Thứ Năm, tháng 10 03, 2013

21. Chánh Pháp ; Dharma

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 21
Practice self-taught English translation: No. 21
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 
Thực hành đọc Chơn lý ; Practice reading Truth
Chánh Pháp 
Dharma
( Trang 310-323 ; Pages 310-323 )
Chánh Pháp là Pháp Phật của "Chánh Đẳng Chánh Giác"; cũng gọi tắt là "Pháp Phật Chánh-Giác" ; Dharma is the Dharma of the "Awakened One"; also referred to as "Dharma Chief-Enlightenment"
Bồ Đề Đạt Ma ; Bodhidharma
Phương pháp chánh giác của Phật, có hai "chân giá trị" là:  phương pháp-học và phương pháp-hành ! ; The method of Buddhist enlightenment, there are two "dignity" is: method-learning and methods-operating!
Còn thực hành thì còn đạo, hết thực hành thì hết đạo, cho nên đời nay người ta gọi đời "mạt-pháp" là bởi có học, chớ không có hành. Nghĩa là người ta không có thật-hành đúng theo pháp chánh-giác của chư Phật nữa, tức là người ta hành theo tà-pháp, còn học thì học theo chánh-pháp. Tuy nói vậy, chớ người ta cũng không nhận sự học của người ta theo kinh-điển là chánh nữa vì người ta nói: “Xứ nầy không có Phật, và thời nầy là mạt-pháp, hết pháp rồi, kẻ đang tu học bây giờ đây là đạo riêng của mỗi người, chớ không phải đạo Phật nữa, người ta nói, đời nay kẻ tu đều là tà-đạo vậy”
Câu nói ấy, làm ai cũng buộc miệng trả lời cả: “Cái pháp tự nó đâu có hưng hay mạt, là chỉ tại nơi người làm mạt đó thôi, cũng như đạo đâu có bao giờ mất mà chỉ tại người bỏ đạo làm mất đó thôi!”
Thật vậy, người tà chớ đâu phải đạo không chánh, người mạt chớ đâu phải pháp không hưng! Chỉ tại người có học không hành, không tu là chẳng thành chớ sao gọi là hết pháp, không Phật. Chánh-pháp là sự sống hay giáo-lý của chúng-sanh đối với vạn-vật đúng theo chơn-lý.
Chơn-lý là lẽ thật trong võ-trụ, từ tứ-đại địa-cầu, sanh ra cỏ cây thú người Trời Phật lẽ thật ấy là tiến, là sống mà chánh-pháp của chư Phật là sự chỉ rõ cách tiến đến quả Phật cuối chót. Chơn-lý ấy bao giờ cũng hiển-nhiên nơi thế sự, ví như mặt đất liền chỗ sanh-sản ra chúng-sanh, chỉ tại kẻ giác-ngộ, cùng người chưa giác-ngộ chớ sao gọi là hết pháp. Vả lại pháp được chơn-chánh là tại chỗ thật-hành chớ nào phải chỉ có học mà không hành rồi sợ mang tiếng tà-đạo phải gọi là mạt-pháp, lời nói ấy là giết hại đạo Phật hủy báng Tam-Bảo mê hoặc chúng-sanh để chịu nghiệp trầm-luân khổ-sở. (Trang 311)
—Cái gì là chánh pháp của chư Phật?; What is the Dharma of the Buddha?
"Tứ-Y" Chánh Pháp, là phương pháp của chư Phật mười phương ba đời, là giáo lý: "Y-Bát" của Đạo Phật : Khất Sĩ, vậy! ; "Four-Robe" Dharma, the methods of the Buddhas of the ten directions for three generations, is the doctrine: "Robe-Bowl" of Buddhism: Bhiksu, too!
"Tứ-Y" Chánh Pháp
"Four-Robe" Dharma
Người tu xuất-gia: Chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội thuyết-pháp được ăn tại chùa.
Người tu xuất-gia: Phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.
Người tu xuất-gia: Phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều am nhỏ bằng lá, một cửa thì được ở.
Người tu xuất-gia: Chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.
Tứ-Y-Pháp là pháp xuất-gia, giải-thoát ra khỏi nhà ăn mặc ở bịnh của hang ma lầm lạc, mà sống đúng y theo chơn-lý của miếng ăn có sẵn trái rau, sự mặc có sẵn lá vỏ, chỗ ở có sẵn bộng hang, thuốc uống có sẵn nơi cây cỏ, của cổ-nhơn xưa, người chơn thật không hay vọng-động khổ-não. Tứ-Y-Pháp là pháp trung-đạo Chánh-Đẳng Chánh-Giác không thái-quá bất-cập, nhờ đó mà chư Phật mới đắc tâm thành Phật. Các Ngài khi vào xóm thì đi xin ăn và dạy lại người, khi ở rừng thì nhập-định chơn-như nín nghỉ, đức Phật nào cũng như thế, ngoài Tứ-Y-Pháp ra thì không phải đạo Phật, không giống chư Phật chư Tăng và không phải là giáo-pháp chánh-chơn của Phật. Vì vậy cho nên Tứ-Y-Pháp là đứng đầu trong tạng-luật và khi xưa kẻ mới tu xuất-gia nhập đạo thì Phật dạy cho Tứ-Y-Pháp trước hết và dạy cho biết đạo Phật là đạo Khất-Sĩ vậy.
Có làm Khất-Sĩ sống chung, học dạy chung lẫn nhau giữa ta và người thì mới thành bậc chánh-đẳng chánh-giác vô-thượng là Phật đặng và ngoài pháp bốn điều y ấy thì không có pháp nào thứ hai để dứt tham sân si được.
Tứ Y Pháp là gồm cả luật tạng, nên gọi là chánh pháp.
Tứ-Y-Pháp còn là đạo Phật còn.
Tứ-Y-Pháp mất là đạo Phật mất.
Ai hành sái Tứ-Y-Pháp tức là tà pháp.
Và thấy Tứ-Y-Pháp tức là thấy Phật hiện tại.
"Tứ-y pháp" là đạo Phật ! ! !
BỐN PHÁP THÁI-QUÁ
1) Nhịn đói không ăn.
2) Loã thể không mặc áo quần.
3) Phơi nắng dầm mưa giữa khoảng không.
4) Đau không uống thuốc liều mạng.
Bốn phép tu nầy của các vị tu tiên đạo Trời mà khi xưa đức Phật từng gặp nơi rừng Ấn-Độ, họ hành-phạt xác thân cho khổ để cầu sanh lên cõi Trời hưởng sự vui, họ tu bằng lòng ham muốn, ý mong dục, lòng kiêu mạng, chấp ta, mạnh-mẽ mà đức Phật cho đó là sự khổ, họ làm thêm sự khổ cho họ vì cái thái-quá là chẳng có bền, hết thích ưa thì nhàm chán ở một bên, rốt-ráo tinh-thần, không vật-chất thì có ngày sa-ngã cũng như kẻ trèo quá cao thì sẽ mỏi chân té ngã, cũng như dây đờn thẳng quá sẽ đứt.
Chư Tiên ở cõi Trời không lâu là cũng vì lẽ ấy nên có ngày sa-đọa; Kẻ hành thái-quá có khác nào người tự-vận liều mình, thì kẻ đó có được yên vui bao giờ hơn nữa họ làm cho người ta phải cực lòng năn-nỉ chiều-chuộng hoặc sự vì thấy lạ mà người xúm đông khoe hay, khen giỏi hoặc là âm-mưu vụ-lợi chi đó gạt-gẫm người ta. Người hành thái-quá để rồi bất-cập hết cái tột cao rồi tột thấp, trong tâm không bao giờ yên-lặng tự-nhiên bền vững, việc làm ấy cũng như kẻ bị lửa đốt. Pháp tu ấy thật rất thiện rất cao không phải là trung-đạo giải-thoát khổ được và cái cao ấy có ngày phải gãy mà không ai theo nổi. Bốn pháp thái-quá làm hư tâm-trí nên đối với đức Phật đạo Niết-Bàn thì cho là kém sự giác-ngộ, còn ở một bên lề chớ chưa phải là đạo chơn, chánh giữa mặc dù kẻ tu ấy cũng là thiện chớ không phải ác, nhưng vì chấp thiện mà phải khổ thì không gọi là yên vui được.
BỐN PHÁP BẤT-CẬP
1) Ăn nhiều bữa nhiều món chấp vị ngon.
2) Mặc áo quần chưng diện đủ thứ.
3) Ở nhà ngói, lâu đài, xe cộ sang trọng.
4) Không đau mà trữ sẵn thuốc uống, bổ-dưỡng luôn luôn.
Bốn pháp nầy là của hàng nhơn-loại không tu, dung dưỡng; Bốn pháp bất-cập của thế-gian làm cho tâm-trí hư tệ ham danh lợi mà ác, tham vui mà khổ, sợ cực-nhọc mà hư, họ là kẻ vô-dụng chỉ mong sự hưởng phước, hết phước rồi tạo tội, kẻ ấy bị vật-chất chôn lấp nhận đè ra không khỏi, ở trong bốn vách tứ-sự ăn mặc ở bịnh như người tội, thúi hôi, dơ-dáy, ngộp hơi, khổ-não mà còn bị tai-họa liên-miên, ấy là vũng sình lầy trần-thế, ở một bên lề đạo, chẳng phải là con đường cao ráo sạch-sẽ yên vui sáng-lạng của bậc giác-ngộ vậy.
Pháp thái-quá tột cao.
Pháp bất-cập tột thấp.
Hai pháp ấy tương-đối cùng nhau gọi thiên-đường và địa-ngục, chẳng phải là bậc trung yên nghỉ được của người giác-ngộ, nên không phải là đạo Phật.
Hai pháp hai bên lề ấy là chỗ chạy nhảy leo-trèo của người lớn nhỏ, chớ chưa phải là nơi yên nghỉ của ông già cũng như vua quan giàu sang, với tội dân nghèo khó hai lớp ấy là khổ chớ chưa phải là trung-đạo, yên vui đứng vững và cũng đó là đạo riêng, giáo-lý riêng chớ không phải là đạo của tất cả chúng-sanh nuơng theo được, học theo được.
Con đường mà tất cả chúng-sanh nương theo học theo phải là mực trung, có kẻ trên người dưới, đều lên xuống ở nghỉ được, mới gọi là con đường của tất cả, hạp với tất cả. Vậy thì thái-quá bất-cập là nguyên-nhân của sự luân-hồi sanh-tử khổ, tức là chưa phải là chánh-pháp vậy; Thế nên đức Phật khi xưa mới chỉ ra chánh-pháp là pháp-hành đúng theo Tứ-Y-Pháp trung-đạo, Ngài và chư Tăng đều hành theo Tứ-Y-Pháp lúc đầu chớ không có giới-luật chi cả, vì hiểu nơi Tứ-Y-Pháp tức là tự mình hiểu, nơi giới-luật có là lúc sau nầy đệ-tử quá đông nhiều không hiểu đạo làm sái quấy Ngài mới bày ra giới-luật răn phạt kẻ không nghiêm, chớ Tứ-Y-Pháp mà ai thật-hành đúng và thấu đạt cả ý nghĩa tức là đắc đạo vậy.
Chư Phật đắc đạo là do Tứ-Y-Pháp
Chư Tăng đắc quả là do Tứ-Y-Pháp
Pháp-bảo là giáo-lý của Tứ-Y-Pháp
Khi xưa chư A-La –Hán có vị đắc quả bằng Tứ-Y-Pháp mà trọn đời không được nghe Phật thuyết-pháp giảng-dạy một câu: Ấy vậy ai hành đúng theo Tứ-Y-Pháp tức là đúng theo chánh-pháp của chư Phật ba đời là giáo-lý Y-bát chơn-truyền vậy. Mà kẻ thật-hành thì phải giữ được từ mười giới, một cái bát để xin ăn và một bộ áo ba cái đủ che tân thoi; Vì có giải-thoát vật-chất tứ-sự mới di được khắp nơi, sống cùng tất cả mà trau tâm dồi trí nên người được, như vậy con người rảnh-rang không bị buộc ràng vì vật-chất mới làm nên việc hơn đời được, trong Tứ-Y-Pháp có chứa mười giới nầy:
1. Không sát-sanh
2. Không trộm-cắp.
3. Không dâm-dục.
4. Không nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.
5. Không uống rượu say sưa, vì tham-lam, sân-giận, si-mê.
6. Không ngồi nằm ghế giường cao rộng chiếu lớn chỗ xinh đẹp.
7. Không nghe xem hát múa, đờn, kèn, chỗ vui đông yến tiệc
8. Không trang-điểm phấn son, dầu hoa và áo quần tươi tốt.
9. Không ăn sái giờ (từ quá ngọ tới ngọ mai, ăn chay).
10. Không rớ đến tiền bạc vàng của quí đồ trang sức.
Không làm vua quan giàu sang, cũng không làm tội dân nghèo khó phải đi khất xin ăn tu học…Tứ-Y-Pháp là pháp giải-thoát nuôi tâm tu học, chớ không phải khổ hạnh hay dung-dưỡng sung-sướng...
Tứ-Y-Pháp là kho tạng kinh, kho tạng luận và kho tạng luật! ai có thật-hành rồi mới được thấu hiểu.
Đời nay nếu có người nào chỉ học mà không tu, không nỡ lìa xa danh lợi, bỏ Tứ-Y-Pháp tức là bỏ giới-luật bỏ đạo Phật rồi, thì kinh-luận ngoài môi chót lưỡi, có ăn thua gì đâu. Người lại cho rằng: Đạo Phật phải cải-cách theo phong-tục mà người quên rằng, đã là phong-tục tại sao đạo Phật theo, mà sao phong-tục lại không theo đạo Phật? Người đó bỏ Tứ-Y-Pháp, sửa đổi giới-luật chế biến đạo Phật người hơn Phật rồi thì đâu còn đạo Phật nữa. Người ấy làm biểu tướng đạo Phật bề ngoài mà bên trong là hại đạo Phật, không hành theo chánh-giác của chư Phật thì những lời nói chữ viết của người, có đúng với đạo Phật được đâu? Mà có ai lại chẳng binh-vực giáo-lý riêng tật xấu chỗ sai của mình mà cho rằng mình phải mãi? Vì vậy mà khi xưa Phật có dặn về sau chúng-sanh chớ tin lời nói chữ viết của ai mà gọi là của Ngài, nghe xem phải xét cho đúng lý rồi sẽ tin. Chỉ có con sâu của lông sư-tử mới ăn thịt sư-tử thôi nghĩa là những kẻ xưng mình đệ-tử Phật, bênh Phật bằng ý riêng của họ mới là kẻ hại đạo vậy. Như thế thì đạo Phật không đặng sửa đổi, nếu sửa đổi thì không còn đạo Phật, không còn gọi là qui-y Phật, qui-y Pháp, qui-y Tăng tức kẻ ấy giết đạo Phật vậy.
Cũng như dạo Phật xưa là đạo Khất-Sĩ kẻ xuất-gia mới gọi là nhập đạo, đời nay lại có người tại gia cứ ngỡ mình là con trưởng của Phật mà khinh thường Tăng chúng, tưởng như xưa kia đức Phật cũng tại gia cư-sĩ như mình.
Con đường khất-sĩ đi đến quả Phật kêu là trung-đạo chánh-đẳng chánh-giác vô-thượng, trung-đạo ấy là Tứ-Y-Pháp, vậy thì chúng ta nên phải thật-hành đúng y Tứ-Y-Pháp không nên viện lý lẽ gì bắc bẻ chi cho được.
Chơn-lý ví như mặt đất liền, đức Phật xưa cũng như một cây mít lớn, cây cái đó chết đi, người ta đem các nhánh là chư Tăng đệ-tử Phật đi gieo trồng khắp xứ lập thành các chi đạo Phật. Thuở xưa khi còn sanh tiền đức Phật cũng như một cây mít to xấu-xí lá u-nần mà trái thì thơm ngon béo ngọt, trái ấy là chư A-La-Hán đệ-tử đắc quả của Ngài, người ta kính trọng đệ-tử mà tôn kính ông thầy, cũng như người ta được ăn trái ngon ngọt mới gìn-giữ cội cây.
Từ ngày Phật tịch đến nay như cây đã chết, nhánh hột mọc lan tràn tứ phía, càng xa gốc càng biến đổi, càng khác đất phân, càng phai mùi vị, đạo Phật ngày nay không còn là cây mít quí mà là đám rừng mít lai, lai với sa-kê. Cây bây giờ rất tốt, lá bây giờ rất trơn, trái bây giờ thì bằng thẳng và ôi thôi dẫy đầy vô số không có mùi vị gì hết, của cả một thế-giới rừng cây ô-tạp.
Tình thế đạo Phật ngày nay cũng y như vậy, càng lớn rộng thì càng lu-mờ, đạo Phật ngày nay chỉ còn có tiếng đạo Phật mà thôi cũng như có vỏ trái mà không có hột, vì kẻ nói Tăng phần nhiều là Tăng danh lợi quả phần nhiều là quả âm-thinh, tu phần nhiều là tu sắc tướng, đạo Phật ngày nay đã ra đời nghĩa là đời rồi, chớ không còn đạo nữa. Mà tiếng Phật thì chỉ còn là cái hình vỏ để cho người ta cúng lạy tôn thờ lấy lệ, lắm kẻ lại lấy danh tướng Phật làm bia để cho được an thân no ấm thật là tội nghiệp, nếu ta thử tưởng-tượng đức Phật xưa là thân cây như có chết đi thì còn gốc rễ chơn-lý là mặt đất liền, Tứ-Y-Pháp là rễ cái còn sống nằm sâu trong đất, thời buổi nào có gió mưa khổ nạn làm cho đất ướt rễ mọc chồi con xa gốc cũ, chồi ấy do bốn rễ mọc lên cũng vì nạn khổ chết thấm nhuần mà có ai do Tứ-Y-Pháp trong chơn-lý hành đạo ra đời chắc là người ta cho là quái dị lắm, cũng như cái cây nhỏ nhít kia chẳng biết là cây gì đó.
Nhưng nếu người ta đừng chặt nhổ, để chờ xem thì mưa gió khổ nạn càng già, lá cây càng vượt mọc lên cao lớn, da cây sần sùi là nhám răng chia, xấu lạ và trái lại lởm-chởm gai chông. Lúc còn nhỏ bị các cây lớn rậm che bít lấp, chắc là nó ốm và cao nhờ bốn rễ cái mạnh nên lên cao mãi chen chúc nhô đầu vẹt bụi và khi cao hơn cây khác là nó sẽ tủa nhánh bung ra che lợp trở lại. Chừng ấy cây lá trái nhánh hoa mới là tươi tốt, trái nó chín thơm-tho ngon ngọt người ta ăn dung thích miệng khen ngon. Lúc đó chắc không còn ai chê ghét cái vỏ lá xấu-xa bên ngoài cây mít ấy, ắt sẽ nhìn nhận đặt tên cho nó là giống mít nòi và vì dùng ăn trái mà mến chuộng cây người ta bèn vun tưới ngăn rào, bảo giữ quí trọng săn-sóc.
Đạo Phật ngày hôm nay chỉ còn là hình bóng sắp tan hoại, nào ai có ngờ đạo Phật là phép tu tâm chớ đâu phải là nói hô-hào tông-giáo, người ta càng vun tỏa ra chừng nào là đạo Phật càng mất dạng chừng nấy. Cũng như người ta kia liệng một cục đá ngay giữa lòng ao, làn sóng dợn của nước càng túa lan rộng lớn ra ngoài xao-động lần lần tới mé bờ là yên-lặng, đạo Phật cũng y như thế, giáo-pháp ra khỏi Ấn-Độ tràn sang các nước khắp địa-cầu rồi thì sẽ không còn nữa. Lúc đạo Phật lan rộng ra ngoài là trong xứ Ấn-Độ tại chỗ gốc đã mất trước, cũng như làn nước chạy ra xa là ở tại chỗ cục đá không còn sóng nữa, thật vậy chỗ nào xao-động trước là sẽ yên-lặng trước mấy chỗ kia cũng như xứ Ấn-Độ đạo Phật mất trước các nước ngoài. Nhưng tuy đạo Phật mất như nước yên-lặng, chớ tại chỗ đó tam-tạng pháp-bảo của Tứ-Y-Pháp có bốn rễ Tứ-Y-Pháp hay hột giống chơn-như chánh-giác vẫn còn và sau nầy có mọc lại chỗ khác một vị Phật ở xứ khác hay là có lại một cục đá người ta liệng ở chỗ khác nữa.
Sự thay đổi phải như vậy!
Cảnh ngộ đã phải y như vậy, trách gì chúng ta sanh trong cõi đời trể muộn, loạn ly nầy sao không chán-nản, mà chán-nản thì biết phải làm sao hơn là phải lo tu, thương Phật, thương chúng-sanh, thương mình là phải lo tu. Cần tu không chán-nản, tu là cứu vãn cuộc đời, đạo Phật ngày hôm nay đã phải như một cái nhà ngói, vách tường nền đúc, cũ-kỹ rong-rêu, sập xiêu nứt bể, hang hố hôi dơ không còn là nơi chỗ c ho chúng-sanh nương tựa vì vậy mà bá-tánh mới lúm-khúm che lều xa xa rải-rác, tách lạc xa nhà, phân chia tông-giáo, nguy nan tánh mạng thế mà cũng có một số Tăng-chúng vẫn cò ngủ quên chưa thức dậy khiến cho nên kẻ ngoại đạo họ mới nói: Các vị ấy còn bởi say-sưa trong giấc chiêm-bao mà cho rằng, tu phải xe cộ guốc giày, tu thì phải mũ dù khăn lộng, tu thì phải quần hàng áo lụa, tu thì phải trấp rương tủ sắt, tu thì phải rượu thịt hằng ngày, tu thì phải nấu cơm làm mướn, tu thì phải giàu có vinh-quang, tu thì phải đừng xin ăn xấu-hổ, tu thì phải cải-cách tân-thời, tu thì phải nói cười la ó, tu thì phải đọc hát ngâm-nga, tu thì phải lìa xa y-bát, tu thì phải không cần giới-luật, tu thì phải lợi-danh quyền-thế, tu thì phải xem hát cờ bài, tu thì ố báng chia ranh v.v…Các sư ấy quên hẳn rằng, Phật khi xưa không có chút nào giống sự tu bây giờ đó cả (ai ai cũng nói vào cho như vậy).
Bồ-Tát đa-hạnh đức-hạnh nhiều chớ không phải phá giới phạm luật, vì tu y như Phật các sư ấy cho là khổ quá, không có ai sung-sướng lợi-lạc cho xác thân hiện tại mà chính mình là phải hưởng Niết-Bàn phước-lạc cho xác thân trong ngày hôm nay đã, rồi mai sau là sao sẽ hay quả thật như vậy! Các sư ấy cho rằng: Đạo Phật văn-minh đời mới phải như vậy bằng ai sái như vậy là tà đạo là nghịch là khác phái mà phỉ-báng đủ cách (lời của thiên-hạ phê-bình).
Cũng có kẻ lấy nê Đề-Bà-Đạt-Ma xin Phật năm điều, Ngài không cho mà ôm lòng ém tội! Xưa Đề-Bà-Đạt-Ma xin với Phật:
1) Các sư phải ở nơi rừng trọn đời.
2) Phải khất-thực mà ăn đến trọn đời.
3) Phải ăn một ngọ chay đến trọn đời.
4) Phải mặc y may bằng vải dơ lượm được đến trọn đời.
5) Phải tu gần cội cây đến trọn đời.
Chính năm điều của Đề-Bà-Đạt-Ma xin đấy là phép tinh-tấn mà Phật đang hành và chư Tăng có sức-khỏe cũng đang hành, năm điều nầy không phải là pháp của tiên gia ngoại đạo. Mà là năm phép tinh-tấn của trung-đạo, do sự tinh-tấn ấy mới đắc thiền-định phát thần-thông trí-huệ được, nhưng phép ấy ai hành được thi-hành bằng không được thì thôi hoặc lâu mau gì cũng được tùy theo sức chứ không ép buộc sợ Tăng-chúng theo không nổi vì có nhiều người già yếu bịnh hoạn hoặc có tật chướng của thế-gian khó mà theo được nhưng Phật lại khuyên đừng giải-đãi phải lấy Tứ-Y-Pháp làm gốc và Ngài thường bảo không mưa bịnh chớ ăn ngủ trong am cốc, chớ ăn hai bữa cơm một chỗ ngồi, chớ ngồi thiền hai lần một chỗ như vậy thì thiền-định được tinh-tấn không chán-nản. Những ai có tu thiền-định mới biết việc ấy rất cần, Đề-Bà-Đạt-Ma nhờ tu theo phép ấy mà đắc thần-thông, đức Phật và chư Tăng cũng hành tinh-tấn như vậy mới đắc thần-thông, thế nên đức Phật dạy rằng: Lúc đắc đạo cũng như lúc mới phát tâm cầu đạo sự cố-gắng tinh-tấn là kết-quả. Đành rằng Đề-Bà-Đạt-Ma là đệ-tử nghịch Phật lúc về sau, chớ lúc ấy lời Ngài xin không phải là quấy nhưng sự ép buộc thì e hạng thinh-văn theo không nổi chớ Phật và các vị A-La-Hán đều là bậc tinh-tấn hơn Đề-Bà-Đạt-Ma và cả lời xin đó nữa vậy và lúc gần đắc quả của mỗi người là cũng phải tinh-tấn như vậy. Vả lại sự tu-hành cũng phải tùy theo nhơn-duyên chớ buộc trọn đời là không được và nhà sư là còn phải độ chúng-sanh mà không phải lo cho mình không y như Để-Bà-Đạt-Ma tưởng. Cũng vì lời xin đó và cũng vì Tăng-chúng nhiều kẻ biếng lười nên đức Phật mới dạy truyền ra Tứ-Y-Pháp là trung-đạo khi đó Ngài mới nói với Đề-Bà-Đạt-Ma:
1) Nhà Sư được tu ở rừng, ở núi hoặc ở chùa tịnh-xá.
2) Phải khất-thực mà ăn, nhưng khi có thí-chủ thỉnh thì được phép đi dự trai-tăng.
3) Ăn chay ngọ, bằng bịnh yếu không nổi thì dùng tam-tịnh-nhục.
4) Phải mặc y may bằng vải dơ lượm được, nhưng khi có thí-chủ dâng cúng y thì được phép thọ lãnh mà mặc.
5) Cũng được phép tu ở tịnh-thất.
Theo lời Phật dạy đây là không có quở rầy hay bác lời xin của Đề-Bà-Đạt-Ma mà là nới rộng một chút, được có đông người nhập đạo, ai hành tinh-tấn thì tốt Ngài khen, như ông hoàng-tử Bạc-Đề mặc áo vá xấu, ở bọng cây, xin cơm hẩm đức Phật càng vừa lòng không phải quở rầy, miễn là đừng thái quá theo ngoại đạo chớ tinh-tấn là tốt. Chính đạo Phật là ở vườn rừng, chùa tịnh-xá chỉ bằng lá tre Phật xưa còn chết nơi rừng mà không ở núi non và thành-thị, Ngài không ở lâu-đài đi xe cộ cùng dù mũ dép giày, vua quan chức phận đi lại như thế. Thỉnh-thoảng hoặc Ngài có tới lui non núi cùng thị-thành chớ không ở luôn nơi ấy, mỗi buổi sáng Ngài đi khất-thực làm gương tinh-tấn cho đệ-tử, đôi khi thí-chủ cầu khẩn trai-tăng Ngài nể lòng thương mới nhận chớ Ngài không tư-vị ban phước cho một người mà bỏ sự đi khất-thực hóa-duyên số đông kẻ khác. Phật và Tăng xưa ở chòi lá, cốc hẹp tạm cho xác thân mặc áo đơn-giản thanh-bần vải bô choàn vấn hoặc sắc màu già, ăn dùng rau trái thảo mộc (ăn chay). Cũng có khi trong Tăng-chúng đau ốm Ngài cho phép dùng sữa cùng ăn thịt chết vì đó là hạng người tu Thinh-Văn chớ bậc Duyên-Giác và Bồ-Tát không dùng như thế.
Đời nay, người tu lẽ nào lấy nê ấy để ăn, dùng sữa thịt, mà nhận mình đang đau bịnh mãi sao? (Trang 321)
Thế mà có kẻ nói, cái gì Phật không cấm thì cứ dùng, nói như vậy thì đi tu là để tìm cái Phật chưa cấm mà hưởng hay sao? Phật khi xưa chết dọc đường, sao đời nay ta tu ở một chỗ. Tội sát-sanh là ác, dầu ai giết cũng như mình sao còn lại đi bào chữa cái ăn thịt, mà làm thầy thiên-hạ, tam-tịnh-nhục là thịt chết thây ma, tự nó chết, thịt thúi ấy có ăn được chăng? Còn thịt bị giết sao gọi là tam-tịnh-nhục được? Ai ăn thịt mà không quán-tưởng biết rằng thú. Còn cư-gia làm ác thì tội của ai, như vậy thì đâu có tam-tịnh-nhục mà ăn, vì thịt giết đâu phải là tam-tịnh-nhục; Lẽ nào Phật còn ác, Tăng còn ác mà dạy cư-gia làm ác, đi đốc xúi bào-chửa cho thêm dơ tội, mà chẳng phải là sự ém bỏ chữa sửa lại đi. Biết đâu gương ác hại xúi, kẻ dại giết nhau giặc-giả lớn lao đời nay là do tội của Tăng, Tăng dạy cư-gia cầm dao quen tay giết đó. Vì con không biết dạy là lỗi tại cha, dạy không nghiêm là lỗi tại thầy! Thì Tăng sao chẳng đi cản-ngăn giặc-giả mà cứu-độ cư-gia khi cư-gia lâm nạn vì ngày thường cư-gia trung-tín nuôi mình, như thế thì Tăng nỡ nào bỏ cư-gia khi hữu sự; Vì không cư-gia thì ai nuôi Tăng mà giặc đến thì Tăng cũng không sao còn sống nữa được.
Ấy vậy chúng ta nên nhớ rằng, tinh-tấn tốt hơn là giải-đãi và không đau thì chớ nên mượn cớ đánh lừa người, đã mắc tội với Phật-Pháp chúng-sanh, tội-lỗi với sự xuất-gia của mình nữa vậy. Vì xuất-gia là để tu-hành đắc quả đời nầy, chớ không phải như cư-gia tập tu nhiều kiếp và chúng ta nên nhớ rằng, tu quá, giới tốt hơn là thiếu giới.
Như vậy là đừng nên ở một chỗ giữ bạc tiền cùng là sự ăn dùng nung hậu mới gọi là thiện chánh hơn vậy.
Nếu như có nhà sư nói: “Sự hành-đạo phải do trình-độ của dân-tộc, thì dân-tộc Ấn-Độ xưa ăn thịt chẳng biết ăn rau, còn dân-tộc Á-Châu đã biết ăn rau sao Tăng ấy còn đi ăn thịt?”
Còn như nói đạo chưa phải lúc ban hành thì thời nay pháp học đã thạnh hành rồi sao chẳng có ai thật-hành đi cho đắc quả còn chờ chi nữa?
Cũng có người nói: “Tu phải theo xưa, mà theo xưa sao còn vật-chất của đời nay?”
Có người nói: “Tu phải theo nay đã theo nay sao vẫn còn giữ cái nghiệp tội của ngày xưa?”
Vậy thì chúng ta nên biết rằng: Đạo là xưa, xưa đúng phép là nay, nay hoàn-toàn chớ phải đâu lôi-thôi càng quấy và đúng hơn hết, đạo Phật là con đường giác-ngộ diệt khổ dứt luân-hồi đoạn nghiệp chớ không phải xưa hay nay gì cả; Bởi lúc nào mà chúng-sanh không phải là khổ nạn vì tham, sân, si tội-lỗi.
TÓM LẠI : Sở dĩ có bài Chánh-Pháp nầy là vì đời và đạo hôm nay không còn phải biết sao nói được nữa.
"Chánh Pháp" xuất hiện hôm nay, ắt không phải sớm hay muộn vì đã đến lúc mà chắc hẳn không còn ai khen hay chê, mừng hay giận thương hay ghét, buồn hay vui vì ai nấy cũng đều đang có tu, muốn tu tất cả. Bài nầy không phải của nhà sư đại-thừa hay tiểu-thừa mà là do giới-luật của Phật do các bậc khất-sĩ đã thật-hành chín-chắn Tứ-Y-Pháp chánh-đẳng chánh-giác chánh-ngộ.
Bản ý của bài nầy là chỉ rõ sự thống-nhứt Tăng-đồ nhà Phật trên thế-giới lại, để cứu-thế lập đạo Niết-Bàn hiện tại cho phải dịp, vì chỉ có tất cả chư Tăng hiệp lại mới lập đại-đồng cứu-thế nổi thôi, là đến lúc giáo-pháp cực lạc Niết-Bàn phải ban hành cho kịp, kẻo rồi đời và đạo không còn chi cả lại hối tiếc và nên phải biết rằng: Không có đại hay tiểu-thừa, không có chia rẽ hơn chi chi nữa mà là chỉ có cái đau khổ của tất cả kia thôi.
Sự thế đã phải như vậy thì nầy đây là chỗ hội hiệp của tất cả, chỗ cứu-độ tất cả chúng-sanh chỗ lập thành đạo Phật là: Không-không danh lợi đường chơn.
Pháp hành: Tứ-Y-Pháp chơn tu trung-đạo.
Tứ-Y-Pháp là chánh sự quí báu hơn hết. 
Đến Chân-Như đặng và đúng Chơn lý hơn hết
Tổ sư Minh Đăng Quang ; Patriarch Minh Dang Quang


Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
@@@

Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
Chánh Pháp 
Chánh Pháp là Pháp Phật của "Chánh Đẳng Chánh Giác"; cũng gọi tắt là "Pháp Phật Chánh-Giác"
Bồ Đề Đạt Ma 
Phương pháp chánh giác của Phật, có hai "chân giá trị" là:  phương pháp-học và phương pháp-hành !
Còn thực hành thì còn đạo, hết thực hành thì hết đạo, cho nên đời nay người ta gọi đời "mạt-pháp" là bởi có học, chớ không có hành. Nghĩa là người ta không có thật-hành đúng theo pháp chánh-giác của chư Phật nữa, tức là người ta hành theo tà-pháp, còn học thì học theo chánh-pháp. Tuy nói vậy, chớ người ta cũng không nhận sự học của người ta theo kinh-điển là chánh nữa vì người ta nói: “Xứ nầy không có Phật, và thời nầy là mạt-pháp, hết pháp rồi, kẻ đang tu học bây giờ đây là đạo riêng của mỗi người, chớ không phải đạo Phật nữa, người ta nói, đời nay kẻ tu đều là tà-đạo vậy”
Câu nói ấy, làm ai cũng buộc miệng trả lời cả: “Cái pháp tự nó đâu có hưng hay mạt, là chỉ tại nơi người làm mạt đó thôi, cũng như đạo đâu có bao giờ mất mà chỉ tại người bỏ đạo làm mất đó thôi!”
Thật vậy, người tà chớ đâu phải đạo không chánh, người mạt chớ đâu phải pháp không hưng! Chỉ tại người có học không hành, không tu là chẳng thành chớ sao gọi là hết pháp, không Phật. Chánh-pháp là sự sống hay giáo-lý của chúng-sanh đối với vạn-vật đúng theo chơn-lý.
Chơn-lý là lẽ thật trong võ-trụ, từ tứ-đại địa-cầu, sanh ra cỏ cây thú người Trời Phật lẽ thật ấy là tiến, là sống mà chánh-pháp của chư Phật là sự chỉ rõ cách tiến đến quả Phật cuối chót. Chơn-lý ấy bao giờ cũng hiển-nhiên nơi thế sự, ví như mặt đất liền chỗ sanh-sản ra chúng-sanh, chỉ tại kẻ giác-ngộ, cùng người chưa giác-ngộ chớ sao gọi là hết pháp. Vả lại pháp được chơn-chánh là tại chỗ thật-hành chớ nào phải chỉ có học mà không hành rồi sợ mang tiếng tà-đạo phải gọi là mạt-pháp, lời nói ấy là giết hại đạo Phật hủy báng Tam-Bảo mê hoặc chúng-sanh để chịu nghiệp trầm-luân khổ-sở. (Trang 311)
—Cái gì là chánh-pháp của chư Phật?
"Tứ-Y" Chánh Pháp, là phương pháp của chư Phật mười phương ba đời, là giáo lý: "Y-Bát" của Đạo Phật : Khất Sĩ, vậy!
TỨ-Y-PHÁP
Người tu xuất-gia: Chỉ ăn đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội thuyết-pháp được ăn tại chùa.
Người tu xuất-gia: Phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.
Người tu xuất-gia: Phải nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúng lều am nhỏ bằng lá, một cửa thì được ở.
Người tu xuất-gia: Chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.
Tứ-Y-Pháp là pháp xuất-gia, giải-thoát ra khỏi nhà ăn mặc ở bịnh của hang ma lầm lạc, mà sống đúng y theo chơn-lý của miếng ăn có sẵn trái rau, sự mặc có sẵn lá vỏ, chỗ ở có sẵn bộng hang, thuốc uống có sẵn nơi cây cỏ, của cổ-nhơn xưa, người chơn thật không hay vọng-động khổ-não. Tứ-Y-Pháp là pháp trung-đạo Chánh-Đẳng Chánh-Giác không thái-quá bất-cập, nhờ đó mà chư Phật mới đắc tâm thành Phật. Các Ngài khi vào xóm thì đi xin ăn và dạy lại người, khi ở rừng thì nhập-định chơn-như nín nghỉ, đức Phật nào cũng như thế, ngoài Tứ-Y-Pháp ra thì không phải đạo Phật, không giống chư Phật chư Tăng và không phải là giáo-pháp chánh-chơn của Phật. Vì vậy cho nên Tứ-Y-Pháp là đứng đầu trong tạng-luật và khi xưa kẻ mới tu xuất-gia nhập đạo thì Phật dạy cho Tứ-Y-Pháp trước hết và dạy cho biết đạo Phật là đạo Khất-Sĩ vậy.
Có làm Khất-Sĩ sống chung, học dạy chung lẫn nhau giữa ta và người thì mới thành bậc chánh-đẳng chánh-giác vô-thượng là Phật đặng và ngoài pháp bốn điều y ấy thì không có pháp nào thứ hai để dứt tham sân si được.
Tứ Y Pháp là gồm cả luật tạng, nên gọi là chánh pháp.
Tứ-Y-Pháp còn là đạo Phật còn.
Tứ-Y-Pháp mất là đạo Phật mất.
Ai hành sái Tứ-Y-Pháp tức là tà pháp.
Và thấy Tứ-Y-Pháp tức là thấy Phật hiện tại.
"Tứ-y pháp" là đạo Phật ! ! !
BỐN PHÁP THÁI-QUÁ
1) Nhịn đói không ăn.
2) Loã thể không mặc áo quần.
3) Phơi nắng dầm mưa giữa khoảng không.
4) Đau không uống thuốc liều mạng.
Bốn phép tu nầy của các vị tu tiên đạo Trời mà khi xưa đức Phật từng gặp nơi rừng Ấn-Độ, họ hành-phạt xác thân cho khổ để cầu sanh lên cõi Trời hưởng sự vui, họ tu bằng lòng ham muốn, ý mong dục, lòng kiêu mạng, chấp ta, mạnh-mẽ mà đức Phật cho đó là sự khổ, họ làm thêm sự khổ cho họ vì cái thái-quá là chẳng có bền, hết thích ưa thì nhàm chán ở một bên, rốt-ráo tinh-thần, không vật-chất thì có ngày sa-ngã cũng như kẻ trèo quá cao thì sẽ mỏi chân té ngã, cũng như dây đờn thẳng quá sẽ đứt.
Chư Tiên ở cõi Trời không lâu là cũng vì lẽ ấy nên có ngày sa-đọa; Kẻ hành thái-quá có khác nào người tự-vận liều mình, thì kẻ đó có được yên vui bao giờ hơn nữa họ làm cho người ta phải cực lòng năn-nỉ chiều-chuộng hoặc sự vì thấy lạ mà người xúm đông khoe hay, khen giỏi hoặc là âm-mưu vụ-lợi chi đó gạt-gẫm người ta. Người hành thái-quá để rồi bất-cập hết cái tột cao rồi tột thấp, trong tâm không bao giờ yên-lặng tự-nhiên bền vững, việc làm ấy cũng như kẻ bị lửa đốt. Pháp tu ấy thật rất thiện rất cao không phải là trung-đạo giải-thoát khổ được và cái cao ấy có ngày phải gãy mà không ai theo nổi. Bốn pháp thái-quá làm hư tâm-trí nên đối với đức Phật đạo Niết-Bàn thì cho là kém sự giác-ngộ, còn ở một bên lề chớ chưa phải là đạo chơn, chánh giữa mặc dù kẻ tu ấy cũng là thiện chớ không phải ác, nhưng vì chấp thiện mà phải khổ thì không gọi là yên vui được.
BỐN PHÁP BẤT-CẬP
1) Ăn nhiều bữa nhiều món chấp vị ngon.
2) Mặc áo quần chưng diện đủ thứ.
3) Ở nhà ngói, lâu đài, xe cộ sang trọng.
4) Không đau mà trữ sẵn thuốc uống, bổ-dưỡng luôn luôn.
Bốn pháp nầy là của hàng nhơn-loại không tu, dung dưỡng; Bốn pháp bất-cập của thế-gian làm cho tâm-trí hư tệ ham danh lợi mà ác, tham vui mà khổ, sợ cực-nhọc mà hư, họ là kẻ vô-dụng chỉ mong sự hưởng phước, hết phước rồi tạo tội, kẻ ấy bị vật-chất chôn lấp nhận đè ra không khỏi, ở trong bốn vách tứ-sự ăn mặc ở bịnh như người tội, thúi hôi, dơ-dáy, ngộp hơi, khổ-não mà còn bị tai-họa liên-miên, ấy là vũng sình lầy trần-thế, ở một bên lề đạo, chẳng phải là con đường cao ráo sạch-sẽ yên vui sáng-lạng của bậc giác-ngộ vậy.
Pháp thái-quá tột cao.
Pháp bất-cập tột thấp.
Hai pháp ấy tương-đối cùng nhau gọi thiên-đường và địa-ngục, chẳng phải là bậc trung yên nghỉ được của người giác-ngộ, nên không phải là đạo Phật.
Hai pháp hai bên lề ấy là chỗ chạy nhảy leo-trèo của người lớn nhỏ, chớ chưa phải là nơi yên nghỉ của ông già cũng như vua quan giàu sang, với tội dân nghèo khó hai lớp ấy là khổ chớ chưa phải là trung-đạo, yên vui đứng vững và cũng đó là đạo riêng, giáo-lý riêng chớ không phải là đạo của tất cả chúng-sanh nuơng theo được, học theo được.
Con đường mà tất cả chúng-sanh nương theo học theo phải là mực trung, có kẻ trên người dưới, đều lên xuống ở nghỉ được, mới gọi là con đường của tất cả, hạp với tất cả. Vậy thì thái-quá bất-cập là nguyên-nhân của sự luân-hồi sanh-tử khổ, tức là chưa phải là chánh-pháp vậy; Thế nên đức Phật khi xưa mới chỉ ra chánh-pháp là pháp-hành đúng theo Tứ-Y-Pháp trung-đạo, Ngài và chư Tăng đều hành theo Tứ-Y-Pháp lúc đầu chớ không có giới-luật chi cả, vì hiểu nơi Tứ-Y-Pháp tức là tự mình hiểu, nơi giới-luật có là lúc sau nầy đệ-tử quá đông nhiều không hiểu đạo làm sái quấy Ngài mới bày ra giới-luật răn phạt kẻ không nghiêm, chớ Tứ-Y-Pháp mà ai thật-hành đúng và thấu đạt cả ý nghĩa tức là đắc đạo vậy.
Chư Phật đắc đạo là do Tứ-Y-Pháp
Chư Tăng đắc quả là do Tứ-Y-Pháp
Pháp-bảo là giáo-lý của Tứ-Y-Pháp
Khi xưa chư A-La –Hán có vị đắc quả bằng Tứ-Y-Pháp mà trọn đời không được nghe Phật thuyết-pháp giảng-dạy một câu: Ấy vậy ai hành đúng theo Tứ-Y-Pháp tức là đúng theo chánh-pháp của chư Phật ba đời là giáo-lý Y-bát chơn-truyền vậy. Mà kẻ thật-hành thì phải giữ được từ mười giới, một cái bát để xin ăn và một bộ áo ba cái đủ che tân thoi; Vì có giải-thoát vật-chất tứ-sự mới di được khắp nơi, sống cùng tất cả mà trau tâm dồi trí nên người được, như vậy con người rảnh-rang không bị buộc ràng vì vật-chất mới làm nên việc hơn đời được, trong Tứ-Y-Pháp có chứa mười giới nầy:
1. Không sát-sanh
2. Không trộm-cắp.
3. Không dâm-dục.
4. Không nói dối, khoe khoang, đâm thọc, rủa chửi.
5. Không uống rượu say sưa, vì tham-lam, sân-giận, si-mê.
6. Không ngồi nằm ghế giường cao rộng chiếu lớn chỗ xinh đẹp.
7. Không nghe xem hát múa, đờn, kèn, chỗ vui đông yến tiệc
8. Không trang-điểm phấn son, dầu hoa và áo quần tươi tốt.
9. Không ăn sái giờ (từ quá ngọ tới ngọ mai, ăn chay).
10. Không rớ đến tiền bạc vàng của quí đồ trang sức.
Không làm vua quan giàu sang, cũng không làm tội dân nghèo khó phải đi khất xin ăn tu học…Tứ-Y-Pháp là pháp giải-thoát nuôi tâm tu học, chớ không phải khổ hạnh hay dung-dưỡng sung-sướng...
Tứ-Y-Pháp là kho tạng kinh, kho tạng luận và kho tạng luật! ai có thật-hành rồi mới được thấu hiểu.
Đời nay nếu có người nào chỉ học mà không tu, không nỡ lìa xa danh lợi, bỏ Tứ-Y-Pháp tức là bỏ giới-luật bỏ đạo Phật rồi, thì kinh-luận ngoài môi chót lưỡi, có ăn thua gì đâu. Người lại cho rằng: Đạo Phật phải cải-cách theo phong-tục mà người quên rằng, đã là phong-tục tại sao đạo Phật theo, mà sao phong-tục lại không theo đạo Phật? Người đó bỏ Tứ-Y-Pháp, sửa đổi giới-luật chế biến đạo Phật người hơn Phật rồi thì đâu còn đạo Phật nữa. Người ấy làm biểu tướng đạo Phật bề ngoài mà bên trong là hại đạo Phật, không hành theo chánh-giác của chư Phật thì những lời nói chữ viết của người, có đúng với đạo Phật được đâu? Mà có ai lại chẳng binh-vực giáo-lý riêng tật xấu chỗ sai của mình mà cho rằng mình phải mãi? Vì vậy mà khi xưa Phật có dặn về sau chúng-sanh chớ tin lời nói chữ viết của ai mà gọi là của Ngài, nghe xem phải xét cho đúng lý rồi sẽ tin. Chỉ có con sâu của lông sư-tử mới ăn thịt sư-tử thôi nghĩa là những kẻ xưng mình đệ-tử Phật, bênh Phật bằng ý riêng của họ mới là kẻ hại đạo vậy. Như thế thì đạo Phật không đặng sửa đổi, nếu sửa đổi thì không còn đạo Phật, không còn gọi là qui-y Phật, qui-y Pháp, qui-y Tăng tức kẻ ấy giết đạo Phật vậy.
Cũng như dạo Phật xưa là đạo Khất-Sĩ kẻ xuất-gia mới gọi là nhập đạo, đời nay lại có người tại gia cứ ngỡ mình là con trưởng của Phật mà khinh thường Tăng chúng, tưởng như xưa kia đức Phật cũng tại gia cư-sĩ như mình.
Con đường khất-sĩ đi đến quả Phật kêu là trung-đạo chánh-đẳng chánh-giác vô-thượng, trung-đạo ấy là Tứ-Y-Pháp, vậy thì chúng ta nên phải thật-hành đúng y Tứ-Y-Pháp không nên viện lý lẽ gì bắc bẻ chi cho được.
Chơn-lý ví như mặt đất liền, đức Phật xưa cũng như một cây mít lớn, cây cái đó chết đi, người ta đem các nhánh là chư Tăng đệ-tử Phật đi gieo trồng khắp xứ lập thành các chi đạo Phật. Thuở xưa khi còn sanh tiền đức Phật cũng như một cây mít to xấu-xí lá u-nần mà trái thì thơm ngon béo ngọt, trái ấy là chư A-La-Hán đệ-tử đắc quả của Ngài, người ta kính trọng đệ-tử mà tôn kính ông thầy, cũng như người ta được ăn trái ngon ngọt mới gìn-giữ cội cây.
Từ ngày Phật tịch đến nay như cây đã chết, nhánh hột mọc lan tràn tứ phía, càng xa gốc càng biến đổi, càng khác đất phân, càng phai mùi vị, đạo Phật ngày nay không còn là cây mít quí mà là đám rừng mít lai, lai với sa-kê. Cây bây giờ rất tốt, lá bây giờ rất trơn, trái bây giờ thì bằng thẳng và ôi thôi dẫy đầy vô số không có mùi vị gì hết, của cả một thế-giới rừng cây ô-tạp.
Tình thế đạo Phật ngày nay cũng y như vậy, càng lớn rộng thì càng lu-mờ, đạo Phật ngày nay chỉ còn có tiếng đạo Phật mà thôi cũng như có vỏ trái mà không có hột, vì kẻ nói Tăng phần nhiều là Tăng danh lợi quả phần nhiều là quả âm-thinh, tu phần nhiều là tu sắc tướng, đạo Phật ngày nay đã ra đời nghĩa là đời rồi, chớ không còn đạo nữa. Mà tiếng Phật thì chỉ còn là cái hình vỏ để cho người ta cúng lạy tôn thờ lấy lệ, lắm kẻ lại lấy danh tướng Phật làm bia để cho được an thân no ấm thật là tội nghiệp, nếu ta thử tưởng-tượng đức Phật xưa là thân cây như có chết đi thì còn gốc rễ chơn-lý là mặt đất liền, Tứ-Y-Pháp là rễ cái còn sống nằm sâu trong đất, thời buổi nào có gió mưa khổ nạn làm cho đất ướt rễ mọc chồi con xa gốc cũ, chồi ấy do bốn rễ mọc lên cũng vì nạn khổ chết thấm nhuần mà có ai do Tứ-Y-Pháp trong chơn-lý hành đạo ra đời chắc là người ta cho là quái dị lắm, cũng như cái cây nhỏ nhít kia chẳng biết là cây gì đó.
Nhưng nếu người ta đừng chặt nhổ, để chờ xem thì mưa gió khổ nạn càng già, lá cây càng vượt mọc lên cao lớn, da cây sần sùi là nhám răng chia, xấu lạ và trái lại lởm-chởm gai chông. Lúc còn nhỏ bị các cây lớn rậm che bít lấp, chắc là nó ốm và cao nhờ bốn rễ cái mạnh nên lên cao mãi chen chúc nhô đầu vẹt bụi và khi cao hơn cây khác là nó sẽ tủa nhánh bung ra che lợp trở lại. Chừng ấy cây lá trái nhánh hoa mới là tươi tốt, trái nó chín thơm-tho ngon ngọt người ta ăn dung thích miệng khen ngon. Lúc đó chắc không còn ai chê ghét cái vỏ lá xấu-xa bên ngoài cây mít ấy, ắt sẽ nhìn nhận đặt tên cho nó là giống mít nòi và vì dùng ăn trái mà mến chuộng cây người ta bèn vun tưới ngăn rào, bảo giữ quí trọng săn-sóc.
Đạo Phật ngày hôm nay chỉ còn là hình bóng sắp tan hoại, nào ai có ngờ đạo Phật là phép tu tâm chớ đâu phải là nói hô-hào tông-giáo, người ta càng vun tỏa ra chừng nào là đạo Phật càng mất dạng chừng nấy. Cũng như người ta kia liệng một cục đá ngay giữa lòng ao, làn sóng dợn của nước càng túa lan rộng lớn ra ngoài xao-động lần lần tới mé bờ là yên-lặng, đạo Phật cũng y như thế, giáo-pháp ra khỏi Ấn-Độ tràn sang các nước khắp địa-cầu rồi thì sẽ không còn nữa. Lúc đạo Phật lan rộng ra ngoài là trong xứ Ấn-Độ tại chỗ gốc đã mất trước, cũng như làn nước chạy ra xa là ở tại chỗ cục đá không còn sóng nữa, thật vậy chỗ nào xao-động trước là sẽ yên-lặng trước mấy chỗ kia cũng như xứ Ấn-Độ đạo Phật mất trước các nước ngoài. Nhưng tuy đạo Phật mất như nước yên-lặng, chớ tại chỗ đó tam-tạng pháp-bảo của Tứ-Y-Pháp có bốn rễ Tứ-Y-Pháp hay hột giống chơn-như chánh-giác vẫn còn và sau nầy có mọc lại chỗ khác một vị Phật ở xứ khác hay là có lại một cục đá người ta liệng ở chỗ khác nữa.
Sự thay đổi phải như vậy!
Cảnh ngộ đã phải y như vậy, trách gì chúng ta sanh trong cõi đời trể muộn, loạn ly nầy sao không chán-nản, mà chán-nản thì biết phải làm sao hơn là phải lo tu, thương Phật, thương chúng-sanh, thương mình là phải lo tu. Cần tu không chán-nản, tu là cứu vãn cuộc đời, đạo Phật ngày hôm nay đã phải như một cái nhà ngói, vách tường nền đúc, cũ-kỹ rong-rêu, sập xiêu nứt bể, hang hố hôi dơ không còn là nơi chỗ c ho chúng-sanh nương tựa vì vậy mà bá-tánh mới lúm-khúm che lều xa xa rải-rác, tách lạc xa nhà, phân chia tông-giáo, nguy nan tánh mạng thế mà cũng có một số Tăng-chúng vẫn cò ngủ quên chưa thức dậy khiến cho nên kẻ ngoại đạo họ mới nói: Các vị ấy còn bởi say-sưa trong giấc chiêm-bao mà cho rằng, tu phải xe cộ guốc giày, tu thì phải mũ dù khăn lộng, tu thì phải quần hàng áo lụa, tu thì phải trấp rương tủ sắt, tu thì phải rượu thịt hằng ngày, tu thì phải nấu cơm làm mướn, tu thì phải giàu có vinh-quang, tu thì phải đừng xin ăn xấu-hổ, tu thì phải cải-cách tân-thời, tu thì phải nói cười la ó, tu thì phải đọc hát ngâm-nga, tu thì phải lìa xa y-bát, tu thì phải không cần giới-luật, tu thì phải lợi-danh quyền-thế, tu thì phải xem hát cờ bài, tu thì ố báng chia ranh v.v…Các sư ấy quên hẳn rằng, Phật khi xưa không có chút nào giống sự tu bây giờ đó cả (ai ai cũng nói vào cho như vậy).
Bồ-Tát đa-hạnh đức-hạnh nhiều chớ không phải phá giới phạm luật, vì tu y như Phật các sư ấy cho là khổ quá, không có ai sung-sướng lợi-lạc cho xác thân hiện tại mà chính mình là phải hưởng Niết-Bàn phước-lạc cho xác thân trong ngày hôm nay đã, rồi mai sau là sao sẽ hay quả thật như vậy! Các sư ấy cho rằng: Đạo Phật văn-minh đời mới phải như vậy bằng ai sái như vậy là tà đạo là nghịch là khác phái mà phỉ-báng đủ cách (lời của thiên-hạ phê-bình).
Cũng có kẻ lấy nê Đề-Bà-Đạt-Ma xin Phật năm điều, Ngài không cho mà ôm lòng ém tội! Xưa Đề-Bà-Đạt-Ma xin với Phật:
1) Các sư phải ở nơi rừng trọn đời.
2) Phải khất-thực mà ăn đến trọn đời.
3) Phải ăn một ngọ chay đến trọn đời.
4) Phải mặc y may bằng vải dơ lượm được đến trọn đời.
5) Phải tu gần cội cây đến trọn đời.
Chính năm điều của Đề-Bà-Đạt-Ma xin đấy là phép tinh-tấn mà Phật đang hành và chư Tăng có sức-khỏe cũng đang hành, năm điều nầy không phải là pháp của tiên gia ngoại đạo. Mà là năm phép tinh-tấn của trung-đạo, do sự tinh-tấn ấy mới đắc thiền-định phát thần-thông trí-huệ được, nhưng phép ấy ai hành được thi-hành bằng không được thì thôi hoặc lâu mau gì cũng được tùy theo sức chứ không ép buộc sợ Tăng-chúng theo không nổi vì có nhiều người già yếu bịnh hoạn hoặc có tật chướng của thế-gian khó mà theo được nhưng Phật lại khuyên đừng giải-đãi phải lấy Tứ-Y-Pháp làm gốc và Ngài thường bảo không mưa bịnh chớ ăn ngủ trong am cốc, chớ ăn hai bữa cơm một chỗ ngồi, chớ ngồi thiền hai lần một chỗ như vậy thì thiền-định được tinh-tấn không chán-nản. Những ai có tu thiền-định mới biết việc ấy rất cần, Đề-Bà-Đạt-Ma nhờ tu theo phép ấy mà đắc thần-thông, đức Phật và chư Tăng cũng hành tinh-tấn như vậy mới đắc thần-thông, thế nên đức Phật dạy rằng: Lúc đắc đạo cũng như lúc mới phát tâm cầu đạo sự cố-gắng tinh-tấn là kết-quả. Đành rằng Đề-Bà-Đạt-Ma là đệ-tử nghịch Phật lúc về sau, chớ lúc ấy lời Ngài xin không phải là quấy nhưng sự ép buộc thì e hạng thinh-văn theo không nổi chớ Phật và các vị A-La-Hán đều là bậc tinh-tấn hơn Đề-Bà-Đạt-Ma và cả lời xin đó nữa vậy và lúc gần đắc quả của mỗi người là cũng phải tinh-tấn như vậy. Vả lại sự tu-hành cũng phải tùy theo nhơn-duyên chớ buộc trọn đời là không được và nhà sư là còn phải độ chúng-sanh mà không phải lo cho mình không y như Để-Bà-Đạt-Ma tưởng. Cũng vì lời xin đó và cũng vì Tăng-chúng nhiều kẻ biếng lười nên đức Phật mới dạy truyền ra Tứ-Y-Pháp là trung-đạo khi đó Ngài mới nói với Đề-Bà-Đạt-Ma:
1) Nhà Sư được tu ở rừng, ở núi hoặc ở chùa tịnh-xá.
2) Phải khất-thực mà ăn, nhưng khi có thí-chủ thỉnh thì được phép đi dự trai-tăng.
3) Ăn chay ngọ, bằng bịnh yếu không nổi thì dùng tam-tịnh-nhục.
4) Phải mặc y may bằng vải dơ lượm được, nhưng khi có thí-chủ dâng cúng y thì được phép thọ lãnh mà mặc.
5) Cũng được phép tu ở tịnh-thất.
Theo lời Phật dạy đây là không có quở rầy hay bác lời xin của Đề-Bà-Đạt-Ma mà là nới rộng một chút, được có đông người nhập đạo, ai hành tinh-tấn thì tốt Ngài khen, như ông hoàng-tử Bạc-Đề mặc áo vá xấu, ở bọng cây, xin cơm hẩm đức Phật càng vừa lòng không phải quở rầy, miễn là đừng thái quá theo ngoại đạo chớ tinh-tấn là tốt. Chính đạo Phật là ở vườn rừng, chùa tịnh-xá chỉ bằng lá tre Phật xưa còn chết nơi rừng mà không ở núi non và thành-thị, Ngài không ở lâu-đài đi xe cộ cùng dù mũ dép giày, vua quan chức phận đi lại như thế. Thỉnh-thoảng hoặc Ngài có tới lui non núi cùng thị-thành chớ không ở luôn nơi ấy, mỗi buổi sáng Ngài đi khất-thực làm gương tinh-tấn cho đệ-tử, đôi khi thí-chủ cầu khẩn trai-tăng Ngài nể lòng thương mới nhận chớ Ngài không tư-vị ban phước cho một người mà bỏ sự đi khất-thực hóa-duyên số đông kẻ khác. Phật và Tăng xưa ở chòi lá, cốc hẹp tạm cho xác thân mặc áo đơn-giản thanh-bần vải bô choàn vấn hoặc sắc màu già, ăn dùng rau trái thảo mộc (ăn chay). Cũng có khi trong Tăng-chúng đau ốm Ngài cho phép dùng sữa cùng ăn thịt chết vì đó là hạng người tu Thinh-Văn chớ bậc Duyên-Giác và Bồ-Tát không dùng như thế.
Đời nay, người tu lẽ nào lấy nê ấy để ăn, dùng sữa thịt, mà nhận mình đang đau bịnh mãi sao? (Trang 321)
Thế mà có kẻ nói, cái gì Phật không cấm thì cứ dùng, nói như vậy thì đi tu là để tìm cái Phật chưa cấm mà hưởng hay sao? Phật khi xưa chết dọc đường, sao đời nay ta tu ở một chỗ. Tội sát-sanh là ác, dầu ai giết cũng như mình sao còn lại đi bào chữa cái ăn thịt, mà làm thầy thiên-hạ, tam-tịnh-nhục là thịt chết thây ma, tự nó chết, thịt thúi ấy có ăn được chăng? Còn thịt bị giết sao gọi là tam-tịnh-nhục được? Ai ăn thịt mà không quán-tưởng biết rằng thú. Còn cư-gia làm ác thì tội của ai, như vậy thì đâu có tam-tịnh-nhục mà ăn, vì thịt giết đâu phải là tam-tịnh-nhục; Lẽ nào Phật còn ác, Tăng còn ác mà dạy cư-gia làm ác, đi đốc xúi bào-chửa cho thêm dơ tội, mà chẳng phải là sự ém bỏ chữa sửa lại đi. Biết đâu gương ác hại xúi, kẻ dại giết nhau giặc-giả lớn lao đời nay là do tội của Tăng, Tăng dạy cư-gia cầm dao quen tay giết đó. Vì con không biết dạy là lỗi tại cha, dạy không nghiêm là lỗi tại thầy! Thì Tăng sao chẳng đi cản-ngăn giặc-giả mà cứu-độ cư-gia khi cư-gia lâm nạn vì ngày thường cư-gia trung-tín nuôi mình, như thế thì Tăng nỡ nào bỏ cư-gia khi hữu sự; Vì không cư-gia thì ai nuôi Tăng mà giặc đến thì Tăng cũng không sao còn sống nữa được.
Ấy vậy chúng ta nên nhớ rằng, tinh-tấn tốt hơn là giải-đãi và không đau thì chớ nên mượn cớ đánh lừa người, đã mắc tội với Phật-Pháp chúng-sanh, tội-lỗi với sự xuất-gia của mình nữa vậy. Vì xuất-gia là để tu-hành đắc quả đời nầy, chớ không phải như cư-gia tập tu nhiều kiếp và chúng ta nên nhớ rằng, tu quá, giới tốt hơn là thiếu giới.
Như vậy là đừng nên ở một chỗ giữ bạc tiền cùng là sự ăn dùng nung hậu mới gọi là thiện chánh hơn vậy.
Nếu như có nhà sư nói: “Sự hành-đạo phải do trình-độ của dân-tộc, thì dân-tộc Ấn-Độ xưa ăn thịt chẳng biết ăn rau, còn dân-tộc Á-Châu đã biết ăn rau sao Tăng ấy còn đi ăn thịt?”
Còn như nói đạo chưa phải lúc ban hành thì thời nay pháp học đã thạnh hành rồi sao chẳng có ai thật-hành đi cho đắc quả còn chờ chi nữa?
Cũng có người nói: “Tu phải theo xưa, mà theo xưa sao còn vật-chất của đời nay?”
Có người nói: “Tu phải theo nay đã theo nay sao vẫn còn giữ cái nghiệp tội của ngày xưa?”
Vậy thì chúng ta nên biết rằng: Đạo là xưa, xưa đúng phép là nay, nay hoàn-toàn chớ phải đâu lôi-thôi càng quấy và đúng hơn hết, đạo Phật là con đường giác-ngộ diệt khổ dứt luân-hồi đoạn nghiệp chớ không phải xưa hay nay gì cả; Bởi lúc nào mà chúng-sanh không phải là khổ nạn vì tham, sân, si tội-lỗi.
TÓM LẠI : Sở dĩ có bài Chánh-Pháp nầy là vì đời và đạo hôm nay không còn phải biết sao nói được nữa.
"Chánh Pháp" xuất hiện hôm nay, ắt không phải sớm hay muộn vì đã đến lúc mà chắc hẳn không còn ai khen hay chê, mừng hay giận thương hay ghét, buồn hay vui vì ai nấy cũng đều đang có tu, muốn tu tất cả. Bài nầy không phải của nhà sư đại-thừa hay tiểu-thừa mà là do giới-luật của Phật do các bậc khất-sĩ đã thật-hành chín-chắn Tứ-Y-Pháp chánh-đẳng chánh-giác chánh-ngộ.
Bản ý của bài nầy là chỉ rõ sự thống-nhứt Tăng-đồ nhà Phật trên thế-giới lại, để cứu-thế lập đạo Niết-Bàn hiện tại cho phải dịp, vì chỉ có tất cả chư Tăng hiệp lại mới lập đại-đồng cứu-thế nổi thôi, là đến lúc giáo-pháp cực lạc Niết-Bàn phải ban hành cho kịp, kẻo rồi đời và đạo không còn chi cả lại hối tiếc và nên phải biết rằng: Không có đại hay tiểu-thừa, không có chia rẽ hơn chi chi nữa mà là chỉ có cái đau khổ của tất cả kia thôi.
Sự thế đã phải như vậy thì nầy đây là chỗ hội hiệp của tất cả, chỗ cứu-độ tất cả chúng-sanh chỗ lập thành đạo Phật là: Không-không danh lợi đường chơn.
Pháp hành: Tứ-Y-Pháp chơn tu trung-đạo.
Tứ-Y-Pháp là chánh sự quí báu hơn hết. 
Đến Chân-Như đặng và đúng Chơn lý hơn hết
Tổ sư Minh Đăng Quang
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét