- CÔNG PHU CHIỀU:
THẬP PHƯƠNG THƯỜNG TRỤ
Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo
Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo
Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo
Cúi lạy đấng Tam giới tôn
Qui mạng mười phương Phật
Con nay phát nguyện rộng thọ trì,
Chơn Lý Kinh: ...(tên kinh Chơn Lý mình sắp tụng)...
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có kẻ thấy nghe
Đều phát lòng Bồ đề
Hết một báo thân nầy
Sanh qua cõi Cực Lạc
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (Đọc ba lần)
 KHAI KINH KỆ
Vô thượng thâm thâm vi diệu pháp
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì
Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa
(Tụng tiếp Kinh dưới đây, hoặc tụng CHƠN LÝ, mở sách ra đọc tụng tự nhiên. Mô Phật !)
A DI ĐÀ PHẬT CHƠN KINH
(Ngày 20 tháng Năm âm lịch: Ngày Tưởng Niệm Sư Thầy: Thích Giác Tịnh. Mô Phật ! Thành tâm sám hối, ôm chân lạy tạ 18 lạy ! Mô Phật !)
Nam mô A Di Đà Phật !
Kính lạy chơn tâm, thành thật hiền lương.
Kính lạy Phật pháp mười phương,
Kính lạy Tam bảo, Phật đường nghiêm trang. O (3 lạy)
Giác ngộ chơn linh đạo tràng,
Nam mô Cứu Khổ, Cứu Nạn Quán Âm.
Thích Ca chơn ngã Phật tâm,
Tâm chơn ẩn hiện, quang lâm rạng ngời.
Đăng trình nhiều kiếp thuyết lời,
Chơn tâm bình đẳng, đạo đời vô tranh.
Thiện tâm tránh dữ làm lành,
Kiên trì chánh niệm, đạo thành yên xuôi.
Vãng sanh cực lạc an nguôi,
Liễu ngộ thọ pháp, đẩy lui đường tà.
Thế giới từ bi Phật đà,
Thích Ca thuyết pháp A Di Đà kinh.
Nghiệm suy lời nói uy linh,
Bốn lăm là số: tận tình tìm ra.
Trang thì sáu trăm bảy ba,
Lời Tổ Sư thuyết, Phật đà chứng minh: O (lạy)
“Tích xưa ẩn hiện diệu linh,
Ngài Kiều Thi Ca, viên minh thiện lành.
Vua Vô Tránh Niệm vô tranh,
Chơn Lý: PHÁP TẠNG, VÃNG SANH lưu truyền.
Con đại thần Bảo Hải nguyện,
Kinh, luật, luận giảng: an thuyên nước Ngài.
Ấy là Bảo Tạng Như Lai,
Kính tôn: Như Lai Thế Tự Tại Vương. O (lạy)
Pháp Bảo Tam Tạng mười phương,
Đạo đời án ngự, đạo trường thênh thang.
Song tu Định Huệ đôi đàng,
Gìn giữ luật giới, cưu mang thật hành.
Vườn Kỳ Thụ Xá Vệ thành,
A Nan trùng tuyên, Thánh Tăng quán tâm.
Tội tâm hữu phước ngụ ngầm,
Trừ qua cấn lại, quy tâm pháp đồng.
Pháp vô tự tánh có không,
Lời nói phương tiện, thần thông hiệu nghiệm.
Bốn tám đại nguyện tôn nghiêm,
Pháp nguyện Như Lai, tâm niệm vô tranh !
Thập độ Bố thí thiện lành,
Nhẫn nhục, Tinh tấn, nguyện hạnh Bồ Tát:
"Dạy đạo Lục độ Cực Lạc,
Vãng sanh nhà đạo, thành đạt trưởng dưỡng.
TỪ, BI, HỶ, XẢ tín ngưỡng,
Tứ vô lượng tâm, vô lượng pháp lành.
Hòa chúng, Trì giới, đạo hạnh,
Thiền định, Trí huệ, thật hành Chơn Như." O (lạy)
Sở đắc Giải thoát hiền từ,
Tu tâm dưỡng tánh, an cư tu trì.
Tích xưa sách rõ còn ghi,
Không tội nhận có, vậy thì hạnh chi ?
Ấy là tánh hạnh từ bi,
Tâm chơn thầm lặng, cứu nguy giáo đoàn.
Hội Thánh Chúng rõ vuông tròn,
Bát vàng bị bể, có còn nguyên không ?
Đoái thương xót tưởng nghĩ trông,
Bảo toàn thánh chúng, tấm lòng tâm chơn. O (lạy)
A-mi-ta chẳng thua hơn,
Nhứt tâm cửu đỉnh, như sơn nhất đồng.
Tòa sen chánh pháp nhẹ bổng,
Tử thi chôn cất, thơm nồng hóa thân.
Trưỡng lão thử lòng chia phần,
Đi củi gánh nước, là phận rõ không ?
Siêng năng tinh tấn gánh gồng,
Mười năm công quả, gắng công thờ phượng !
Pháp môn Tịnh Độ mười phương,
Cầu cho bá tánh, an khương thái bình.
Vô Lượng Cam Lộ viên minh,
Tôn kính trưởng lão, tận tình công phu.
Một đời tinh tấn hạnh tu,
Thế Giới An Lạc Giáo Chủ Tây Phương.
Hoằng pháp cư gia đạo trường,
Giáo hóa Tăng sư, mười phương tế độ.
Tứ vô lượng tâm cứu khổ,
Lục độ Bồ Tát, Cam Lộ viên dung. O (lạy)
Thanh tịnh nhập định hòa chúng,
Gương hạnh bậc Thầy, hiệp chung quá khứ.
Ba đời chư Phật chơn như,
Thuyền từ đạo hạnh, đệ tử khiêm nhường.
Kính tôn bá tánh thập phương,
Trau tâm tròn đủ, con đường thiện lương.
An cư kiết hạ đồng nương,
Phụng thờ Tam Bảo, đạo trường thịnh an.
Kính lạy Tam bảo đạo tràng,
Giáo Hội Phật Giáo, an khang thịnh vượng.
Chánh đẳng Chánh giác Pháp vương,
Diệu Pháp Liên Hoa, chơn thường án ngự. O (lạy)
Đồng tâm hiệp trí đệ tử,
Thế giới Cực Lạc: Tăng Sư Bồ Tát.
Cầu cho chúng sanh thành đạt,
Đạo quả viên chơn, an lạc kính ngưỡng:
"Lạy Ngài Giáo Chủ Tây Phương,
A Di Đà Phật, con đường chơn thật.
Kính lạy Vô Lượng Quang Phật,
Vô Lượng Thọ Phật, tịnh thất Phật đài.
Lạy Cam Lộ Vương Như Lai,
Tín ngưỡng tôn thờ, Bác ái Từ bi.
Khấn niệm: Nam mô A Di Đà Phật !" O (lạy)
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT ! (3-108 lần)


Tham Khảo : 45.- "Chơn Lý" : => PHÁP TẠNG
(Chú thích: Niệm được bao nhiêu thì niệm cho đủ hơi, nhằm luyện âm cho dài thêm và tùy thuộc thời gian, nhịp nhàng đồng thanh, nếu nhiều người cùng tụng niệm ngày một tăng dần đều. Còn lại là niệm thầm ! => Giải huyệt luyện âm [nói nhanh 3 huyệt vị ở mé đầu, nó nằm ngang cách trên vành chót tai khoảng 1 mắc giữa của ngón tay giữa của người ấy, nơi mà các ca sĩ dùng headphone tai loại lớn, để nghe và hát, các chuyên gia châm cứu phương Tây, đã dùng máy móc hiện đại và phát hiện ra điều nầy...], Bảng Ký Tự Âm Chữ Cái Tiếng Việt Luyện Âm Thanh, xếp thành 5 hàng thứ tự, như sau :
1.- huyền  a  á  ớ,  e-pờ,  bê  tờ  dê,  e
2.- sắc  ê  k-ờ  ghê,  i  ,  xê  di  e-phờ,  vê
3.- nặng  thờ  hê -hơ, đê  sờ ,  zê  s-sờ  z-zê,   i-xờ
4.- ngã  o  mê  ô  nê,  ơ ,  nê-ghê  qui,  lê
5.- hỏi  rê  u  ư,  đấp, -bờ-liu  y,...y...
Cách xướng âm như là tập hát xướng âm vậy đó ! TRÒ khẳng định sau khi tập tụng theo Bảng Ký Tự Âm Chữ Cái Tiếng Việt Luyện Âm Thanh, như trên. Thì cách phát âm chuẩn hơn và đặc biệt rõ và to, đến mức ai nghe cũng bị chói tai, đề nghị nói nhỏ âm hơn, nhiều lúc hát không cần hệ thống tăng âm ! 
TỨ THẬP BÁT ĐẠI NGUYỆN
Bốn mươi tám nguyện A Di Đà,
Nhứt nguyện: tâm không sanh ngạ quỉ.
Quốc độ Cực Lạc hoan hỷ,
Không tâm địa ngục, không vì súc sanh.
Nhị nguyện: tâm không sanh tam độc,
Tham, sân, si, tận gốc đoạn diệt.
Quốc độ Cực Lạc siêu việt,
Hạnh tu rốt ráo, chướng nghiệt tiêu tan.
Tam nguyện: Y sắc tướng màu vàng,
Cứu độ hàng nhơn thiên lạc bang.
Quốc độ Cực Lạc đạo tràng,
Bình đẳng Chánh Giác, bỉ ngạn đáo lai !
Tứ nguyện: thân hòa biện tài ý hiệp,
Hội thánh chúng, đồng tu thiện nghiệp.
Quốc độ Cực Lạc nối tiếp,
Thích Ca Chánh Pháp, ác nghiệp tiêu tan.
Ngũ nguyện: thân pháp Túc Mạng Thông,
Trở lực mạng số, đại định tương đồng.
Quốc độ Cực Lạc thần thông,
Lời nói thông thái, ngưỡng trông hiệu nghiệm.
Lục nguyện: Thiên Nhãn Thông chiêm ngưỡng
Quốc độ Cực Lạc mười phương,
Mắt thấy chánh tín, đạo trường Tam bảo.
Thất nguyện: Thiên Nhĩ Thông đạo Phật,
Quốc độ Cực Lạc chơn thật,
Tai nghe chánh niệm, thất Bồ Đề phần.
Bát nguyện: Tha Tâm Thông thế trần,
Quốc độ Cực Lạc tinh tấn,
Ý: Chân, Thiện, Mỹ, tạo phần Giác ngộ.
Cửu nguyện: Thần Túc Thông tế độ,
Giữ gìn Trì giới, cứu khổ chúng sinh.
Quốc độ Cực Lạc tiếp nghinh,
Vãng sanh tịnh độ, cứu khổ tầm thinh.
Thập nguyện: thân vô ngã tướng hình,
Quán thân pháp, tật bịnh tứ khổ.
Quốc độ Cực Lạc cứu độ,
Công cha nghĩa mẹ, Thất tổ đáp đền !
Thập nhứt nguyện: đắp nền trụ tâm,
Nhẫn nhường nhịn, thậm thâm vi diệu.
Quốc độ Cực Lạc nguyện tiêu,
Tam chướng não phiền, kiêu căng phiền não.
Thập nhị nguyện: chánh đạo quang minh,
Ly gia nhập đạo, ái chúng sinh.
Quốc độ Cực Lạc tầm thinh,
Quán Âm cứu khổ, thiền định vô nan !
Thập tam nguyện: dù hữu hạn thọ,
Vô lượng kiếp sinh "na-do-tha".
Quốc độ Cực Lạc Thích Ca,
Thọ ký Di Lặc, Phật đà chứng minh.
Thập tứ nguyện: hằng sa thính chúng,
Thanh Văn nghe Pháp, chung Tịnh độ.
Quốc độ Cực Lạc vô số,
Bích Chi Phật đếm, Quốc độ bao nhiêu ?
Thập ngũ nguyện: siêu Thánh chúng,
Vô lượng thiệt thọ, trung dung hành thiện.
Quốc độ Cực Lạc hữu duyên,
Chung lo Phật sự, nguyện riêng không người !
Thập lục nguyện: thấu pháp sen tươi,
Thệ không bất thiện, độ người công huân.
Quốc độ Cực Lạc chuyển luân,
Huân tập chủng tử, xuôi thuận pháp lành.
Thập thất nguyện: lúc Phật viên thành,
Vô lượng Phật danh xưng linh hồn. 
Quốc độ Cực Lạc Thế Tôn,
A DI ĐÀ PHẬT, bảo tồn khen tặng.
Thập bát nguyện: Ni Sư Tăng,
Niệm danh xưng tọa năng hành Pháp.
Quốc độ Cực Lạc quy nạp,
Chí tâm tín mộ, thuận hạp xuất gia.
Thập cửu nguyện: Bồ đề Thích Ca,
Đại chúng hiện ra, niệm vãng sanh !
Quốc độ Cực Lạc thánh thiện,
Lâm chung Ngài hiện, chuyển thành cứu rỗi.
 Nhị thập nguyện: hồi hướng chúng sanh,
Tu các công đức, đạo thành viên minh.
Quốc độ Cực Lạc hiển linh,
Xuất gia nhập đạo, chúng sinh hộ trì.
Nhị thập nhứt nguyện: nguyện từ bi,
Hàng nhơn thiên chúng, nguyện độ trì.
Quốc độ Cực Lạc luật nghi,
Ba hai tướng tốt, sánh ví đại nhân.
Nhị thập nhị nguyện: độ hồng trần,
Trụ xứ Bồ tát cứu ân nhân.
Quốc độ Cực Lạc báo ân,
Phổ Hiền đại nguyện, góp phần hóa duyên !
Nhị thập tam nguyện: nhớ lời truyền,
Tự nguyện cúng dường, Phật tánh khuyên.
Quốc độ Cực Lạc an thuyên,
Thọ bát quan trai, thệ nguyện độ sanh !
Nhị thập tứ nguyện: phát tâm lành,
Phước sương thọ nhận, chánh hồng ân.
Quốc độ Cực Lạc chân nhân,
Ứng Cúng tri nhận, nghiệp trần tiêu tan ! 
Nhị thập ngũ nguyện: giáo hòa an,
Phụng thờ Tam bảo ngôi đạo tràng
Quốc độ Cực Lạc an bang,
Nhứt thiết chủng trí, an khang thịnh vượng.
Nhị thập lục nguyện: thành Kim cương,
A Na Diên, Kim Cang bất hoại.
Quốc độ Cực Lạc chiếu rọi,
An lạc, vui chịu với mọi cảnh ngộ !
Nhị thập thất nguyện: vô lượng độ,
Vi tế diệu, giác ngộ hóa sinh.
Quốc độ Cực Lạc tâm linh,
Vạn vật, các Pháp, thuận tình hằng sa.
Nhị thập bát nguyện: cõi ta-bà,
Ngôi đạo tràng Tam Bảo cao cả.
Quốc độ Cực Lạc Thích Ca,
Vô lượng quang sắc, xuất gia tu hành !
Nhị thập cửu nguyện: hạnh thọ trì,
Phúng tụng kinh điển, từ bi ngộ.
Quốc độ Cực Lạc tế độ,
Giảng luận biện tài, vô ngại viên thông !
Tam thập nguyện: truyền thống lưu,
Bảo tồn thành tựu, khảo cứu thuyết giảng.
Quốc độ Cực Lạc vô hạn,
Vô lượng vô biên, Niết Bàn viên dung !
Tam thập nhứt nguyện: hành trung đạo,
Lục căn thanh tịnh, giáo pháp sinh,
Quốc độ Cực Lạc chơn linh,
Soi gương hạnh giữ, mặt mình sáng trong.
Tam thập nhị nguyện: lòng tự tại,
Thập phương đóng góp, thiện tài dựng xây.
Quốc độ Cực Lạc hướng tây,
Hương thơm ngào ngạt, nơi nầy đẹp xinh.
Tam thập tam nguyện: độ sinh linh,
Quán chiếu Chánh Pháp, nhẹ quang minh  !
Quốc độ Cực Lạc chúng sinh,
Nhu hòa nhu đạo, uy linh tự nguyện.
Tam thập tứ nguyện: tổng trì nguyên.
Pháp môn thâm diệu, kham nhẫn nguyện !
Quốc độ Cực Lạc tam nguyên,
Quy chơn tam giáo: huyền, tiệm, đốn.
Tam thập ngũ nguyện: nữ cung khôn,
Uớc nguyền lai sanh, độ hồn sanh nam.
Quốc độ Cực Lạc già lam,
Bồ đề tâm nguyện, kham nhẫn, nhẫn nhường !
Tam thập lục nguyện: giữ lập trường,
Mãi đến thành Phật, thập phương hành.
Quốc độ Cực Lạc phạm hạnh,
Phẩm hạnh cao cả, năng hành Chánh Giác.
Tam thập thất nguyện: an lạc đạo,
Thánh hạnh Bồ Tát, giáo hóa sinh.
Quốc độ Cực Lạc hữu tình,
Chư Thiên hộ pháp, tiếp nghinh tọa quỳ !
Tam thập bát nguyện: Y thọ nhận,
Bát chánh đạo truyền, giáo hóa dân.
Quốc độ Cực Lạc độ thân,
 Cửu huyền Thất tổ, ai lân giáo điều.
Tam thập cửu nguyện: nêu gương hạnh,
Hoan hỷ Tỳ Kheo, phước lành tu tập.
Quốc độ Cực Lạc toàn lập,
Lậu Tận Hòa an, huân tập Niết bàn.
Tứ thập nguyện: đạo tràng nghiêm tịnh,
Bồ đề cây báu, độ dưỡng sinh.
Quốc độ Cực Lạc đẳng bình,
Minh tâm kiến tánh, thanh tịnh chư Tăng !

Tứ thập nhứt nguyện: sạch thân căn,
Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân rằng:
"Quốc độ Cực Lạc lời răn,
Lục căn thanh tịnh, ăn năn tội tình."
Tứ thập nhị nguyện: linh Tam muội,
Xin lửa cúng dường, lạnh nguội nóng sân !
Tứ thập tam nguyện: kiếp sanh thân,
Hậu kiếp tiếp nối, ân lai sanh.
Quốc độ Cực Lạc viên thành,
Lâm chung viên mãn, sanh nhà Tôn quý !
Tứ thập tứ nguyện: từ bi nguyện,
Trọn đủ công năng, cần chuyên hoan hỷ.
Quốc độ Cực Lạc từ bi,
Bồ Tát phục nguyện, nguyện vì Chánh quả !
Tứ thập ngũ nguyện: hằng sa kiếp,
Phổ đẳng giác, chuyển nghiệp hóa thân.
Quốc độ Cực Lạc tiếp dẫn,
 Tam muội đại định, lửa nhẫn hằng trụ.
Tứ thập lục nguyện: chung tu thuyết,
Vô quyền trị, ứng Pháp siêu việt.
Quốc độ Cực Lạc chơn thiệt,
Đại chúng người nghe, muốn biết hiểu thông !
Tứ thập thất nguyện: trồng cội giác,
Phục nguyện, bất thối chuyển Bồ Tát.
Quốc độ Cực Lạc thành đạt,
  Ba bảy Chánh giác, an lạc chúng sinh!
Tứ thập bát nguyện: chơn linh độ,
Pháp âm vi diệu, ngộ chơn thật.
Quốc độ Cực Lạc thống nhất,
"Niệm A DI ĐÀ PHẬT, đệ nhứt danh" !
Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật ! (3 lần )
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (tùy ý)
Tham khảo: Tự điển Phật học Việt Anh của Trần Nguyên Trung... ! 
1.-Nơi trang 613, Chơn Lý số 39: XỨ THIÊN ĐƯỜNG, Tổ Sư đã định nghĩa về hai chữ "thần thông" như sau: "Phép thần thông là lời nói pháp lý thông thái có hiệu nghiệm !". Mô Phật !
2.-Chơn Lý số 52: PHÁP CHÁNH GIÁC, nói rõ ý nghĩa của các phép thần thông !
3.-Chơn Lý số 9: CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC. (Tìm nhanh => Tổng hợp CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC)
Tham khảo:
2.-A Di Đà- Wikipedia (48 Lời Đại Nguyện, thiếu lời 39 ! Nguyện thứ 39: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, hưởng thọ sự vui sướng không như vị Lậu tận Tỳ-kheo, thời tôi không ở ngôi Chánh giác.)
3.-KINH ĐẠI NIẾT BÀN
4.-HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN TRÍCH DẪN
TU TÂM
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý :
Lục căn thọ nhận, nghĩ suy tận tường.
Thấy, nghe, ngửi, nếm, rờ, tưởng,
Lục thức tri nhận, tịnh dưỡng tinh khiết.
Làm lành tránh dữ phân biệt,
Theo chánh bỏ tà, đoạn diệt vô minh.
Tám loại, tám thức chúng sinh,
Trí căn, tánh giác, tự mình tu thân.
Tu thân, khẩu, ý, ba phần,
Giới, Định, Huệ, ân cần thọ nhận.
Tứ đại vật chất bốn phần,
Đất, nước, lửa, gió, tạo thân địa cầu.
Ba phần nước với năm châu,
Một phần là đất, tinh cầu sống chung.
Vũ trụ đạo đức bao dung,
Bảo tồn tánh linh, Thánh chúng hiệp hòa.
« Thọ cảm » thức biết cây, cỏ,
Loài thú tư tưởng, đã có hình thành.
Tinh cha huyết mẹ dưỡng sanh,
Con người ý thức, tạo thành hành vi.
Tu dưỡng đạo đức từ bi,
Chư thiên hộ pháp, thọ trì tiến hóa:
Nước, đất, lửa, gió, cây, cỏ,
Thú, người, Trời, Phật ngự tòa sen thiêng.
Vô ưu đoạn diệt não phiền,
Lục căn thanh tịnh, tọa thiền tự nhiên.
Theo căn tiến hóa thuận duyên,
Tám trần, tám thức, Phật truyền giảng răn:
Thành tâm sám hối ăn năn,
Ngăn ngừa ác nghiệp, thiện căn giữ gìn.
Tăng trưởng trí huệ chánh tín,
Giác ngộ tôn giáo, niềm tin chánh pháp.
Diễn dịch giảng luận quy nạp,
Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp : Lục trần.
Trí huệ, chơn tánh hai phần,
Noi gương Trời, Phật chuyên cần tu tâm.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
Kính lạy Tổ Sư Minh Đăng Quang vắng bóng (3 lần)
Kính lạy Chư Phật, Pháp, Tăng mười phương ba đời (3 lần)
MA-HA BÁT-NHÃ BA-LA MẬT-ĐA TÂM KINH

Quán-tự-tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la mật-đa thời, chiếu kiến ngũ-uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Xá-Lợi-Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.
Xá-Lợi-Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới, vô vô-minh, diệc vô vô-minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố, vô hữu khủng-bố, viễn ly điên-đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-Bàn. Tam-thế, chư Phật y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thiệt bất hư. Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết:
Yết-đế yết đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế Bồ-đề tát bà ha.
Ma-ha Bát-nhã Ba la-mật-đa. (3 lần)
Bảng Nôm-Hán Tự:
般 若 波 羅 蜜 多 心 經.
觀 自 在 菩 薩。行 深  般  若 波  羅  蜜 多 時 。照 見 五 蘊 皆 空 。度 一 切 苦 厄。舍 利 子。色 不 異 空。 空 不 異 色。色 即  是空 。 空 即  是 色。受 想 行 識  亦 復 如 是. 舍 利 子。是  諸 法  空 相 。不 生 不 滅。不 垢  不 淨 。不 增 不 減。是 故  空 中 無 色。無 受 想 行 識。無 眼  耳 鼻 舌 身  意。無 色 聲 香 味 觸 法。無 眼 界 。 乃 至 無 意 識  界 。無 無明 。亦 無  無明 盡。乃至 無  老 死。亦 無 老 死 盡。無 苦 集 滅道 。無 智 亦 無 得。以 無 所 得 故。菩 提 薩 埵 。依 般 若 波 羅 蜜 多 故。心 無  罣 礙  。無 罣 礙 故。無 有 恐怖。遠 離 顛 倒 夢 想。究 竟 涅  槃。三 世 諸 佛。依 般 若  波 羅  蜜 多 故。得 阿 耨 多羅 三 藐 三 菩 提。故 知 般 若 波  羅 蜜  多。是 大 神 咒 。是 大 明咒 。是 無  上咒。是  無 等 等 咒 。能 除  一 切  苦。真 實 不 虛  。故 說  般 若 波 羅  蜜 多 咒。即 說 咒曰。揭 諦  揭 諦。 波  羅 揭 諦  。波 羅  僧 揭 諦。菩 提 薩 婆 訶。

Tham khảo: Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Công phu khuya)


TÂM KINH BÁT NHÃ
Bồ Tát xem xét Tự Tại, khi quán chiếu thâm sâu, Bát nhã ba la mật đa, bỗng nhận thức năm uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức tỏ rõ, đều không có tự tánh. Thân chứng thực tại, ấy đều xong, Ngài vượt qua tất cả, mọi đau khổ, tai nạn, đạo đức tu dưỡng từ bi.
Nghe nầy, xá lợi tử ! Sắc chẳng khác chi không, không chẳng khác gì sắc. Cả sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều y như vậy đó ! Tánh thể mọi chơn pháp đều không: không sanh cũng không diệt, không sạch cũng không nhơ, không thêm cùng không bớt.
Cho nên trong tánh chơn không, không có sắc, thọ, tưởng; không mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân căn; Không có: xúc, thinh, hương, vị, thính, sắc, sáu trần. Không không mười tám giới: từ mắt nhìn vào trong ý thức, không hề có vô minh, cho nên không già, không chết, không khổ, tập, diệt đạo cũng không. Không trí huệ, không chứng đắc, tự cao, ngã mạn. Không diệt dộ, cũng không sanh pháp đồng. Diệu lý pháp Bát Nhã Ba La Mật Đa, tâm không còn chướng ngại, tiến hóa đại bi, tứ vô lượng tâm, tứ vô đẳng tâm. Không còn sợ hãi, xa lìa tất cả vọng tưởng, đảo điên. Nhứt thiết chủng trí chơn ngã Niết bàn tuyệt đối, tâm chơn.
Chư Phật ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai, nương theo Bát Nhã Ba La Mật Đa. Chống tay, nâng đầu, ngọa thiền, thân thuyền Bát Nhã quay về bờ giác, chứng vô thượng đẳng giác.
Vậy nên phải hiểu rằng: Bát nhã ba la mật đa, là linh chú đại thần, là linh chú đại minh, linh chú vô thượng, lời niệm niệm vượt siêu chuyển hóa: bỏ tà, chấp chánh, chấp chơn, không còn hư vọng. Hiệu nghiệm năng lực, tiêu trừ tai nạn; tất cả mọi đau thương, khốn khổ, vô cùng vô tận vô biên, không không tưởng xứ !
Cho nên Ngài Quán Tự Tại Bồ Tát, liền đọc lời chú rằng: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát đỏa ta bà ha (3 lần)
Phần IV.- CÔNG PHU SÁNG:
CHÁNH PHÁP NHÃN TÀNG
(正 法 眼 藏)
Khó dò biển giác mênh mông,
Rừng thiền vắng lặng, sao trồng sao gieo ?
Một mình lạc bước hiểm nghèo,
Đàn kinh pháp bảo, nẻo về thênh thang :
Đạo ẩn tàng như Kim Cang,
Thích Ca bỏ cả, giang sang sự nghiệp.
Sáu năm rừng già thọ nhiếp,
Khổ hạnh gian truân, chẳng hiệp đạo mầu.
Dưới cội Bồ đề rèn trau,
Bốn chín ngày đêm, nhập mau thời khắc.
Ngài chứng quang minh thọ đắc:
“Vô thượng chánh chơn” phó mặc thời gian.
Bảy ngày sau khi thọ an,
Ngài thầm nghĩ : “ơi, ngộ nan thấu pháp !
Chỉ duy Phật với Phật hạp.
Liễu ngộ đạo mầu, quy nạp hiền nhân."
Đại Phạm Vương lo ân cần,
Xin vì nguyện xưa, khai ân thuyết giảng:
Vì lòng từ bi đạo tràng,
Bốn chín năm Đại La Hán độ trần.
Đại đệ tử nhập thiền thân,
“Nhứt thiết chủng trí” góp phần chơn trí:
“Kiến tánh thành Phật !” khắc ghi,
Tối thượng nhứt thừa : từ bi Phật hạnh.
Lục độ chơn như bổn tánh,
Bát nhã chân kinh, bá tánh truyền kinh.
Vượt biển luân hồi nhiếp chính,
Bờ chánh giác ứng, hiển linh diệu lý.
Khó phân độ lượng: diệu trí,
Chơn không hiển hóa, diệu kỳ vô ngôn !
Hậu nhân truyền kiếp kính tôn,
Đặt cho tên gọi lưu tồn: thiền tông.
Bực đại thừa tín ngưỡng trông,
Xuất thế gian Pháp, thần thông vô thượng.
Chơn như Phật tánh kính ngưỡng,
Tiểu, đại, trung thừa, vô lượng chơn linh.
Hội Linh Sơn, núi hiển minh,
Ca Diếp Tôn Giả, lặng thinh mỉm cười.
Lòng ngộ pháp : cành sen tươi !
Lúc Phật hiển thị, cho Ngài rõ hay.
Tâm ấn truyền nhứt tổ thay,
Thay Phật độ dẫn, duyên may thọ trì.
Phật bảo:" Vô tự giáo lý,
Giáo ngoại biệt truyền, chí nguyện pháp nhãn !
Bảy tướng diệu tâm Niết Bàn,
Ca Diếp truyền nhân, thọ ban nhiệm màu."
Kể từ thuở ấy về sau,
Đạt Ma Sư Tổ xứ Tàu, truyền kinh.
Sơ Tổ Trung Quốc ân sinh,
Lục truyền ấn chứng tâm bình : Huệ Năng.
Tâm rõ tánh chơn vắng lặng,
Ẩn tàng dung chứa bảo rằng: Phật tâm.
“Tính thể Niết Bàn” không lầm,
Khó phân độ lượng: “diệu tâm” vậy mà !
Nhãn tâm phối hiệp chẳng xa,
Âm dương nhựt nguyệt, phát ra nhãn tàng.
Linh quang tự tánh hai hàng,
Tại nơi đôi mắt rõ ràng : bổn tâm.
“Tự tại quang minh” chớ lầm,
Chạy theo “trần cảnh”, khó tầm “chơn linh”.
Quán trong con mắt chính mình,
Rõ trông cho khéo, phân minh chánh tà.
Dục hay “vô dục” nào xa,
Ý chân tình ý, quán ra “tánh hiền” !
Ba tháng “nội quán” tịnh thiền,
Trăm ngày nhập định, rõ liền xem tâm.
“Hồi quang phản chiếu” khiếu âm,
Cùng là “dương khiếu” chớ tầm đâu xa.
“Hườn nguyên phản bổn”: Chơn ngã,
Huệ Minh nền tảng, Thích Ca khẩu truyền.
Bát Nhã Thiền Tông, giảng khuyên:
“Kiến tánh thành Phật” thâm uyên phước phần !
Nếu ai gặp đặng ân cần,
Hiểu thấu “nghĩa lý chân kinh” tham thiền.
Chánh niệm nhập định liền liền,
Ung dung, tự tại: Thánh hiền Thiền sư !
Minh Trực Đạo Sư kỉnh tự,
Con nay thi hóa, ngôn từ tế nhị.
Lục bát chuyển ý kinh thi,
Nhãn Tàng Chánh Pháp, luật nghi bảo tồn.
CHÁNH niệm chánh định Phật ngôn,
PHÁP bảo chơn kinh, linh hồn phương châm.
NHÃN đồng "mục" Hán Việt  âm,
TÀNG ẩn chánh pháp, Phật tâm: chơn ngã.
Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật .(3 lần)
Nam-mô Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.(3 lần)


BÁT NHÃ TÂM KINH 
Khi hành BÁT NHÃ BA LA,
Ngài Quán Tự Tại soi ra tột cùng.
Thấy ra năm uẩn đều không,
Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua.
Nầy Xá Lợi Tử xét ra,
Không là sắc đó, sắc là không đây.
Sắc cùng không chẳng khác sai,
Không cùng sắc cũng sánh tài như nhau.
Thọ, tưởng, hành, thức, uẩn nào,
Cũng như sắc uẩn một màu không không.
Nầy Xá Lợi Tử ghi lòng,
Không không tướng ấy đều không tướng hình.
Không tăng, giảm, không trược thanh,
Cũng không diệt, cũng không sanh: Pháp đồng.
Vậy nên trong cái chơn không,
Vốn không năm uẩn, cũng không sáu trần.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân,

Vị, hương, xúc, pháp cùng phần sắc thinh.
Từ không giới hạn mắt nhìn,
Đến không ý thức vô minh cũng đồng.
Hết vô minh cũng vẫn không,
Hết già, hết chết giả không có gì.
Không khổ, tập, diệt, đạo kia,
Trí huệ chứng đắc cũng là không không

Sở thành, sở đắc bởi không,

Các vì Bồ tát, nương tùng tuệ năng.
Tâm không còn chút ngại ngăn,
Nên không còn chút băn khoăn sợ gì.

Đảo điên mộng tưởng xa lìa,

Niết bàn mới đến bên kia bến bờ.
Ba đời chư Phật thuở xưa,
Đắc thành chánh giác đã nhờ tuệ năng.

Trí huệ năng lực vô ngần,

Đại minh vô thượng, đại thần cao siêu.
Trí huệ năng lực có nhiều,
Thật là thần chú trừ tiêu não phiền.
Trí huệ năng lực vô biên,
Dẫn đường giải thoát qua bên giác ngàn.
Liền theo lời chú thuyết rằng:
"Độ tha giác ngộ, khắp trần chúng sanh"
NGUYỆN VÃNG SANH
Muôn Pháp không thường còn
Người sanh ắt có diệt
Sanh tử như thủy triều
Diệt tận, chân phúc hiện

Thác bền sống không bền

Người đời ai cũng chết
Chết mục tiêu cuộc đời
Đúng y lời Phật dạy

Kiếp sống trong ngắn ngủi

Chết thật là chắc chắn
Sớm muộn xác thân nầy
Trả về cho tứ đại

Nhìn xem thể phách hoại

Xác như gỗ mục hư
Tánh thanh tịnh chơn như
Niết bàn vô sanh diệt
( Đọc ba lần.)
XƯNG TÁN NIỆM PHẬT
A Di Đà Phật Kim Cang,
Quang minh tướng tốt, nghiêm trang ai bì.
Bạch hào như núi tu di,
Hy mã lạp sơn, tu trì tịnh độ.
Nam mô Quan Âm cứu khổ,
Vô số chư Phật: Giác Ngộ độ tha.
Kính lạy BỔN SƯ THÍCH CA,
Vô lượng vô biên, Phật đà hóa thân.
Bốn mươi tám nguyện góp phần,
Sen vàng chín phẩm, tu thân giác ngộ. 
Quy mạng lễ, xin tiếp độ,
Quay về bờ giác, cứu khổ: vãng sanh !
Tây phương giải thoát an lành,
Nam mô Tây Phương: Vãng Sanh lạc bang.
Giáo Chủ Thế Giới đạo tràng,
Đồng xin hộ niệm, cứu an dân lành:
"NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT THÁNH CHÚNG MƯỜI PHƯƠNG" (3 lần)
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (tùy ý)
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam mô Thanh tịnh Đại hải Chúng Bồ tát (3 lần)
(Đứng dậy Tán Lễ - Chủ Lễ Xướng)
TÁN THÁN LỄ
Từ bi nguyện thệ độ nhân sanh
Hỷ xả cứu an giúp cha lành
Chúng hội hữu tình quanh Tam bảo
A Di Đà Phật chí tâm thành:
(Đảnh lễ 12 danh hiệu Phật A Di Đà)
1.-Chí tâm đảnh lễ : Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Vô Lượng Quang Như Lai (1 lạy)
2.-Chí tâm đảnh lễ:  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Vô Biên Quang Như Lai (1 lạy)
3.-Chí tâm đảnh lễ :  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Vô Ngại Quang Như Lai (1 lạy)
4.-Chí tâm đảnh lễ :  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Vô Lượng Thọ Quang Như Lai (1 lạy)
5.-Chí tâm đảnh lễ : Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Diệm Vương Như Lai (1 lạy)
6.-Chí tâm đảnh lễ :  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Thanh Tịnh Quang Như Lai (1 lạy)
7.-Chí tâm đảnh lễ :  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Hoan Hỷ Quang Như Lai (1 lạy)
8.-Chí tâm đảnh lễ:  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Trí Huệ Quang Như Lai (1 lạy)
9.-Chí tâm đảnh lễ:  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Nan Tư Quang Như Lai (1 lạy)
10.-Chí tâm đảnh lễ:  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Bất Đoạn Quang Như Lai (1 lạy)
11.-Chí tâm đảnh lễ:  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Danh Xưng Quang Như Lai (1 lạy)
12.-Chí tâm đảnh lễ:  Nam mô An dưỡng quốc, Cực lạc giới, A Di Đà hải hội, Nhựt Nguyệt Quang Như Lai (1 lạy)
SÁM THẬP PHƯƠNG
Mười phương ba đời Phật
A Di Đà nhất danh
Độ sanh lên chín phẩm
Oai đức rộng thinh thinh

Con nay qui y Phật

Diệt ba nghiệp mê tình
Bao nhiêu phần phước đức
Hồi hướng khắp nhơn sanh

Nguyện cùng người niệm Phật

Cảm ứng hiện điềm lành
Lâm chung thấy cảnh Phật
Trước mắt hiện đành rành

Thấy nghe đều tinh tấn

Cực lạc đặng vãng sanh
Thấy Phật dứt sanh tử
Như Phật độ hàm linh

Trừ vô biên phiền não

Tu vô lượng pháp lành
Chúng sanh nguyện tế độ

Hư không còn có hết

Bổn nguyện vốn không cùng
Hữu tình, vô tình khắp
Trí huệ chứng viên thông.
THẬP NGUYỆN
Một nguyện lễ kính Như lai,
Hai nguyện xưng tán công dày Thế Tôn.
Ba nguyện tu phước cúng dường,
Bốn nguyện sám hối nghiệp vương tội trần.
Năm nguyện tùy hỷ công huân,
Sáu nguyện thỉnh chuyển Pháp luân độ người.
Bảy nguyện thỉnh Phật ở đời,
Tám nguyện học Phật tùy thời phát minh.
Chín nguyện hằng thuận chúng sinh,
Mười nguyện hồi hướng pháp lành khắp nơi !
PHÚNG KINH
Tụng kinh công đức tuyệt vời
Xin đem hồi hướng khắp người gần xa.
Chúng sanh pháp giới ta bà
Mau về cõi Phật Di Đà Tây Thiên.
NGUYỆN TIÊU
Nguyện tiêu tam chướng não phiền,
Nguyện hành trí huệ, vô biên tuyệt vời.
Nguyện bao nghiệp tội ra rời,
Nguyện hạnh Bồ tát đời đời độ tha.
NGUYỆN SANH
Nguyện về Tịnh độ nước nhà,
Hoa sen chín phẩm là cha mẹ mình.
Hoa khai ngộ pháp vô sanh,
Bất thối Bồ tát bạn lành dựa nương.
HỒI HƯỚNG
Nguyện đem công đức lành
Hồi hướng cho tất cả
Hương linh với chúng sanh
Đều chứng thành Phật quả.
THƯỢNG LAI
Nam mô A Di Đà Phật 
A Di Đà Phật
Đệ tử chúng đẳng cung tựu Phật tiền,
Phúng tụng Chơn Lý Đại Thừa pháp bảo tôn kinh:
(....[tên tựa đề kinh mình tụng xong]....)
Nguyện cầu siêu cho tiên linh, hương linh
Cửu Huyền Thất Tổ
Tốc xã mê đồ siêu sanh lạc quốc.
PHỤC NGUYỆN
Nhứt thành thượng đạt
Vạn tội băng tiêu
Nguyện chư tiên linh, hương linh Đắc độ cao siêu
Kỳ gia quyến hàm an lợi lạc
PHỔ NGUYỆN
Âm siêu dương thới
Pháp giới chúng sanh
Tình dữ vô tình
Tề thành Phật đạo
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT
TỰ QUI Y
Tự qui y Phật
Cầu cho chúng sanh
Hiểu rõ đạo lành
Phát lòng vô thượng

Tự qui y Pháp

Cầu cho chúng sanh
Kinh luật hiểu rành
Trí huệ như biển

Tự qui y Tăng

Cầu cho chúng sanh
Hiệp chúng đồng tình
Chẳng hề trở ngại.
HỒI HƯỚNG
Phẩm kinh con mới đọc rồi,
Nguyện đem phước đức, vun bồi chúng sanh.
Người người thức tỉnh tu hành,
Bến mê phút chốc, biến thành ao sen

Lý kinh sáng suốt như đèn,

Rọi vào tâm trí, tối đen sáng liền
Nguyện con cùng pháp có duyên,
Gặp người trí thức, bạn hiền đồng tu

Ngày ngày tinh tấn công phu,

Pháp đăng chớ để, mờ lu lạnh lùng.
Cúi xin Đức Phật chứng lòng,
Con nguyện quyết chí, gắng công tu trì.
CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mưu Ni Phật. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật. (1 lạy)
Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đạo tràng Hội thượng Vô lượng Chư Phật, Chư Đại Bồ Tát, Chư Hiền Thánh Tăng. (1 lạy)
Ca dương Phật sự
Diễn cúng kinh văn
Chúng tử vĩ hoàng
Tứ chúng bình an
Tịnh xá..............(Ngọc Nhơn).............Hưng Vượng.
Hòa...................Nam............Thánh Chúng.
Tịnh Xá Ngọc Nhơn, 999 Trần Hưng Đạo, Qui Nhơn, Bình Định.
KINH ẤN TỐNG
Tham Khảo:
1.-Chơn Lý 52 : PHÁP CHÁNH GIÁC
2.- Chơn Lý 45 : PHÁP TẠNG (673-687) 
3.- Chơn Lý 46 :VÔ LƯỢNG CAM LỘ  (688-706)
4.- Chơn Lý 50 : PHÁP HOA (Trang 749-762)
5.- Lược sử Đức Phật A DI ĐÀ và 48 Lời Đại Nguyện
6.- A Di Đà- Wikipedia (48 Lời Đại Nguyện, thiếu lời 39 ! Nguyện thứ 39: Lúc tôi thành Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cõi nước tôi, hưởng thọ sự vui sướng không như vị Lậu tận Tỳ-kheo, thời tôi không ở ngôi Chính giác.)
7.- Cấp Cô Độc.
CHUNG

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét