Thứ Tư, tháng 10 09, 2013

24. Tông Giáo ; Apostolic Church

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 24
Practice self-taught English translation: No. 24
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 
Thực hành đọc Chơn lý ; Practice reading Truth
Tông Giáo
Apostolic Church
( Trang 358-375 ; Pages 358-375 )
Khi xưa đức Phật sanh tiền,
Thì Ngài chỉ dạy đạo lý,
Cho chúng sanh tu,
Bấy giờ đạo Phật còn là thời pháp lý,
Giáo lý hay là Triết lý,
Cũng như một cội cây,
Gốc cái còn và các nhánh,
Đều sống nương theo mẹ mình,
Tăng chúng tuy chia đông ra nhiều Giáo hội,
Mà vẫn quy hợp về theo Phật
Nên cách tu học không có sửa đổi chi cả,
Người ta gọi đó là thời chánh pháp,
Từ ngày Phật tịch cho đến nay
Tăng chúng chia lìa, phân chia tông giáo,
Cũng như các nhánh cây, mất thân mình mẹ,
Bị chiết lạc đem trồng mỗi nơi,
Tùy phong thổ mà biến đổi,
Không còn tánh chất giống y như hồi nguyên xưa nữa,
Đối với Phật khi xưa,
Đạo là con đường giác ngộ,
Chớ không gọi tên là đạo chi cả,
Các giáo pháp Ngài nói ra y theo Chơn lý,
Chớ không gọi tên là giáo pháp chi cả,
Đạo pháp có là do nhân duyên,
Không lường đếm, chớ không phải một hay hai nhứt định,
Hoặc giữ hoài một việc,
Nhờ vậy mà Tăng chúng của Phật,
Học hành rộng rãi, uyên thâm, không còn sở chấp,
Bấy giờ đạo Phật là đạo của tất cả,
Giáo pháp của Phật là Giáo pháp của tất cả,
Phật không chia rẽ đạo giáo nào,
Ngài không cạnh tranh với ai hết,
Ngài không chê bai chỉ trích một ai,
Trong các đẳng cấp ai muốn đi,
Xuất gia nhập đạo theo Ngài cũng được,
Ngài chỉ giữ riêng một lớp dạy
Bậc xuất gia khất sĩ mà thôi,
Ngài không thâu nạp, người tại gia cư sĩ, làm trong đệ tử,

Không có tranh giành, choán, tín đồ của tông giáo.; No struggle, displacement, fanatic of religion.
Cư-gia ai theo đạo nào cũng được, kẻ cư-gia nào có lòng tin-tưởng Ngài, thì Ngài khuyên người ấy hãy tập lần noi gương về y theo Phật, Pháp, Tăng đó mà đi tới và nên giữ lần từ năm giới, tám giới để bước lần lên mười giới tập xuất-gia. Người cư-sĩ chỉ có tâm qui-y Tam-Bảo tập xuất-gia giải-thoát theo Phật Tăng là gọi tâm theo Phật, chớ năm giới, tám giới còn là bậc chư thiên cõi Trời, là người thiện nhơn y như các tông-giáo, chưa được ở trong đạo khất-sĩ giải-thoát của Phật Tăng, chưa được ở gần bên Phật! Giới-luật của Tăng là bức tường hàng rào đón ngăn giữa sự xuất-gia và tại-gia không cho chung lộn. Người tại-gia như còn ở ngoài hàng rào, chỉ có kẻ xuất-gia nhập đạo mới là được ở trong hàng rào, trong đạo theo hầu bên Phật. Khi xưa, mặc dầu là Phật dạy Tăng coi sóc cho Tăng, Tăng đi khít bên Phật thế mà Phật không nhận một ai là đệ-tử của Ngài, vì đối với cái đạo của chư Phật, Ngài là người thay thế dạy bảo dùm thôi, Ngài không xưng thầy, Ngài không gọi học-trò, Ngài dứt bỏ cái ta và của ta trói buộc, Ngài cũng chưa chắc tin một người đệ-tử nào là sẽ theo đúng y như Ngài và Tăng-chúng cũng không ai dám xưng gọi thầy tôi, tôi là đệ-tử Phật vì sợ mình không giữ nổi đạo-hạnh y như Phật là hư tiếng Phật. Mặc dầu giáo-lý thì nói rộng để khuyến-khích cư-gia hay Tăng-chúng, Phật gọi chung là tứ-chúng. Hai bên xuất-gia nam nữ là đệ-tử Phật, hai bậc tại-gia nam nữ là thiện-tín Phật, Phật khuyên cư-gia nên phải xuất-gia và Tăng-chúng là thầy của cư-sĩ, vì Tăng-chúng như học-trò học ở trong trường. Còn cư-gia là còn đang tập học, còn ở bên ngoài đời tội-lỗi, cư-sĩ ngày xưa theo Tăng chớ không theo Phật nhảy cấp, cư-sĩ ngó ngay mục-đích của Phật mà theo thì phải nương theo Tăng vì Tăng là nấc thang gần trên cho cư-sĩ (có cư-gia mới giúp Tăng Sư sự ăn mặc ở bịnh, nhờ đó các Sư mới dễ tu-học). Tăng chúng còn là đạo Phật còn, mà Tăng-chúng còn là do cư-sĩ, vậy nên cư-sĩ cũng có công lớn với Đạo-Phật, về bên duy-vật tài thí hộ đạo. Nhờ công-đức đó mà để được xuất-gia về sau, nghĩa là sau nầy tu tới mãi cũng sẽ được thành Phật, sau theo Tăng-chúng.
Phật xưa gọi tứ-chúng là kẻ vòng trong, vòng ngoài trong mỗi khi thuyết-pháp, nên gọi tứ-chúng là kẻ Thinh-Văn, Thính-Pháp Văn-Kinh, nhưng trái lại Tăng-chúng không ai dám tự-cao mà xưng mình là đệ-tử Phật. Vì đức Phật là đấng hoàn-toàn cao-viễn quá, còn Tăng-chúng thì ít kẻ diệt được phàm-tâm, hơn nữa cư-gia lại cũng khiêm-nhường không dám gọi mình là đệ-tử của các Sư, vì các Sư phần nhiều chứng quả Thánh, còn cư-gia thì đang bị lấm-lem dơ nặng, chỉ có Sa-Di tập xuất-gia theo khít bên Tăng mới tạm gọi là đệ-tử của Tăng thôi, chớ cư-gia chỉ nhận mình là thiện-tín chung, chưa dám chịu làm đệ-tử riêng một vị Sư vì bởi cư-gia chưa thật-hành giống y theo Tăng Sư được.
Như thế là tránh cho Tăng Sư khỏi mang tiếng” giáo bất nghiêm sư chi đọa” Cư-gia cũng có thể là tín-đồ của các tông-giáo ngoài đạo-Phật nữa vì cư-gia còn là người ở trong cảnh thế, còn mắc phải xác thân của-cải trong gia-đình xã-hội.
Như vậy là sự xã-giao phải rộng-rãi mới tránh được tai-nạn cho thân, đạo-giáo nào sự phước thiện nào, việc lành phải nào, cũng nên tán trợ, nâng cao giúp tiếp để ủng-hộ tinh-thần dân-tộc và cũng thêm sư ích-lợi cho mình nữa. Như thế nghĩa là cư-gia chưa có thầy, như Sa-Di và chưa có ông thầy nào bảo-lãnh cư-gia cả, cư-gia là tín-đồ của lẽ phải chớ không phải của riêng Phât, Phật không có choán tín-đồ của các tông-giáo khác đạo.
Ngài sống chung tất-cả, tất-cả sống chung với Ngài, Ngài và tất-cả đều ở chung trong một trường, Ngài là một ông thầy giáo dạy lớp trên của tất-cả chớ không phải đạo riêng, Ngài không tranh cạnh vì bài vở, lớp học, sự dạy của Ngài khác xa lớp dưới cũng rất ít ai theo được.
Nhờ vậy mà ai cũng mến Phật, Phật đi tới đâu cũng được và kẻ trí-thức của các đạo-giáo ai cũng muốn xuất-gia theo Ngài mà tôn Ngài là thầy chung của tất-cả.
Bởi Ngài là người đã giác-ngộ chơn-lý, không còn ngăn chấp nhỏ hẹp, chẳng giống như đời sau nầy, vậy nên mới gọi thuở ấy là thời Chánh-Pháp.
Thuở xưa cũng có cư-gia hết lòng theo đạo-Phật, tuy chưa được vào trong đạo theo các Sư vì bởi nhơn-duyên phước-đức thiện-căn kém thiếu chớ họ cũng tu-hành tinh-tấn lắm, không được xuất-gia đắc quả A-L-Hán hiện tại thì họ hành đạo Bồ-Đề, tập giữ giới Bồ-Tát để được đắc quả A-La-Hán lúc lâm chung, cũng như cái vỏ ruột của trái tuy thua kém bây giờ chớ cái hột thì sau nầy cũng thành tựu được, theo sau ai nấy. Vì người cho rằng: Hôm nay người còn nghiệp tội nhiều chưa giải-thoát xuất-gia bằng thân đặng thì họ tập lần cái tâm nuôi sẵn hột giống khất-sĩ trong tâm, hễ ngày nào rảnh-rang thân không còn bận nữa thì tâm họ cũng được xuất-gia theo sau các Sư, hay nhờ tâm chí đó mà đời sau được xuất-gia giải-thoát. Đúng theo lẽ , nhiều kiếp ác mới tới thiện, nhiều kiếp thiện mới làm cư-sĩ, nhiều kiếp cư-sĩ mới đến xuất-gia, nhiều kiếp xuất-gia mới thành Phật. Như thế là chúng-sanh từ trong cái vô-minh ác quấy tội-lỗi tiến lần lên, nhà Sư nào đi trước mà tu-hành giải-đãi là kẻ đi sau phải theo kịp được.
Vậy nên, cư-gia rất kỉnh trọng các Sư trì-giới, nhập-định, đắc trí-huệ hơn các Sư còn tội-lỗi vì các Sư tu chín-chắn là lúc nào cũng đi trước hơn họ, họ phải noi theo và theo không kịp, chớ với các Sư tầm thường thì cũng chẳng hơn họ bao nhiêu vì bởi họ thấy các Sư còn tội-lỗi y như họ, cư-gia có mắt sáng là nhờ gần-gũi Tăng và cũng biết luật Tăng, cũng có cư-gia học xem kinh sách chẳng thua gì Tăng cho lắm.
Tăng có hơn họ là bằng Giới, Định, Huệ họ mới kỉnh trọng, chớ sự thông-minh văn-học, họ có kém Sư đâu, bởi thế cho nên đối với Tăng tội-lỗi thì họ gọi là không phải Tăng, họ chỉ kiên nể cái áo bề ngoài thôi chớ thật ra họ không kỉnh trọng.
Lỗi ấy tại Tăng bỏ đạo chớ không phải lỗi tại họ, Tăng cải sửa không theo Phật thì trách sao cư-gia lại chẳng cải sửa mà bỏ Tăng, ở xứ nầy, Tăng không còn nhóm họp ngày rằm ba mươi đọc Giới-Bổn nữa, Tăng mạnh ai nấy tu, nên hư tự ý, không cần thuộc luật không có Giáo-Hội.
Tăng đã rạc rời, chòm nhóm đua tranh không hợp tác thì trách sao cư-gia lại không lập ra tông-giáo đảng phái tư riêng, vì họ cũng như rắn không đầu bởi Tăng-chúng không cầm đầu họ đặng, cũng vì thế mới có kẻ cư-gia lầm-lạc bởi không ưa một hai vị sư sái quấy mà họ khinh luôn Phật, Pháp, Tăng, khinh luôn cả sự xuất-gia của họ, họ không bước đến sự xuất-gia, họ lại còn ố-ngạo kẻ xuất-gia là khác nữa.
Cũng có kẻ cư-sĩ lại chấp mình, tự cho mình cư-sĩ mãi là đúng rồi, họ lập đạo-giáo riêng, lập ra chòm nhóm quay đầu ố-nghịch lại đạo-Phật để phải vướng cảnh thiên-ma đọa-lạc, không đường giải-thoát giác-ngộ, thật là tội-nghiệp cho họ, mà lỗi của họ là tại nơi Tăng Sư sái quấy vậy.
Cũng vì thế mà có kẻ lại dám nói: Cả Tăng Sư là bị quả-báo, bị đền tội, đang tu, chịu khổ-nhọc, còn cư-gia là đã tu rồi, thành Phật rồi, bây-giờ là đang hưởng phước không cần tu xuất-gia nữa, họ nói kẻ xuất-gia là vì hoàn-cảnh, trốn tránh thất-bại chớ không có ai xuất-gia vì giác-ngộ, vì lòng tư-bi thương xót chúng-sanh đâu, thế là cư-gia hủy-báng Tăng-Bảo và kẻ cư-gia với người xuất-gia ấy là hai người đồng-lỏa giết phá đạo-Phật.
1. SỰ HIỂU LẦM
Có kẻ lại hiểu lầm là cư-sĩ Bồ-Tát lớn hơn A-La-Hán, họ không hiểu ý-nghĩa A-La-Hán là ứng cúng, danh-từ ứng cúng có là do nơi hai chữ khất-sĩ mà khất-sĩ là chơn-lý của võ-trụ chúng-sanh, ưng cúng là xứng đáng cho người cúng-dường lễ bái. Nếu không phải là khất-sĩ thì đâu có chữ ưng cúng A-La-Hán, đó là một danh-từ mà Phật khi xưa là một Đại-A-La-Hán sau khi tu hạnh Bồ-Tát đã nhiều đời mới thành được A-La-Hán đó, Phật cũng gọi là Như-Lai nên cũng gọi là có tu hạnh Bồ-Tát mới đắc quả Như-Lai vậy thì Như-Lai tức là A-La-Hán.
Đều là thầy của Bồ-Tát, Bồ-Tát có hai hạng, A-La-Hán cũng có hai hạn, Bồ-Tát Phàm và Bồ-Tát Thánh, A-La-Hán Thánh và A-La-Hán Phật, A-La-Hán Phật là trên Bồ-Tát Thánh! A-La-Hán Thánh là trên Bồ-Tát Phàm!
PHẬT
1. Như-Lai Đại-Thánh (đắc đủ thần-thông) A-LA-HÁN-PHẬT.
2. Bồ-Tát (đủ lục-thông) BỒ-TÁT-THÁNH.
3. Bích-Chi (đủ lục-thông) BÍCH-CHI-THÁNH.
4. A-La-Hán (đủ lục-thông) A-LA-HÁN-THÁNH.
5. Bất-Lai (chưa đủ lục-thông) BẤT-LAI-PHÀM
6. Nhứt-Vãng-Lai (chưa đủ lục-thông) NHỨT-VÃNG-LAI-PHÀM.
7. Nhập-Lưu (chưa đủ lục-thông) NHẬP LƯU-PHÀM.
Người xuất-gia có thể đắc đủ 7 quả Phật.
Người tại-gia có thể đắc 4 quả thành thánh.
Bậc Bồ-Tát Phàm là còn ở trong ba quả: Nhập-Lưu, Nhứt-Vãng-Lai, Bất-Lai chưa đủ lục-thông kêu gọi là tập tu hạnh Bồ-Tát, tập làm pháp-thí chớ chưa phải là BồằTát thiệt-thọ, nghĩa là chữ Bồ-Tát là giác-tha rất rộng, mỗi một việc làm phải nào cũng gọi là pháp giác-tha Bồ-Tát được hết. Cư-sĩ thiện-nhơn chư-thiên mà biết làm việc pháp-thí, tu-tập phước-huệ để cho mau dứt nghiệp, đặng đi xuất-gia cũng gọi là tu hạnh Bồ-Tát vậy, tất-cả chúng-sanh cũng đều gọi là Như-Lai Tử hay Bồ-Tát-Tử được hết, tịnh là Như-Lai, động là Bồ-Tát. Cư-sĩ là Bồ-Tát tập tu theo phép Lục-Độ Vạn-Hạnh là chỉ có Bồ-Tát Khất-Sĩ mới được. Vì người xuất-gia khất-sĩ là đã Bố-Thí hết rồi tài thí, thân thí mới đi tu và đang hành pháp-thí; Nhẩn-Nhục đi xin ăn mỗi buổi sáng và mặc đồ hoại sắc, y-bát một bộ; Tinh-Tấn là đi hoài không ở một chỗ; Trì-Giới là giữ 250 giới xuất-gia trọn đủ; Thiền-Định là nhập đại-định dưới gốc cây; Trí-Huệ là cắt đứt phiền-não bằng sự thuyết-pháp tham-thiền luận-đạo. Người khất-sĩ có thể đắc quả Thánh hiện tại là nhờ sự xuất-gia giải-thoát lục-căn thanh-tịnh, đủ phép lục-thông thành A-La-Hán rồi kế đó đi tu thiền-định thêm thành Bích-Chi và sau trở lại giáo hóa chúng-sanh làm Bồ-Tát-Thánh , có nhiều kiếp Bồ-Tát-Thánh mới sẽ đắc-quả Như-Lai hay Đại-A-La-Hán, Phật, nơi đây Bồ-Tát-Thánh ấy mới cao hơn bậc A-La Hán Thánh vậy . Người cư-sĩ rán lắm thì sau khi chết mới đắc quả lục-thông thành A-La-Hán Thánh chớ hiện tại còn đang sống thì cũng khó mà đắc ba quả: Nhập-Lưu, Nhứt-vãng-Lai và Bất-Lai được, cũng như các Sư khó mà đắc quả A-La-Hán, Bích-Chi, Bồ-Tát lắm. Và cư-sĩ thì chưa rồi độ bố-thí, nhẩn-nhục, tinh-tấn, rán lắm là đắc ba quả phàm nầy, chứ trì giữ 250 giới cụ-túc để thu-thúc lục-căn thanh-tịnh là chưa, chưa nhập đại-định được và cũng chưa phải là bậc trí-huệ diệt hết phiền não như bậc Bồ-Tát pháp-sư, tham-thiền luận-đạo thuyết-pháp đặng, cư-sĩ thì chẳng đắc đặng thần-thông. 
Như vậy thì tiếng cư-sĩ Bồ-Tát là pháp-lý nói rộng ra để khuyến-khích cư-gia tập tu, chớ cư-gia là đang tập tu để làm thiện nhơn khó mà diệt trừ gốc tội, vì bởi còn đang ở trong trần lem-lấm; Bồ-Tát Đa-Hạnh là Bồ Tát Thánh có đủ lục-thông có nhiều hạnh-kiểm nết-hạnh của bậc thầy, chớ không phải nhiều hạnh là bỏ giới-luật mà làm cư-sĩ trở lại hay đi làm sái quấy; Bậc Khất-Sĩ Pháp-Sư Bồ-Tát có đủ thần-thông kia mà còn không gọi mình là Bồ-Tát thay, cư-gia sao lại tưởng mình là Bồ-Tát, bậc thầy không lẽ để dạy cho người khác nhiễm-ô bùn, bụi đời, đời mê đắm tưởng rằng Phật xưa là cư-sĩ, như thế tức là đọa-lạc rồi, vì giết hại sự tấn-hóa xuất-gia giải-thoát của mình và ai nấy. Không lẽ cư-sĩ lại tưởng rằng: Mình đã hơn bậc Thánh-Tăng xưa, có đủ lục-căn thanh-tịnh giải-thoát và có lục-thông rồi ư, đành rằng tiếng xuất-gia là thân-tâm xuất-gia, chớ thân xuất-gia là chưa đủ; Nhưng đối với chúng-sanh nghiệp tội lâu đời, tâm trí yếu đuối nếu thân chẳng xuất-gia, tâm nào chắc được xuất-gia, hòng đắc thần-thông trí-huệ quả A-La-Hán nơi cư-sĩ. Kìa Tăng-chúng từ xưa hay như Phật lấy cảnh tạo tâm trước, rồi tâm mới tạo cảnh sau, các Ngài cần phải xuất-gia bằng thân trước để tạo tâm xuất-gia, thành A-La-Hán trước, thế mà các Ngài còn ít ai đắc được và quả Bồ-Tát-Thánh đối với các Ngài còn xa quá, đâu phải sự nói suông nghe dễ như là không cần xuất-gia cũng đắc quả Bồ-Tát cao hơn A-La-Hán và Phật là tại-gia cư-sĩ đang ở trong bùn lầy, không cần ra khỏi, không cần diệt trừ ác tội. Tuy lý Phật nói rộng ra; Ai ai cũng có thể tu để thành Phât, nhưng mà nào ai đã tu mà ai là người đã dám gọi mình là Phật rồi đâu, mà không tu không giải-thoát không lẽ vì chê bai một hai vị Sư Tăng sái quấy mà chê bỏ luôn giáo-pháp Phật để hiểu bằng cách sái khác lạc lầm. Tấm lòng như thế thì đâu phải là Bồ-Tát mà sao chẳng tự mình xuất-gia khất-sĩ làm Tăng Sư cho đúng-đắn, để cứu chữa đạo Phật lại vừa là để giúp ích cho chúng-sanh lại được tấn-hóa cho mình nữa, hay là tại sao chẳng đi tìm kiếm chơn-Tăng để gom hiệp lại, khuếch-trương Tam-Bảo, thống-nhứt Tăng-Già, sửa-chữa giới-luật Phật lại, chớ để chia lập chòm nhóm cư-gia, ố Tăng phá đạo, ích chi như thế, không lẽ ai rồi cũng tranh nhau để lo phá đạo!
Vậy nên cư-gia phải thấy mình cần xuất-gia giải-thoát để làm Du-Tăng Khất-Sĩ, vì Bồ-Tát Thánh thì dạy Tăng và không luân-hồi, còn Bồ-Tát Phàm là dạy cư-sĩ thiện nhơn còn phải luân-hồi, Như thế chánh-nghĩa cư-gia là thiện nhơn, trí-thức chư thiên tập hạnh Bồ-Tát để tích-trữ phước-đức đặng xuất-gia chớ chưa là Bồ-Tát thiệt thọ; Vì lời nói của cư-sĩ không thể dạy bảo kẻ khác xuất-gia cho đặng là bởi mình chưa xuất-gia, cũng như mình còn đang tội-lỗi mà bảo kẻ khác dứt chừa tội-lỗi là không được.
Cư-sĩ muốn cho lời nói của mình có hiệu quả, ai cũng tu nghe theo mình, quốc độ mình được rộng nhiều to lớn thì phải bước tới xuất-gia khất-sĩ cho trong sạch đã, cho đúng câu Qui-Y Tam-Bảo và lời nói cho đúng với sự thật-hành mới chắc-chắn sẽ thành Phật đặng. Như vậy là phải bỏ sở-chấp nhỏ hẹp tư riêng gia-đình xã-hội mà phải phát tâm Chánh-Đẳng Chánh-Giác sống chung cả thế-giới, học dạy chung cả chúng-sanh mới nên lớn sự đặng; Phải vậy, chớ chi cư-sĩ cứ thật lo tu mà đừng nói Bồ-tát A-La-Hán gì hết là quá tốt.
2. TĂNG SƯ CHIA RẼ
Trong số Tăng đồ khi xưa của Phật có ba hạng trí, kẻ đang học, người đang tu, kẻ đang dạy gọi là bậc Thinh-Văn Duyên-Giác và Bồ-Tát; Ba chặng nầy khác nhau bằng tâm trí, chớ giới-luật y-bát cũng như nhau đều gọi chung là Tăng, Khất-Sĩ, Tỳ-Kheo hay gọiTỳ-Kheo có ba hạng giáo-lý ba cỡ pháp.
Cũng như loài người có ba hạng trí mà cũng là một loài người chung, chớ không phải chia rẽ phân biệt; Nghĩa là Tăng-chúng học giới-định-huệ, kẻ cao người thấp chớ không phải là khác đạo, khác giáo-pháp, thế mà từ khi Phật tịch đến nay, người ta lại chia nhau ra làm đại-thừa, tiểu-thừa đối-nghịch chỉ-trích lẫn nhau. Một đàng các Sư gọi mình ăn chay là đại-thừa mà không có y-bát trì-giới, các Sư tự mình cải cách theo nho-đạo Khổng-Tử, một đàng khác các Sư trì-giới y-bát nhưng lại ăn dùng cá thịt gọi là tiểu-thừa.
Sư tiểu-thừa thì chuyên học pháp vi-tế tự-độ nhiều hơn; Sư đại-thừa thì học pháp độ-tha bao quát bên ngoài, cũng như cái nhỏ của hột và cái lớn của vỏ mà chẳng có thịt cơm nên không thành trái đặng.
Các Sư lại không cho Tăng-chúng xem học bài vở lẫn nhau, tiểu-thừa hay đại-thừa ngày nay không phải là trình-độ cỡ trí của mỗi nhà Sư mà là sự tranh-cạnh của bề ngoài tông-giáo; Một Sa-Di, một em bé, một cư-gia cũng gọi là đại-thừa hay tiểu-thừa nữa.
Người tu đời nay ít ai chịu hiểu rằng: Không có tam-thừa gì bề ngoài cả, tam-thừa là tâm trí của mỗi người, từ nhỏ tới lớn từ hẹp tới rộng, chớ không phải mới sanh ra cũng đại-thừa hay tu thành Phật, già lão rồi mà cũng còn gọi là tiểu-thừa mãi. Có người lại nói rằng: Có y-bát khất-thực là tiểu-thừa, vậy ra đức Phật khi xưa trọn đời y-bát khất-thực, đức Phật ấy cũng tiểu-thừa hay sao? Phải chi các Sư đời nay chỉ có lo tu là tốt hơn, dứt lòng tư-kỷ ngã-ái dung-hòa hiệp một lại thành ra mỗi Sư đều ăn chay và có đủ y-bát giới-luật thì chắc là chánh-pháp của Phật hưng thạnh trở lại, cũng như cái chén bể gắn dính liền, cũng như cái vỏ lớn cái hột nhỏ dính hiệp nhau thì làm sao chẳng có thịt cơm nơi khoảng giữa, mà thành nên trái-giác thơm ngon vậy. Chớ chi các Sư mà hợp-tác, chắc là tu mau đắc quả lắm và chúng-sanh sẽ hưởng được biết bao mùi vị của chánh-pháp đạo-Phật, còn nếu các Sư mà chia rẽ thì có khác nào xé hai thân hình Phật, giết đạo-Phật, khó mà ai tu thành đạo được và không ai được toàn-giác bởi mắc phải động tâm vì nhau mãi mãi, dễ gì tu! Còn tín-đồ cư-gia thì điên đảo rớt rơi chán nản, tách lạc tư riêng cả, đã vậy mà nơi xứ Ấn-Độ ngày nay các Sư lại tranh-đấu với nhau thì trách gì cư-gia không lập riêng môn phái và thế-giới trách sao chẳng đại-loạn.
Chớ chi mà các Sư hiểu rằng, phải học, phải học hết thảy các pháp, phải tu, phải tu hết thảy các pháp; Ai cũng phải cho được toàn học toàn giác, toàn năng, chớ đừng giữ riêng cái sơ-giác, độc-giác hay đại-giác thiếu kém. Chỉ có Giới-Định-Huệ là phải tu-học, chớ không có thừa gì cả, dầu trình-độ mình đã đến đại-thừa là để cho người ta tự nhận biết chớ đừng nói ra mà phải nên khiêm-nhượng, còn trình-độ mình có tiểu-thừa là để cho người kia tự hiểu, chớ đừng dòm ngó nhau là tốt lắm. Vả chăng sự tự-cao là dốt, hạ mình là hay vậy, người thật tu-học cũng nên gọi mình là vô-thừa nghĩa là không có thừa gì của tự mình nói ra mới phải và chỉ có một sự tu là quý hơn cái học, quý hơn cái nói cãi cao-kỳ vậy.
Như thế thì cần gì môn phái đông nhiều không thể dạy cho hư đạo-pháp, Phật xưa đâu có nạp thâu nhiều người không giới-hạnh, Phật xưa đâu có dụng số đông người, người tu dầu ít, ít mà chơn-chánh đắc quả tiếng tăm thơm nức vang lừng, nào phải đợi số đông, cái đông không kỷ-luật.Khi xưa còn Phật hiện tại bậc A-La-Hán rất đông mà đệ-tử rất ít, ngày nay Phật Thánh ít mà Tăng-chúng lại thâu nhiều thì có khác nào gạo, lúa, tấm, cám, đều ở chung cả trên một cái sàng làm cho sàng phải nứt gãy, chớ chi mà các Sư lại tự sàng đi cho rớt bớt, giới-luật là sàng, sàng giới-luật nứt gãy là tại Tăng-chúng đông nhiều quá nặng. Các Sư có biết đâu rằng: Viên ngọc quý là rất ít, chớ cát đất thì rất nhiều, đạo-Phật mất là tại Tăng đông và tín-đồ nhiều, ai cũng tưởng lầm mình là con trưởng-nam của Phật, thật là nguy hại thay cho đạo Phật! Thế mà đến nay, các Sư lại còn gọi là giữ mãi gốc tổ của thầy, mà tổ thầy xưa đâu có chia rẽ, đâu có chẳng tu theo phép nào thuận hạp, cho tất cả ta và người, cho hạp với đạo của ta và người, mà nên cho tất cả và các Sư là phải đoạn nhứt-thiết-ác, tu nhứt-thiết-thiện, độ nhứt- thiết chúng-sanh mới phải là người tu Phật-Đạo.
3. TÍN-ĐỒ THẤT LẠC
Thuở xưa hồi Phật sanh tiền, Phật và Tăng chỉ thuyết-pháp đem chơn-lý dạy cho người tu tấn-hóa chớ không có thờ phượng chi cả, các Ngài đi đi mãi không ở trụ một chỗ; Tịnh-xá người ta cất ra để thỉnh Phật Tăng đến nghỉ chơn và dạy đạo, Tịnh-xá làm bằng cây lá sơ-sài gồm cả một khu vườn rộng, cốc-am nhà giảng, nhà giảng là nhà mát trống rộng để che mát trong khi giảng đạo tạm thời, khi nào các Ngài đi thì bỏ hết vì Tăng chúng luôn luôn theo Phật (chỉ trừ ra các bậc Bồ-Tát và Bich-Chi Duyên-Giác là đi hành-đạo riêng được). Chính giữa nhà giảng là pháp-tọa, tháp của Phật ngoài ra không có chi cả, tứ-chúng Thinh-Văn thảy ngồi trên mặt đất mà nghe pháp, đạo-pháp khi xưa là dạy tu, ai nấy lo giải-thoát tu tâm chớ không có bận rộn sự ngoài, vì vậy mà có nhiều người đắc lục-thông, trí-huệ thành A-La-Hán và không có học nơi văn-tự nghề-nghiệp thờ cúng lễ-bái chi cả. Các Sư chỉ lễ Phật trong khi nghe Pháp và trong khi học hỏi thôi, còn ngoài giờ khác là lo học giới, tham-thiền, nhập định, tuy chẳng chút nghỉ không, thong-thả trong tâm, mà bên ngoài thì thật như là rảnh-rang vô sự.
Những lúc về sau nầy không có Phật, người ta bèn ghi chép lời nói của Phật, phân làm kinh, luật, luận để học và sau truyền ra nhiều xứ nhiều thứ chữ, tiếng đọc khác nhau và ý-nghĩa không còn xác thật. Vì vậy, mà lắm kẻ cư-gia chỉ đọc tụng khen tán, tin-tưởng lời nói của Phật là linh-thiêng, chớ không cần hiểu chi là nghĩa-lý, ý dạy chi cả, vả lại Tăng-chúng cũng lu-mờ thì cư-gia biết hỏi nơi ai nghĩa chữ, nào ai dạy pháp-lý, nào ai chỉ rõ ý-nghĩa của Phật dạy, trách gì chơn-lý chẳng khó ai đạt được, cho nên dầu ai có muốn vượt ra ngoài lề tông-giáo của tín-ngưỡng, thì phải rất khó khăn, sưu-tầm khảo-cứu, bươi vẹt ra từng gai chông gút mắc, mà còn phải tránh xa tông-giáo để khỏi phải vướng nạn xích-xiềng bắt buộc. Thời-kỳ tông-giáo xa Phật, người ta ít lo tu trí đức, ai cũng muốn cho đạo đông, tín-đồ nhiều, kinh sách nhiều, mở rộng lớp dưới, dắt-dìu kẻ ác lên thiện, mà quên lãng sự xuất-gia giải-thoát, thế nên các Sư cũng đem mình chung lộn với cư-sĩ và cư-gia thì lôi kéo trở lại các Sư. Cư-gia muốn cho ai cũng là cư-sĩ hết, bỏ đạo-Phật để lập ra đạo cư-sĩ, thiên-đường cho thạnh-hành sáng tỏ, mạnh-mẽ thế-lực, cũng có số ít cư-gia lại quá kiêu-sa chưa hiểu ra mục-đích cho rằng, giáo-pháp cư-gia là vững-bền đúng-đắn, cư-gia khỏi xuất-gia như thế là cư-gia ấy thất-lạc sa-đọa mất tấn-hóa, vì việc làm ấy tuy ích-lợi cho kẻ thế-gian mà vướng phải trọng tội hủy Tăng báng đạo, bởi không phải cả thảy Tăng Sư đều là càng lếu. Cư-gia dầu thông học đến đâu mà còn ở trong trần-tục dễ gì tu-hành đắc trí-huệ thần-thông được, mặc dầu các Sư tuy ít học, mà cái học chín-chắn bằng sự tham-thiền, học đến đâu tu-hành theo kịp đến đó, chẳng là kết-quả hơn cái học mênh-mông, vả lại học tuy được mà hành chưa đưọc thì chắc gì ai dám tin trọn lời nói đó, tài học không bằng tu đức, đức trên tài dưới, tài đức phải nương nhau mới đặng. Các Phật Thánh xưa xuất-gia là để tu, từ nơi chỗ thật-hành tu đức mà sanh trí-huệ toàn-học, nhờ học chẫm-rải khó khăn, kinh-nghiêm mà pháp-bảo đối với các ngài, hưởng được mùi vị hay quý thơm ngon lắm. Ngày xưa ít học mà nên nhiều, ngày nay học nhiều mà nên ít, là cũng bởi trọng học tài quên tu đức và tưởng lầm là cư-gia đã trọn lành trong sạch.
Đạo Phật ngày nay không còn cao quý là bởi Tăng-Già suy kém vật-chất thạnh, Đạo-Phật rồi đây sẽ gia-nhập bằng-thẳng về theo thế sự vào các ngoại giáo khác, Phật thích-Ca sẽ không còn hình bóng tiếng tăm nữa.
Xem ngó lại nơi giữa chánh-điện của ngôi chùa ngay nay, ngôi chùa nguy-nga lộng-lẫy mà chẳng có một pháp-lý ích-lợi dạy đời vì tín-đồ, vì tông-giáo, vì số đông thấp dưới, các Sư làm người thủ tự cho tín-đồ, đâu có rảnh-rang dạy đạo nói Pháp. Vì muốn cho đông người lui tới nên bày ra sự thờ phượng tượng cốt đủ đầy, Tiên Phật hội-đồng, quỷ-thần hộ-trợ đủ thứ, vì tín-đồ bày ra sự tín-ngưỡng chớ ít kẻ lo tu-học tìm đạo; Thuở xưa Phật ngồi trên pháp-tọa, giữa nhà hát dạy đạo tứ-chúng, thật là đơn-giản quá, sau khi đó, không có Phật các Sư chỉ treo tượng Phật trên cao, phía dưới các Sư thay Phật đọc lại cho ai nấy nghe những lời của Phật, khỏi cần đọc tụng như vậy là cũng còn khá. Đến nay người ta lại cất ra nhà thờ, thờ đủ thứ, đóng cửa lạnh-tanh không còn ánh-sáng đạo-lý chi cả, kẻ tu-học không ai bước tới, chỗ ấy chỉ dành riêng cho đám người cầu vái , họ tới nơi để cầu vái chớ không phải là đạo-tràng như xưa kia nữa và kể từ nay chưa biết chừng nào, chúng ta mới sẽ gặp trong một nhà mát sơ-sài, cây lá trống trải không còn sự thờ phượng ấy mà lại có một vị Bồ Tát pháp sư dạy đạo như xưa, hay nơi dưới cội cây một vị Duyên-Giác giảng giải đạo-lý cho những bậc khá cao đã vượt qua khỏi sự mê-tín tà-kiến. Đời nay vật-chất quá thạnh, con người ngộp lún quá sâu khó mà lên đặng, nên sự tu thì ít, để một người kia đến khi chết thì cả thảy lo sợ giùm, xúm nhau lại cầu-siêu, đưa đi về tịnh-thổ bằng kinh-kệ hoặc bằng cách làm chay cúng thí, mà ít ai hiểu ra lý-nghĩa chữ siêu-độ. Siêu là vượt qua, độ là bến bờ bên kia, nghĩa là ly tự xuất-gia hay là bước lên bờ giác (miếng đất Phật ấy là nền Tăng-Bảo Giới-Luật). Lại cũng lắm kẻ không ưa khi sống, lúc chết đều ghét khất-sĩ khinh Tăng mà bảo phải siêu-độ làm Tăng khất-sĩ được đâu! Thử ngay những kẻ sống nào không muốn giải-thoát bỏ trần mà bảo kẻ kia nghe theo đi xuất-gia làm sao nghe theo cho được.
Đành rằng chữ siêu là vượt qua, ví dụ như siêu địa-ngục là ngạ-quỷ, siêu ngạ-quỷ là súc-sanh, siêu súc-sanh là A-Tu-La, siêu A-Tu-La là nhơn-loại, siêu nhơn-loại là chư-thiên, siêu chư-thiên là Phật. Sự vượt qua cũng như là tấn-hóa hay giải-thoát từ cấp, cũng như siêu tham-lam là bố-thí, siêu sân giận là nhẩn-nhục, siêu si mê là tinh-tấn, siêu ác là thiện v.v…Vạn ức pháp, pháp nào mà lại không siêu, vượt qua khỏi pháp kia kém thấp, cũng như vượt qua khỏi vật-chất đến tinh-thần, siêu khỏi tham-lam là bố-thí, lên khỏi đời là đạo. Như Phật khi xưa nói pháp dạy người tấn-hóa là siêu, khi được xuất-gia vào đất Tăng-Bảo là độ; Người con đối với cha mẹ tội-lỗi, phép phải cầu xin cha mẹ tu hiền là cầu-siêu cha mẹ, đánh con ngỗ-nghịch ngăn dạy nó cũng làm cho bảo phải siêu, khuyên lơn bạn hữu tu-hành cũng là để cho siêu, anh đi ăn trộm em đi phá đám cũng là phép cầu-siêu, anh làm quấy mắc tội tù, em đi tố-cáo thêm tội để ở lâu ngày thêm trong ngục-khám, đặng chừa bỏ hết tội-lỗi còn em thì ở ngoài lo nuôi dưỡng như vậy cũng là cách cầu-siêu. Bao nhiêu những cách cầu-siêu, bằng phạt, thưởng hay khuyên dạy là để cho giác-ngộ giải-thoát vậy, nên phải giải-thoát mới là siêu-lạc-độ, còn sự tấn hóa từng pháp kêu là siêu tạm.
Cũng vì thế mà khi xưa, con khuyên cha mẹ đi tu không được nên phải rước Phật, Bồ-Tát pháp-sư đến nhà, trước đãi cơm và cầu xin dạy đạo cho cha me siêu-độ giải-thoát xuất-gia; Đời sau ít có pháp-sư nên cư-gia thỉnh các Sư đọc lại lời nói của Phật và nếu không có Tăng nữa thì sẵn có kinh sách, cư-gia số đông xúm lại đọc tụng và giảng-giải nghĩa-lý khuyên tu học hỏi với nhau cũng là phép siêu-độ. Thế mà đời nay có kẻ hiểu lầm lo lót Ngọc-Hoàng hối lộ Diêm-Vương bày ra lắm sự giả-dối như vua quan giàu sang hiện tại, thật vậy cư-gia ít ai hiểu rằng: Chỉ có pháp-thí là pháp cầu siêu-độ.
Phật khi xưa thuyết-pháp giảng đạo dạy tu, là siêu-độ cả chúng-sanh và muốn cho người siêu-độ là tự mình phải siêu-độ trước; Nghĩa là muốn cho ai nấy tự giải-thoát đến bờ kia là tự mình phải xuất-gia tu giải-thoát trước đã để cho họ coi đó noi theo và mình dẫn đầu cho họ. Khi xưa đức Phật nếu chẳng xuất-gia thì đâu có bảo ai xuất-gia đặng, vậy thí pháp cầu-siêu là phải tự mình đi tu giải-thoát trước cho kẻ kia đi theo mới được, như thế thì những ai có muốn siêu-độ chúng-sanh thì phải xuất-gia giải-thoát làm Tăng khất-sĩ, vì chúng-sanh mà ta đi tu, hành-đạo cắt đứt tham-ái của ta thì tham-ái của người mới mong diệt được.
TÓM LẠI ; SUMMARY
Đạo Phật ngày nay đã không còn giống y như xưa nữa, ai cũng gọi là đệ-tử Phật, niệm tên Phật mà không giữ giới-luật. Tông-giáo càng rộng sự tín-ngưỡng càng nhiều thì giới-luật càng mất, triết-lý càng lu, Tăng-đồ càng suy thì vật-chất càng thạnh, Tăng là giềng mối tâm-hồn là tâm-hồn sanh-chúng, thế mà Tăng chia lìa thất-lạc thì thần vật-chất sao chẳng hoành-hành chôn lấp chúng-sanh, trần-thế trách sao không nguy hại.
Vậy muốn chấn-hưng lại đạo Phật trong một lúc thì hãy thu hẹp lại sự tín-ngưỡng tông-giáo tín-đồ, cũng như từ xưa mở cửa thâu vào đã lâu, nay cũng nên đóng cửa tạm ngưng lại một lúc, để mà lựa chọn sắp phân lớp học chớ không lẽ đạo Phật lại là hỗn-tạp và nên phải bành-trướng, giới-luật, khuyến-khích cư-sĩ xuất-gia, chỉnh-đốn Tăng-Già thống-nhứt thế-giới quần Tăng đại-hội mới mong kéo nổi đời vật-chất trở lại tinh-thần đặng, Tăng-chúng phải đủ giới-luật để quy hợp cư-gia, để gắn liền tông-giáo hầu vẹt bóng mê tin. Đem cõi đời trở lại ban ngày y như Phật hồi xưa khi trước.
Mỗi cư-sĩ đều có phận sự phải xuất-gia, mỗi Tăng Sư đều có phận sự, phải dung hòa giữ giới, người hành chưa đặng thì phải biết kính trọng những kẻ đang hành, phải hộ-pháp nâng cao tán-thán chớ đừng dèm pha ố chọi, hãy nghỉ đến đạo, đến Phật, đến chúng-sanh mà đừng kiêu sa ém tội. Phải khuyến-khích người tu, phải giúp đỡ người ta hơn mình, phải hợp tác với họ, phải sửa-chữa điều kém thiếu, phải nâng cao giới-luật đó mới là phận-sự của TăngBảo, mới gọi là Tăng-Bảo không tạo tội. Phải tạo nấc thang cho người lên, phải chỉ bờ mé cho người đến, phải sắm tàu ghe để vớt người nguy, đó mới là phận-sự chánh của Tăng-Già đối với cõi đời tràng-giang đại-hải của chúng-sanh ngày nay đang lặng hụp. Thật vậy, chỉ có Tăng-chúng mới lập đạo đặng rồi thì các tông-giáo sẽ tự-nhiên thống-nhứt. 
Còn nếu đạo-Phật bằng chẳng đặng chỉnh-đốn y như vậy thì âu là Tăng Sư ai nấy hãy tách rã riêng tu-trì độc-giác, khắc nghiêm giới hạnh ở ẩn rừng sâu cũng còn khá hơn là sự xuất-gia cẩu-thả ở nơi thành-thị, chi cho phải bị cư-gia hủy-mạ.
Có như thế thì cái nạn chiến-tranh tông-giáo từ nay mới đặng dứt hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang ; Patriarch Minh Dang Quang
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
@@@


Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
Tông Giáo
Trang 358-375 ( Chơn lý số 24 )
Khi xưa đức Phật sanh tiền,
Thì Ngài chỉ dạy đạo lý,

Cho chúng sanh tu,
Bấy giờ đạo Phật còn là thời pháp lý,
Giáo lý hay là Triết lý,
Cũng như một cội cây,
Gốc cái còn và các nhánh,
Đều sống nương theo mẹ mình,
Tăng chúng tuy chia đông ra nhiều Giáo hội,
Mà vẫn quy hợp về theo Phật
Nên cách tu học không có sửa đổi chi cả,
Người ta gọi đó là thời chánh pháp,
Từ ngày Phật tịch cho đến nay
Tăng chúng chia lìa, phân chia tông giáo,
Cũng như các nhánh cây, mất thân mình mẹ,
Bị chiết lạc đem trồng mỗi nơi,
Tùy phong thổ mà biến đổi,
Không còn tánh chất giống y như hồi nguyên xưa nữa,
Đối với Phật khi xưa,
Đạo là con đường giác ngộ,
Chớ không gọi tên là đạo chi cả,
Các giáo pháp Ngài nói ra y theo Chơn lý,
Chớ không gọi tên là giáo pháp chi cả,
Đạo pháp có là do nhân duyên,
Không lường đếm, chớ không phải một hay hai nhứt định,
Hoặc giữ hoài một việc,
Nhờ vậy mà Tăng chúng của Phật,
Học hành rộng rãi, uyên thâm, không còn sở chấp,
Bấy giờ đạo Phật là đạo của tất cả,
Giáo pháp của Phật là Giáo pháp của tất cả,
Phật không chia rẽ đạo giáo nào,
Ngài không cạnh tranh với ai hết,
Ngài không chê bai chỉ trích một ai,
Trong các đẳng cấp ai muốn đi,
Xuất gia nhập đạo theo Ngài cũng được,
Ngài chỉ giữ riêng một lớp dạy
Bậc xuất gia khất sĩ mà thôi,
Ngài không thâu nạp, người tại gia cư sĩ, làm trong đệ tử,
Không có tranh giành, choán, tín đồ của tông giáo.
Cư-gia ai theo đạo nào cũng được, kẻ cư-gia nào có lòng tin-tưởng Ngài, thì Ngài khuyên người ấy hãy tập lần noi gương về y theo Phật, Pháp, Tăng đó mà đi tới và nên giữ lần từ năm giới, tám giới để bước lần lên mười giới tập xuất-gia. Người cư-sĩ chỉ có tâm qui-y Tam-Bảo tập xuất-gia giải-thoát theo Phật Tăng là gọi tâm theo Phật, chớ năm giới, tám giới còn là bậc chư thiên cõi Trời, là người thiện nhơn y như các tông-giáo, chưa được ở trong đạo khất-sĩ giải-thoát của Phật Tăng, chưa được ở gần bên Phật! Giới-luật của Tăng là bức tường hàng rào đón ngăn giữa sự xuất-gia và tại-gia không cho chung lộn. Người tại-gia như còn ở ngoài hàng rào, chỉ có kẻ xuất-gia nhập đạo mới là được ở trong hàng rào, trong đạo theo hầu bên Phật. Khi xưa, mặc dầu là Phật dạy Tăng coi sóc cho Tăng, Tăng đi khít bên Phật thế mà Phật không nhận một ai là đệ-tử của Ngài, vì đối với cái đạo của chư Phật, Ngài là người thay thế dạy bảo dùm thôi, Ngài không xưng thầy, Ngài không gọi học-trò, Ngài dứt bỏ cái ta và của ta trói buộc, Ngài cũng chưa chắc tin một người đệ-tử nào là sẽ theo đúng y như Ngài và Tăng-chúng cũng không ai dám xưng gọi thầy tôi, tôi là đệ-tử Phật vì sợ mình không giữ nổi đạo-hạnh y như Phật là hư tiếng Phật. Mặc dầu giáo-lý thì nói rộng để khuyến-khích cư-gia hay Tăng-chúng, Phật gọi chung là tứ-chúng. Hai bên xuất-gia nam nữ là đệ-tử Phật, hai bậc tại-gia nam nữ là thiện-tín Phật, Phật khuyên cư-gia nên phải xuất-gia và Tăng-chúng là thầy của cư-sĩ, vì Tăng-chúng như học-trò học ở trong trường. Còn cư-gia là còn đang tập học, còn ở bên ngoài đời tội-lỗi, cư-sĩ ngày xưa theo Tăng chớ không theo Phật nhảy cấp, cư-sĩ ngó ngay mục-đích của Phật mà theo thì phải nương theo Tăng vì Tăng là nấc thang gần trên cho cư-sĩ (có cư-gia mới giúp Tăng Sư sự ăn mặc ở bịnh, nhờ đó các Sư mới dễ tu-học). Tăng chúng còn là đạo Phật còn, mà Tăng-chúng còn là do cư-sĩ, vậy nên cư-sĩ cũng có công lớn với Đạo-Phật, về bên duy-vật tài thí hộ đạo. Nhờ công-đức đó mà để được xuất-gia về sau, nghĩa là sau nầy tu tới mãi cũng sẽ được thành Phật, sau theo Tăng-chúng.
Phật xưa gọi tứ-chúng là kẻ vòng trong, vòng ngoài trong mỗi khi thuyết-pháp, nên gọi tứ-chúng là kẻ Thinh-Văn, Thính-Pháp Văn-Kinh, nhưng trái lại Tăng-chúng không ai dám tự-cao mà xưng mình là đệ-tử Phật. Vì đức Phật là đấng hoàn-toàn cao-viễn quá, còn Tăng-chúng thì ít kẻ diệt được phàm-tâm, hơn nữa cư-gia lại cũng khiêm-nhường không dám gọi mình là đệ-tử của các Sư, vì các Sư phần nhiều chứng quả Thánh, còn cư-gia thì đang bị lấm-lem dơ nặng, chỉ có Sa-Di tập xuất-gia theo khít bên Tăng mới tạm gọi là đệ-tử của Tăng thôi, chớ cư-gia chỉ nhận mình là thiện-tín chung, chưa dám chịu làm đệ-tử riêng một vị Sư vì bởi cư-gia chưa thật-hành giống y theo Tăng Sư được.
Như thế là tránh cho Tăng Sư khỏi mang tiếng” giáo bất nghiêm sư chi đọa” Cư-gia cũng có thể là tín-đồ của các tông-giáo ngoài đạo-Phật nữa vì cư-gia còn là người ở trong cảnh thế, còn mắc phải xác thân của-cải trong gia-đình xã-hội.
Như vậy là sự xã-giao phải rộng-rãi mới tránh được tai-nạn cho thân, đạo-giáo nào sự phước thiện nào, việc lành phải nào, cũng nên tán trợ, nâng cao giúp tiếp để ủng-hộ tinh-thần dân-tộc và cũng thêm sư ích-lợi cho mình nữa. Như thế nghĩa là cư-gia chưa có thầy, như Sa-Di và chưa có ông thầy nào bảo-lãnh cư-gia cả, cư-gia là tín-đồ của lẽ phải chớ không phải của riêng Phât, Phật không có choán tín-đồ của các tông-giáo khác đạo.
Ngài sống chung tất-cả, tất-cả sống chung với Ngài, Ngài và tất-cả đều ở chung trong một trường, Ngài là một ông thầy giáo dạy lớp trên của tất-cả chớ không phải đạo riêng, Ngài không tranh cạnh vì bài vở, lớp học, sự dạy của Ngài khác xa lớp dưới cũng rất ít ai theo được.
Nhờ vậy mà ai cũng mến Phật, Phật đi tới đâu cũng được và kẻ trí-thức của các đạo-giáo ai cũng muốn xuất-gia theo Ngài mà tôn Ngài là thầy chung của tất-cả.
Bởi Ngài là người đã giác-ngộ chơn-lý, không còn ngăn chấp nhỏ hẹp, chẳng giống như đời sau nầy, vậy nên mới gọi thuở ấy là thời Chánh-Pháp.
Thuở xưa cũng có cư-gia hết lòng theo đạo-Phật, tuy chưa được vào trong đạo theo các Sư vì bởi nhơn-duyên phước-đức thiện-căn kém thiếu chớ họ cũng tu-hành tinh-tấn lắm, không được xuất-gia đắc quả A-L-Hán hiện tại thì họ hành đạo Bồ-Đề, tập giữ giới Bồ-Tát để được đắc quả A-La-Hán lúc lâm chung, cũng như cái vỏ ruột của trái tuy thua kém bây giờ chớ cái hột thì sau nầy cũng thành tựu được, theo sau ai nấy. Vì người cho rằng: Hôm nay người còn nghiệp tội nhiều chưa giải-thoát xuất-gia bằng thân đặng thì họ tập lần cái tâm nuôi sẵn hột giống khất-sĩ trong tâm, hễ ngày nào rảnh-rang thân không còn bận nữa thì tâm họ cũng được xuất-gia theo sau các Sư, hay nhờ tâm chí đó mà đời sau được xuất-gia giải-thoát. Đúng theo lẽ , nhiều kiếp ác mới tới thiện, nhiều kiếp thiện mới làm cư-sĩ, nhiều kiếp cư-sĩ mới đến xuất-gia, nhiều kiếp xuất-gia mới thành Phật. Như thế là chúng-sanh từ trong cái vô-minh ác quấy tội-lỗi tiến lần lên, nhà Sư nào đi trước mà tu-hành giải-đãi là kẻ đi sau phải theo kịp được.
Vậy nên, cư-gia rất kỉnh trọng các Sư trì-giới, nhập-định, đắc trí-huệ hơn các Sư còn tội-lỗi vì các Sư tu chín-chắn là lúc nào cũng đi trước hơn họ, họ phải noi theo và theo không kịp, chớ với các Sư tầm thường thì cũng chẳng hơn họ bao nhiêu vì bởi họ thấy các Sư còn tội-lỗi y như họ, cư-gia có mắt sáng là nhờ gần-gũi Tăng và cũng biết luật Tăng, cũng có cư-gia học xem kinh sách chẳng thua gì Tăng cho lắm.
Tăng có hơn họ là bằng Giới, Định, Huệ họ mới kỉnh trọng, chớ sự thông-minh văn-học, họ có kém Sư đâu, bởi thế cho nên đối với Tăng tội-lỗi thì họ gọi là không phải Tăng, họ chỉ kiên nể cái áo bề ngoài thôi chớ thật ra họ không kỉnh trọng.
Lỗi ấy tại Tăng bỏ đạo chớ không phải lỗi tại họ, Tăng cải sửa không theo Phật thì trách sao cư-gia lại chẳng cải sửa mà bỏ Tăng, ở xứ nầy, Tăng không còn nhóm họp ngày rằm ba mươi đọc Giới-Bổn nữa, Tăng mạnh ai nấy tu, nên hư tự ý, không cần thuộc luật không có Giáo-Hội.
Tăng đã rạc rời, chòm nhóm đua tranh không hợp tác thì trách sao cư-gia lại không lập ra tông-giáo đảng phái tư riêng, vì họ cũng như rắn không đầu bởi Tăng-chúng không cầm đầu họ đặng, cũng vì thế mới có kẻ cư-gia lầm-lạc bởi không ưa một hai vị sư sái quấy mà họ khinh luôn Phật, Pháp, Tăng, khinh luôn cả sự xuất-gia của họ, họ không bước đến sự xuất-gia, họ lại còn ố-ngạo kẻ xuất-gia là khác nữa.
Cũng có kẻ cư-sĩ lại chấp mình, tự cho mình cư-sĩ mãi là đúng rồi, họ lập đạo-giáo riêng, lập ra chòm nhóm quay đầu ố-nghịch lại đạo-Phật để phải vướng cảnh thiên-ma đọa-lạc, không đường giải-thoát giác-ngộ, thật là tội-nghiệp cho họ, mà lỗi của họ là tại nơi Tăng Sư sái quấy vậy.
Cũng vì thế mà có kẻ lại dám nói: Cả Tăng Sư là bị quả-báo, bị đền tội, đang tu, chịu khổ-nhọc, còn cư-gia là đã tu rồi, thành Phật rồi, bây-giờ là đang hưởng phước không cần tu xuất-gia nữa, họ nói kẻ xuất-gia là vì hoàn-cảnh, trốn tránh thất-bại chớ không có ai xuất-gia vì giác-ngộ, vì lòng tư-bi thương xót chúng-sanh đâu, thế là cư-gia hủy-báng Tăng-Bảo và kẻ cư-gia với người xuất-gia ấy là hai người đồng-lỏa giết phá đạo-Phật.
1. SỰ HIỂU LẦM
Có kẻ lại hiểu lầm là cư-sĩ Bồ-Tát lớn hơn A-La-Hán, họ không hiểu ý-nghĩa A-La-Hán là ứng cúng, danh-từ ứng cúng có là do nơi hai chữ khất-sĩ mà khất-sĩ là chơn-lý của võ-trụ chúng-sanh, ưng cúng là xứng đáng cho người cúng-dường lễ bái. Nếu không phải là khất-sĩ thì đâu có chữ ưng cúng A-La-Hán, đó là một danh-từ mà Phật khi xưa là một Đại-A-La-Hán sau khi tu hạnh Bồ-Tát đã nhiều đời mới thành được A-La-Hán đó, Phật cũng gọi là Như-Lai nên cũng gọi là có tu hạnh Bồ-Tát mới đắc quả Như-Lai vậy thì Như-Lai tức là A-La-Hán.
Đều là thầy của Bồ-Tát, Bồ-Tát có hai hạng, A-La-Hán cũng có hai hạn, Bồ-Tát Phàm và Bồ-Tát Thánh, A-La-Hán Thánh và A-La-Hán Phật, A-La-Hán Phật là trên Bồ-Tát Thánh! A-La-Hán Thánh là trên Bồ-Tát Phàm!
PHẬT
1. Như-Lai Đại-Thánh (đắc đủ thần-thông) A-LA-HÁN-PHẬT.
2. Bồ-Tát (đủ lục-thông) BỒ-TÁT-THÁNH.
3. Bích-Chi (đủ lục-thông) BÍCH-CHI-THÁNH.
4. A-La-Hán (đủ lục-thông) A-LA-HÁN-THÁNH.
5. Bất-Lai (chưa đủ lục-thông) BẤT-LAI-PHÀM
6. Nhứt-Vãng-Lai (chưa đủ lục-thông) NHỨT-VÃNG-LAI-PHÀM.
7. Nhập-Lưu (chưa đủ lục-thông) NHẬP LƯU-PHÀM.
Người xuất-gia có thể đắc đủ 7 quả Phật.
Người tại-gia có thể đắc 4 quả thành thánh.
Bậc Bồ-Tát Phàm là còn ở trong ba quả: Nhập-Lưu, Nhứt-Vãng-Lai, Bất-Lai chưa đủ lục-thông kêu gọi là tập tu hạnh Bồ-Tát, tập làm pháp-thí chớ chưa phải là Bồ Tát thiệt-thọ, nghĩa là chữ Bồ-Tát là giác-tha rất rộng, mỗi một việc làm phải nào cũng gọi là pháp giác-tha Bồ-Tát được hết. Cư-sĩ thiện-nhơn chư-thiên mà biết làm việc pháp-thí, tu-tập phước-huệ để cho mau dứt nghiệp, đặng đi xuất-gia cũng gọi là tu hạnh Bồ-Tát vậy, tất-cả chúng-sanh cũng đều gọi là Như-Lai Tử hay Bồ-Tát-Tử được hết, tịnh là Như-Lai, động là Bồ-Tát. Cư-sĩ là Bồ-Tát tập tu theo phép Lục-Độ Vạn-Hạnh là chỉ có Bồ-Tát Khất-Sĩ mới được. Vì người xuất-gia khất-sĩ là đã Bố-Thí hết rồi tài thí, thân thí mới đi tu và đang hành pháp-thí; Nhẩn-Nhục đi xin ăn mỗi buổi sáng và mặc đồ hoại sắc, y-bát một bộ; Tinh-Tấn là đi hoài không ở một chỗ; Trì-Giới là giữ 250 giới xuất-gia trọn đủ; Thiền-Định là nhập đại-định dưới gốc cây; Trí-Huệ là cắt đứt phiền-não bằng sự thuyết-pháp tham-thiền luận-đạo. Người khất-sĩ có thể đắc quả Thánh hiện tại là nhờ sự xuất-gia giải-thoát lục-căn thanh-tịnh, đủ phép lục-thông thành A-La-Hán rồi kế đó đi tu thiền-định thêm thành Bích-Chi và sau trở lại giáo hóa chúng-sanh làm Bồ-Tát-Thánh , có nhiều kiếp Bồ-Tát-Thánh mới sẽ đắc-quả Như-Lai hay Đại-A-La-Hán, Phật, nơi đây Bồ-Tát-Thánh ấy mới cao hơn bậc A-La Hán Thánh vậy . Người cư-sĩ rán lắm thì sau khi chết mới đắc quả lục-thông thành A-La-Hán Thánh chớ hiện tại còn đang sống thì cũng khó mà đắc ba quả: Nhập-Lưu, Nhứt-vãng-Lai và Bất-Lai được, cũng như các Sư khó mà đắc quả A-La-Hán, Bích-Chi, Bồ-Tát lắm. Và cư-sĩ thì chưa rồi độ bố-thí, nhẩn-nhục, tinh-tấn, rán lắm là đắc ba quả phàm nầy, chứ trì giữ 250 giới cụ-túc để thu-thúc lục-căn thanh-tịnh là chưa, chưa nhập đại-định được và cũng chưa phải là bậc trí-huệ diệt hết phiền não như bậc Bồ-Tát pháp-sư, tham-thiền luận-đạo thuyết-pháp đặng, cư-sĩ thì chẳng đắc đặng thần-thông. 
Như vậy thì tiếng cư-sĩ Bồ-Tát là pháp-lý nói rộng ra để khuyến-khích cư-gia tập tu, chớ cư-gia là đang tập tu để làm thiện nhơn khó mà diệt trừ gốc tội, vì bởi còn đang ở trong trần lem-lấm; Bồ-Tát Đa-Hạnh là Bồ Tát Thánh có đủ lục-thông có nhiều hạnh-kiểm nết-hạnh của bậc thầy, chớ không phải nhiều hạnh là bỏ giới-luật mà làm cư-sĩ trở lại hay đi làm sái quấy; Bậc Khất-Sĩ Pháp-Sư Bồ-Tát có đủ thần-thông kia mà còn không gọi mình là Bồ-Tát thay, cư-gia sao lại tưởng mình là Bồ-Tát, bậc thầy không lẽ để dạy cho người khác nhiễm-ô bùn, bụi đời, đời mê đắm tưởng rằng Phật xưa là cư-sĩ, như thế tức là đọa-lạc rồi, vì giết hại sự tấn-hóa xuất-gia giải-thoát của mình và ai nấy. Không lẽ cư-sĩ lại tưởng rằng: Mình đã hơn bậc Thánh-Tăng xưa, có đủ lục-căn thanh-tịnh giải-thoát và có lục-thông rồi ư, đành rằng tiếng xuất-gia là thân-tâm xuất-gia, chớ thân xuất-gia là chưa đủ; Nhưng đối với chúng-sanh nghiệp tội lâu đời, tâm trí yếu đuối nếu thân chẳng xuất-gia, tâm nào chắc được xuất-gia, hòng đắc thần-thông trí-huệ quả A-La-Hán nơi cư-sĩ. Kìa Tăng-chúng từ xưa hay như Phật lấy cảnh tạo tâm trước, rồi tâm mới tạo cảnh sau, các Ngài cần phải xuất-gia bằng thân trước để tạo tâm xuất-gia, thành A-La-Hán trước, thế mà các Ngài còn ít ai đắc được và quả Bồ-Tát-Thánh đối với các Ngài còn xa quá, đâu phải sự nói suông nghe dễ như là không cần xuất-gia cũng đắc quả Bồ-Tát cao hơn A-La-Hán và Phật là tại-gia cư-sĩ đang ở trong bùn lầy, không cần ra khỏi, không cần diệt trừ ác tội. Tuy lý Phật nói rộng ra; Ai ai cũng có thể tu để thành Phât, nhưng mà nào ai đã tu mà ai là người đã dám gọi mình là Phật rồi đâu, mà không tu không giải-thoát không lẽ vì chê bai một hai vị Sư Tăng sái quấy mà chê bỏ luôn giáo-pháp Phật để hiểu bằng cách sái khác lạc lầm. Tấm lòng như thế thì đâu phải là Bồ-Tát mà sao chẳng tự mình xuất-gia khất-sĩ làm Tăng Sư cho đúng-đắn, để cứu chữa đạo Phật lại vừa là để giúp ích cho chúng-sanh lại được tấn-hóa cho mình nữa, hay là tại sao chẳng đi tìm kiếm chơn-Tăng để gom hiệp lại, khuếch-trương Tam-Bảo, thống-nhứt Tăng-Già, sửa-chữa giới-luật Phật lại, chớ để chia lập chòm nhóm cư-gia, ố Tăng phá đạo, ích chi như thế, không lẽ ai rồi cũng tranh nhau để lo phá đạo!
Vậy nên cư-gia phải thấy mình cần xuất-gia giải-thoát để làm Du-Tăng Khất-Sĩ, vì Bồ-Tát Thánh thì dạy Tăng và không luân-hồi, còn Bồ-Tát Phàm là dạy cư-sĩ thiện nhơn còn phải luân-hồi, Như thế chánh-nghĩa cư-gia là thiện nhơn, trí-thức chư thiên tập hạnh Bồ-Tát để tích-trữ phước-đức đặng xuất-gia chớ chưa là Bồ-Tát thiệt thọ; Vì lời nói của cư-sĩ không thể dạy bảo kẻ khác xuất-gia cho đặng là bởi mình chưa xuất-gia, cũng như mình còn đang tội-lỗi mà bảo kẻ khác dứt chừa tội-lỗi là không được.
Cư-sĩ muốn cho lời nói của mình có hiệu quả, ai cũng tu nghe theo mình, quốc độ mình được rộng nhiều to lớn thì phải bước tới xuất-gia khất-sĩ cho trong sạch đã, cho đúng câu Qui-Y Tam-Bảo và lời nói cho đúng với sự thật-hành mới chắc-chắn sẽ thành Phật đặng. Như vậy là phải bỏ sở-chấp nhỏ hẹp tư riêng gia-đình xã-hội mà phải phát tâm Chánh-Đẳng Chánh-Giác sống chung cả thế-giới, học dạy chung cả chúng-sanh mới nên lớn sự đặng; Phải vậy, chớ chi cư-sĩ cứ thật lo tu mà đừng nói Bồ-tát A-La-Hán gì hết là quá tốt.
2. TĂNG SƯ CHIA RẼ
Trong số Tăng đồ khi xưa của Phật có ba hạng trí, kẻ đang học, người đang tu, kẻ đang dạy gọi là bậc Thinh-Văn Duyên-Giác và Bồ-Tát; Ba chặng nầy khác nhau bằng tâm trí, chớ giới-luật y-bát cũng như nhau đều gọi chung là Tăng, Khất-Sĩ, Tỳ-Kheo hay gọi Tỳ-Kheo có ba hạng giáo-lý ba cỡ pháp.
Cũng như loài người có ba hạng trí mà cũng là một loài người chung, chớ không phải chia rẽ phân biệt; Nghĩa là Tăng-chúng học giới-định-huệ, kẻ cao người thấp chớ không phải là khác đạo, khác giáo-pháp, thế mà từ khi Phật tịch đến nay, người ta lại chia nhau ra làm đại-thừa, tiểu-thừa đối-nghịch chỉ-trích lẫn nhau. Một đàng các Sư gọi mình ăn chay là đại-thừa mà không có y-bát trì-giới, các Sư tự mình cải cách theo nho-đạo Khổng-Tử, một đàng khác các Sư trì-giới y-bát nhưng lại ăn dùng cá thịt gọi là tiểu-thừa.
Sư tiểu-thừa thì chuyên học pháp vi-tế tự-độ nhiều hơn; Sư đại-thừa thì học pháp độ-tha bao quát bên ngoài, cũng như cái nhỏ của hột và cái lớn của vỏ mà chẳng có thịt cơm nên không thành trái đặng.
Các Sư lại không cho Tăng-chúng xem học bài vở lẫn nhau, tiểu-thừa hay đại-thừa ngày nay không phải là trình-độ cỡ trí của mỗi nhà Sư mà là sự tranh-cạnh của bề ngoài tông-giáo; Một Sa-Di, một em bé, một cư-gia cũng gọi là đại-thừa hay tiểu-thừa nữa.
Người tu đời nay ít ai chịu hiểu rằng: Không có tam-thừa gì bề ngoài cả, tam-thừa là tâm trí của mỗi người, từ nhỏ tới lớn từ hẹp tới rộng, chớ không phải mới sanh ra cũng đại-thừa hay tu thành Phật, già lão rồi mà cũng còn gọi là tiểu-thừa mãi. Có người lại nói rằng: Có y-bát khất-thực là tiểu-thừa, vậy ra đức Phật khi xưa trọn đời y-bát khất-thực, đức Phật ấy cũng tiểu-thừa hay sao? Phải chi các Sư đời nay chỉ có lo tu là tốt hơn, dứt lòng tư-kỷ ngã-ái dung-hòa hiệp một lại thành ra mỗi Sư đều ăn chay và có đủ y-bát giới-luật thì chắc là chánh-pháp của Phật hưng thạnh trở lại, cũng như cái chén bể gắn dính liền, cũng như cái vỏ lớn cái hột nhỏ dính hiệp nhau thì làm sao chẳng có thịt cơm nơi khoảng giữa, mà thành nên trái-giác thơm ngon vậy. Chớ chi các Sư mà hợp-tác, chắc là tu mau đắc quả lắm và chúng-sanh sẽ hưởng được biết bao mùi vị của chánh-pháp đạo-Phật, còn nếu các Sư mà chia rẽ thì có khác nào xé hai thân hình Phật, giết đạo-Phật, khó mà ai tu thành đạo được và không ai được toàn-giác bởi mắc phải động tâm vì nhau mãi mãi, dễ gì tu! Còn tín-đồ cư-gia thì điên đảo rớt rơi chán nản, tách lạc tư riêng cả, đã vậy mà nơi xứ Ấn-Độ ngày nay các Sư lại tranh-đấu với nhau thì trách gì cư-gia không lập riêng môn phái và thế-giới trách sao chẳng đại-loạn.
Chớ chi mà các Sư hiểu rằng, phải học, phải học hết thảy các pháp, phải tu, phải tu hết thảy các pháp; Ai cũng phải cho được toàn học toàn giác, toàn năng, chớ đừng giữ riêng cái sơ-giác, độc-giác hay đại-giác thiếu kém. Chỉ có Giới-Định-Huệ là phải tu-học, chớ không có thừa gì cả, dầu trình-độ mình đã đến đại-thừa là để cho người ta tự nhận biết chớ đừng nói ra mà phải nên khiêm-nhượng, còn trình-độ mình có tiểu-thừa là để cho người kia tự hiểu, chớ đừng dòm ngó nhau là tốt lắm. Vả chăng sự tự-cao là dốt, hạ mình là hay vậy, người thật tu-học cũng nên gọi mình là vô-thừa nghĩa là không có thừa gì của tự mình nói ra mới phải và chỉ có một sự tu là quý hơn cái học, quý hơn cái nói cãi cao-kỳ vậy.
Như thế thì cần gì môn phái đông nhiều không thể dạy cho hư đạo-pháp, Phật xưa đâu có nạp thâu nhiều người không giới-hạnh, Phật xưa đâu có dụng số đông người, người tu dầu ít, ít mà chơn-chánh đắc quả tiếng tăm thơm nức vang lừng, nào phải đợi số đông, cái đông không kỷ-luật.Khi xưa còn Phật hiện tại bậc A-La-Hán rất đông mà đệ-tử rất ít, ngày nay Phật Thánh ít mà Tăng-chúng lại thâu nhiều thì có khác nào gạo, lúa, tấm, cám, đều ở chung cả trên một cái sàng làm cho sàng phải nứt gãy, chớ chi mà các Sư lại tự sàng đi cho rớt bớt, giới-luật là sàng, sàng giới-luật nứt gãy là tại Tăng-chúng đông nhiều quá nặng. Các Sư có biết đâu rằng: Viên ngọc quý là rất ít, chớ cát đất thì rất nhiều, đạo-Phật mất là tại Tăng đông và tín-đồ nhiều, ai cũng tưởng lầm mình là con trưởng-nam của Phật, thật là nguy hại thay cho đạo Phật! Thế mà đến nay, các Sư lại còn gọi là giữ mãi gốc tổ của thầy, mà tổ thầy xưa đâu có chia rẽ, đâu có chẳng tu theo phép nào thuận hạp, cho tất cả ta và người, cho hạp với đạo của ta và người, mà nên cho tất cả và các Sư là phải đoạn nhứt-thiết-ác, tu nhứt-thiết-thiện, độ nhứt- thiết chúng-sanh mới phải là người tu Phật-Đạo.
3. TÍN ĐỒ THẤT LẠC
Thuở xưa hồi Phật sanh tiền, Phật và Tăng chỉ thuyết-pháp đem chơn-lý dạy cho người tu tấn-hóa chớ không có thờ phượng chi cả, các Ngài đi đi mãi không ở trụ một chỗ; Tịnh-xá người ta cất ra để thỉnh Phật Tăng đến nghỉ chơn và dạy đạo, Tịnh-xá làm bằng cây lá sơ-sài gồm cả một khu vườn rộng, cốc-am nhà giảng, nhà giảng là nhà mát trống rộng để che mát trong khi giảng đạo tạm thời, khi nào các Ngài đi thì bỏ hết vì Tăng chúng luôn luôn theo Phật (chỉ trừ ra các bậc Bồ-Tát và Bich-Chi Duyên-Giác là đi hành-đạo riêng được). Chính giữa nhà giảng là pháp-tọa, tháp của Phật ngoài ra không có chi cả, tứ-chúng Thinh-Văn thảy ngồi trên mặt đất mà nghe pháp, đạo-pháp khi xưa là dạy tu, ai nấy lo giải-thoát tu tâm chớ không có bận rộn sự ngoài, vì vậy mà có nhiều người đắc lục-thông, trí-huệ thành A-La-Hán và không có học nơi văn-tự nghề-nghiệp thờ cúng lễ-bái chi cả. Các Sư chỉ lễ Phật trong khi nghe Pháp và trong khi học hỏi thôi, còn ngoài giờ khác là lo học giới, tham-thiền, nhập định, tuy chẳng chút nghỉ không, thong-thả trong tâm, mà bên ngoài thì thật như là rảnh-rang vô sự.
Những lúc về sau nầy không có Phật, người ta bèn ghi chép lời nói của Phật, phân làm kinh, luật, luận để học và sau truyền ra nhiều xứ nhiều thứ chữ, tiếng đọc khác nhau và ý-nghĩa không còn xác thật. Vì vậy, mà lắm kẻ cư-gia chỉ đọc tụng khen tán, tin-tưởng lời nói của Phật là linh-thiêng, chớ không cần hiểu chi là nghĩa-lý, ý dạy chi cả, vả lại Tăng-chúng cũng lu-mờ thì cư-gia biết hỏi nơi ai nghĩa chữ, nào ai dạy pháp-lý, nào ai chỉ rõ ý-nghĩa của Phật dạy, trách gì chơn-lý chẳng khó ai đạt được, cho nên dầu ai có muốn vượt ra ngoài lề tông-giáo của tín-ngưỡng, thì phải rất khó khăn, sưu-tầm khảo-cứu, bươi vẹt ra từng gai chông gút mắc, mà còn phải tránh xa tông-giáo để khỏi phải vướng nạn xích-xiềng bắt buộc. Thời-kỳ tông-giáo xa Phật, người ta ít lo tu trí đức, ai cũng muốn cho đạo đông, tín-đồ nhiều, kinh sách nhiều, mở rộng lớp dưới, dắt-dìu kẻ ác lên thiện, mà quên lãng sự xuất-gia giải-thoát, thế nên các Sư cũng đem mình chung lộn với cư-sĩ và cư-gia thì lôi kéo trở lại các Sư. Cư-gia muốn cho ai cũng là cư-sĩ hết, bỏ đạo-Phật để lập ra đạo cư-sĩ, thiên-đường cho thạnh-hành sáng tỏ, mạnh-mẽ thế-lực, cũng có số ít cư-gia lại quá kiêu-sa chưa hiểu ra mục-đích cho rằng, giáo-pháp cư-gia là vững-bền đúng-đắn, cư-gia khỏi xuất-gia như thế là cư-gia ấy thất-lạc sa-đọa mất tấn-hóa, vì việc làm ấy tuy ích-lợi cho kẻ thế-gian mà vướng phải trọng tội hủy Tăng báng đạo, bởi không phải cả thảy Tăng Sư đều là càng lếu. Cư-gia dầu thông học đến đâu mà còn ở trong trần-tục dễ gì tu-hành đắc trí-huệ thần-thông được, mặc dầu các Sư tuy ít học, mà cái học chín-chắn bằng sự tham-thiền, học đến đâu tu-hành theo kịp đến đó, chẳng là kết-quả hơn cái học mênh-mông, vả lại học tuy được mà hành chưa đưọc thì chắc gì ai dám tin trọn lời nói đó, tài học không bằng tu đức, đức trên tài dưới, tài đức phải nương nhau mới đặng. Các Phật Thánh xưa xuất-gia là để tu, từ nơi chỗ thật-hành tu đức mà sanh trí-huệ toàn-học, nhờ học chẫm-rải khó khăn, kinh-nghiêm mà pháp-bảo đối với các ngài, hưởng được mùi vị hay quý thơm ngon lắm. Ngày xưa ít học mà nên nhiều, ngày nay học nhiều mà nên ít, là cũng bởi trọng học tài quên tu đức và tưởng lầm là cư-gia đã trọn lành trong sạch.
Đạo Phật ngày nay không còn cao quý là bởi Tăng-Già suy kém vật-chất thạnh, Đạo-Phật rồi đây sẽ gia-nhập bằng-thẳng về theo thế sự vào các ngoại giáo khác, Phật thích-Ca sẽ không còn hình bóng tiếng tăm nữa.
Xem ngó lại nơi giữa chánh-điện của ngôi chùa ngay nay, ngôi chùa nguy-nga lộng-lẫy mà chẳng có một pháp-lý ích-lợi dạy đời vì tín-đồ, vì tông-giáo, vì số đông thấp dưới, các Sư làm người thủ tự cho tín-đồ, đâu có rảnh-rang dạy đạo nói Pháp. Vì muốn cho đông người lui tới nên bày ra sự thờ phượng tượng cốt đủ đầy, Tiên Phật hội-đồng, quỷ-thần hộ-trợ đủ thứ, vì tín-đồ bày ra sự tín-ngưỡng chớ ít kẻ lo tu-học tìm đạo; Thuở xưa Phật ngồi trên pháp-tọa, giữa nhà hát dạy đạo tứ-chúng, thật là đơn-giản quá, sau khi đó, không có Phật các Sư chỉ treo tượng Phật trên cao, phía dưới các Sư thay Phật đọc lại cho ai nấy nghe những lời của Phật, khỏi cần đọc tụng như vậy là cũng còn khá. Đến nay người ta lại cất ra nhà thờ, thờ đủ thứ, đóng cửa lạnh-tanh không còn ánh-sáng đạo-lý chi cả, kẻ tu-học không ai bước tới, chỗ ấy chỉ dành riêng cho đám người cầu vái , họ tới nơi để cầu vái chớ không phải là đạo-tràng như xưa kia nữa và kể từ nay chưa biết chừng nào, chúng ta mới sẽ gặp trong một nhà mát sơ-sài, cây lá trống trải không còn sự thờ phượng ấy mà lại có một vị Bồ Tát pháp sư dạy đạo như xưa, hay nơi dưới cội cây một vị Duyên-Giác giảng giải đạo-lý cho những bậc khá cao đã vượt qua khỏi sự mê-tín tà-kiến. Đời nay vật-chất quá thạnh, con người ngộp lún quá sâu khó mà lên đặng, nên sự tu thì ít, để một người kia đến khi chết thì cả thảy lo sợ giùm, xúm nhau lại cầu-siêu, đưa đi về tịnh-thổ bằng kinh-kệ hoặc bằng cách làm chay cúng thí, mà ít ai hiểu ra lý-nghĩa chữ siêu-độ. Siêu là vượt qua, độ là bến bờ bên kia, nghĩa là ly tự xuất-gia hay là bước lên bờ giác (miếng đất Phật ấy là nền Tăng-Bảo Giới-Luật). Lại cũng lắm kẻ không ưa khi sống, lúc chết đều ghét khất-sĩ khinh Tăng mà bảo phải siêu-độ làm Tăng khất-sĩ được đâu! Thử ngay những kẻ sống nào không muốn giải-thoát bỏ trần mà bảo kẻ kia nghe theo đi xuất-gia làm sao nghe theo cho được.
Đành rằng chữ siêu là vượt qua, ví dụ như siêu địa-ngục là ngạ-quỷ, siêu ngạ-quỷ là súc-sanh, siêu súc-sanh là A-Tu-La, siêu A-Tu-La là nhơn-loại, siêu nhơn-loại là chư-thiên, siêu chư-thiên là Phật. Sự vượt qua cũng như là tấn-hóa hay giải-thoát từ cấp, cũng như siêu tham-lam là bố-thí, siêu sân giận là nhẩn-nhục, siêu si mê là tinh-tấn, siêu ác là thiện v.v…Vạn ức pháp, pháp nào mà lại không siêu, vượt qua khỏi pháp kia kém thấp, cũng như vượt qua khỏi vật-chất đến tinh-thần, siêu khỏi tham-lam là bố-thí, lên khỏi đời là đạo. Như Phật khi xưa nói pháp dạy người tấn-hóa là siêu, khi được xuất-gia vào đất Tăng-Bảo là độ; Người con đối với cha mẹ tội-lỗi, phép phải cầu xin cha mẹ tu hiền là cầu-siêu cha mẹ, đánh con ngỗ-nghịch ngăn dạy nó cũng làm cho bảo phải siêu, khuyên lơn bạn hữu tu-hành cũng là để cho siêu, anh đi ăn trộm em đi phá đám cũng là phép cầu-siêu, anh làm quấy mắc tội tù, em đi tố-cáo thêm tội để ở lâu ngày thêm trong ngục-khám, đặng chừa bỏ hết tội-lỗi còn em thì ở ngoài lo nuôi dưỡng như vậy cũng là cách cầu-siêu. Bao nhiêu những cách cầu-siêu, bằng phạt, thưởng hay khuyên dạy là để cho giác-ngộ giải-thoát vậy, nên phải giải-thoát mới là siêu-lạc-độ, còn sự tấn hóa từng pháp kêu là siêu tạm.
Cũng vì thế mà khi xưa, con khuyên cha mẹ đi tu không được nên phải rước Phật, Bồ-Tát pháp-sư đến nhà, trước đãi cơm và cầu xin dạy đạo cho cha me siêu-độ giải-thoát xuất-gia; Đời sau ít có pháp-sư nên cư-gia thỉnh các Sư đọc lại lời nói của Phật và nếu không có Tăng nữa thì sẵn có kinh sách, cư-gia số đông xúm lại đọc tụng và giảng-giải nghĩa-lý khuyên tu học hỏi với nhau cũng là phép siêu-độ. Thế mà đời nay có kẻ hiểu lầm lo lót Ngọc-Hoàng hối lộ Diêm-Vương bày ra lắm sự giả-dối như vua quan giàu sang hiện tại, thật vậy cư-gia ít ai hiểu rằng: Chỉ có pháp-thí là pháp cầu siêu-độ.
Phật khi xưa thuyết-pháp giảng đạo dạy tu, là siêu-độ cả chúng-sanh và muốn cho người siêu-độ là tự mình phải siêu-độ trước; Nghĩa là muốn cho ai nấy tự giải-thoát đến bờ kia là tự mình phải xuất-gia tu giải-thoát trước đã để cho họ coi đó noi theo và mình dẫn đầu cho họ. Khi xưa đức Phật nếu chẳng xuất-gia thì đâu có bảo ai xuất-gia đặng, vậy thí pháp cầu-siêu là phải tự mình đi tu giải-thoát trước cho kẻ kia đi theo mới được, như thế thì những ai có muốn siêu-độ chúng-sanh thì phải xuất-gia giải-thoát làm Tăng khất-sĩ, vì chúng-sanh mà ta đi tu, hành-đạo cắt đứt tham-ái của ta thì tham-ái của người mới mong diệt được.
TÓM LẠI
Đạo Phật ngày nay đã không còn giống y như xưa nữa, ai cũng gọi là đệ-tử Phật, niệm tên Phật mà không giữ giới-luật. Tông-giáo càng rộng sự tín-ngưỡng càng nhiều thì giới-luật càng mất, triết-lý càng lu, Tăng-đồ càng suy thì vật-chất càng thạnh, Tăng là giềng mối tâm-hồn là tâm-hồn sanh-chúng, thế mà Tăng chia lìa thất-lạc thì thần vật-chất sao chẳng hoành-hành chôn lấp chúng-sanh, trần-thế trách sao không nguy hại.
Vậy muốn chấn-hưng lại đạo Phật trong một lúc thì hãy thu hẹp lại sự tín-ngưỡng tông-giáo tín-đồ, cũng như từ xưa mở cửa thâu vào đã lâu, nay cũng nên đóng cửa tạm ngưng lại một lúc, để mà lựa chọn sắp phân lớp học chớ không lẽ đạo Phật lại là hỗn-tạp và nên phải bành-trướng, giới-luật, khuyến-khích cư-sĩ xuất-gia, chỉnh-đốn Tăng-Già thống-nhứt thế-giới quần Tăng đại-hội mới mong kéo nổi đời vật-chất trở lại tinh-thần đặng, Tăng-chúng phải đủ giới-luật để quy hợp cư-gia, để gắn liền tông-giáo hầu vẹt bóng mê tin. Đem cõi đời trở lại ban ngày y như Phật hồi xưa khi trước.
Mỗi cư-sĩ đều có phận sự phải xuất-gia, mỗi Tăng Sư đều có phận sự, phải dung hòa giữ giới, người hành chưa đặng thì phải biết kính trọng những kẻ đang hành, phải hộ-pháp nâng cao tán-thán chớ đừng dèm pha ố chọi, hãy nghỉ đến đạo, đến Phật, đến chúng-sanh mà đừng kiêu sa ém tội. Phải khuyến-khích người tu, phải giúp đỡ người ta hơn mình, phải hợp tác với họ, phải sửa-chữa điều kém thiếu, phải nâng cao giới-luật đó mới là phận-sự của TăngBảo, mới gọi là Tăng-Bảo không tạo tội. Phải tạo nấc thang cho người lên, phải chỉ bờ mé cho người đến, phải sắm tàu ghe để vớt người nguy, đó mới là phận-sự chánh của Tăng-Già đối với cõi đời tràng-giang đại-hải của chúng-sanh ngày nay đang lặng hụp. Thật vậy, chỉ có Tăng-chúng mới lập đạo đặng rồi thì các tông-giáo sẽ tự-nhiên thống-nhứt. 
Còn nếu đạo-Phật bằng chẳng đặng chỉnh-đốn y như vậy thì âu là Tăng Sư ai nấy hãy tách rã riêng tu-trì độc-giác, khắc nghiêm giới hạnh ở ẩn rừng sâu cũng còn khá hơn là sự xuất-gia cẩu-thả ở nơi thành-thị, chi cho phải bị cư-gia hủy-mạ.
Có như thế thì cái nạn chiến-tranh tông-giáo từ nay mới đặng dứt hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )

Meditation, be still is, looking at the swastika! )

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét