Chủ Nhật, tháng 11 03, 2013

41. Phật tánh ; Buddhahood

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 41
Practice self-taught English translation: No. 41
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 
Thực hành đọc Chơn lý ; Practice reading Truth
PHẬT TÁNH
(佛 性)
Buddhahood
( Trang 624-635 ; Pages 624-635 )
Tánh là nguyên lý mà sanh ra: chúng sanh, vạn vật và "các pháp".
Nature is the principle which engenders: beings, things, and "the law".
Tánh tức là "vũ trụ" không gian trơ lặng.
Nature means "universe" quiet space inert.
Tánh là bản nguyên của tất cả . 
Nature is the source of all.
Tánh là gốc nguồn của muôn loại.
Nature is the principal source of all kinds.
Tánh cũng là bản chất đầu tiên của vũ trụ.
Nature is also the nature of the universe first.
Tánh là tên họ, vốn, chơn thật của cả thảy, cũng là căn bản của hết thảy. 
Nature is their name, which, of truth altogether, and is the basis of all.
Vũ trụ tự nhiên là bổn tánh, là Chân-Như không vọng động, hay là chánh định, cái ấy sanh ra tất cả thế giới, vạn vật, chúng sanh và các pháp, tứ đại địa cầu: đất, nước, lửa, gió, cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, có ra là do Chân-Như vũ trụ, ở trong Chân-Như vũ trụ.
Natural universe is nature, the Truth-As non-dream, or concentration, so that all the world was born, things, beings and the law, the four elements earth: earth, water, fire, wind, grass, trees, animals, people, God, Buddha, there is a universe by Zhen-as, in Truth-as the universe.
Vậy nên tất cả đều có một họ, tánh, một gốc vốn, cội nguồn, nguyên lý, bản chất. Cả thảy đều ở trong một họ một tánh, con của một bà mẹ. Cái gì cũng đang chịu mang ân huệ, cái ích lợi, cái thiện trùm chứa, của ĐỨC TÁNH "Chân như" cả! "Chân như" là BẢN TÁNH của hết thảy vậy.
So they all have a family, nature, a capital base, roots, principles, nature. Altogether, they are in a one nature, children of one mother. What is also subject to bring grace, the benefits, the good boss contains, by virtue of "Truthfulness as" both! "True as" the essence of all that.
Vì thế cho nên khi xưa, đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng chư Phật quá khứ, hay cả hiện tại, vị lai, các Ngài sau khi đã giác ngộ, nhận ra cái tánh chân như ấy; các Ngài cho nó là tánh họ của các Ngài, họ cho của người giác-ngộ, PHẬT TÁNH, tánh của chư Phật . Tánh ấy chân như , không vọng động, trơ lặng không không, chân thật, nguyên lý, bản chất, gốc vốn, cội nguồn, mà ai ai giác ngộ ra, cũng đều trở lại ! Nên các chư Phật ấy, có gọi tên là NHƯ LAI, trở lại với chân như.
Như thế thì tất cả chúng sanh là một họ tánh chân như, thật Tánh; còn các họ Tánh sau nầy, là Tục tánh, pháp lý của chân như túa ra vậy. Cũng như tất cả chúng sanh đều có một con đường cái lớn, còn những con đường lối nghệ nghiệp tẻ lạc sau nầy, là chi nhánh tách lạc vọng động ngoằn nghèo, lẻ tẻ không thật .
Hiểu nơi Phật tánh, tức là hiểu được mọt món thuốc quý để trau tâm, un đúc thành tâm, dùng nó làm tâm, nuôi nó cho cái sống, cái giác, cái linh, được thiện chánh, lớn tròn, tốt đẹp quí báu. Tánh là chân như, tâm là trung tâm trụ cốt, chư Phật, bậc giác ngộ lấy tánh chân làm tâm trung, vì vậy mà người ta gọi là : Phật có tâm tánh, tâm chân, hay chân tâm là Phật. Vì kẻ có được tâm chân là người giác ngộ, kẻ ấy lời nói, việc làm, ý niệm, đã được chân như không vọng động, y như võ trụ chân tánh ! Hay là lời nói để đem lại chân như, cả thảy các pháp là đem lại chân như, hay từ trong chân như sanh ra vạn pháp.
Kìa một nhà sư tham thiền : Mỗi cái chi vọng động xảy đến, là Ngài tầm sát rốt ráo nguyên lý của nó, là chân tánh, mỗi pháp nào Ngài cũng thấy rõ tánh gốc của nó là chân như. Như vậy thì mỗi pháp hiện đến là mỗi chân như hiện đến, tô đắp tâm thêm to lớn, cứng chắc, tròn trịa, y như tánh chân vũ trụ. Như thế tức là nhà sư ấy, lấy cái pháp chân như, mượn cái tánh vũ trụ làm tâm, để tạo tâm chân, hay chân tâm vĩnh viễn của bậc giác ngộ, Phật. Đó tức là chơn như do vạn pháp.
Và như sau đó, pháp lý từ trong tâm chân giáo hóa dạy ra, để dắt dẫn chúng sanh đến với tâm chân y như mình, nên kêu là vạn pháp do chân như vậy.
Mỗi cái chân như của người tu đều có ra là do trí huệ, trí huệ là sự tầm sát tánh chân của các pháp, mà diệt bỏ giải thoát khỏi các pháp ấy, mới được chân như. Thế nên gọi là : chân như do trí huệ, trí huệ do chân như, hay cũng là : chân như do giải thoát, giải thoát do chân như, mà giải thoát tức là trí huệ. Trí huệ hoàn toàn. Tức là giải thoát hoàn toàn, chân như hoàn toàn, còn trí huệ nhỏ hẹp, thì giải thoát nhỏ hẹp, chân như sẽ nhỏ hẹp.

Khi xưa đức Phật Thích Ca có danh hiệu Mâu Ni, là báu giải thoát, cũng y như thế. Trong khi Ngài giải thoát tất cả các pháp, sau sự thấu suốt "tánh chân" của nó, tức là Ngài đã "Chân-Như" tròn trịa, quý báu như viên ngọc, viên ngọc chân như ấy, tức là sự giải thoát, có ra do sự giải thoát là cốt yếu, mà đức Phật, lấy sự giải thoát các lý lẽ "cố chấp" làm trung tâm, nên chúng sanh xưng tặng Ngài là món "bảo-trân" của Mâu Ni vô giá, quý giá vô cùng. Chính cái báu giải thoát chân như, là diệt khổ, là sống đời, là linh thiêng, là giác ngộ, là hột giống vĩnh viễn, nên ai ai cũng quý trọng lắm. (Trang 626)
Vậy nên ai cũng muốn thấy nó, thấy bằng cách nó có cho minh nó ở với mình, mình đạt được. Như thế là thấy tánh thành Phật ! Mà thấy tánh là thấy cái chơn như, không vọng động, thấy cái giải thoát các pháp, các sở chấp, do sự giác ngộ trí huệ là Phật của mình, chớ chẳng phải thấy bằng nói, nghe, chữ viết, suy gẫm tưởng tượng v.v...
Bởi thế nên người tu cần phải giác ngộ, hiểu biết chân tánh vũ trụ cho kỹ, để lấy đó trau tâm, tập mình như vũ trụ, kết quả như vũ trụ. Mà cần phải hiểu biết rằng : chân tánh là do giác ngộ, vọng tánh là bởi mê lầm : vọng tánh là tánh ma, chân tánh mới phải chư Phật : mà chân tánh Phật, có ra là do trí huệ giải thoát, có giải thoát mới có thành Phật, gọi giác ngộ được. Cũng như có dứt bỏ mới hết mê lầm. Vì trong chân như thì không còn vọng động nữa, hay là nhờ thấy rõ chân tánh của pháp rồi, thì không nên sở chấp bên ngoài nữa, đừng mê tríu nó nữa, mới gọi chân như đặng.
Vậy thì đời nay, những ai muốn gọi mình là Thích tử, thì tất nhiên phải là kẻ giác ngộ, trí huệ, giải thoát xuất gia trọn vẹn cả thân tâm mới được, vì chỉ có Phật tánh, tánh “chân thật” là phải xuất gia giải thoát trong sạch mà thôi, từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều. Tánh “chân thật” Phật đầy đủ trọn vẹn, tức là sự xuất gia giải thoát trọn vẹn vậy. Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh, tất cả chúng sanh si mê đều có tánh giác, trong mỗi “cái mê” đều có ngầm chứa sự phản đối giác ngộ, trong mỗi “cái vọng”, đều có chứa cái tuơng đối là “chân thật”, câu nói ấy, để chỉ rõ ra rắng, người tu lúc đầu, là nơi các pháp chúng sanh, si mê vọng động, mà phải khổ chết, cũng vì pháp nào cũng khổ chết đó, họ mới giác ngộ, thấy ra chân tánh, giác ngộ, nơi mỗi pháp ác tà si mê vọng động, mà xa tránh, ghê sợ, bứt bỏ nó, để bảo giữ chân như trơ lặng giải thoát, chớ không phải giữ mãi cái “mê vọng”, ở hoài trong ấy, mà tưởng cái hiểu biết của mình là đã giác chân Phật rồi, để ra khốn lụy.
Kìa chư Phật giải thoát để nuôi tâm chơn. Đức Thích Ca được chân như là nhờ giải thoát, thì đời nay có ai tài gì, miệng nói, mà được cái giải thoát chơn như rồi đâu ?
Kìa một kẻ té dưới sống hẹp, bởi sợ chết khổ mới trèo lên bờ; có bờ cho nó trèo lên là bởi tại sông hẹp, bãi lài, có nấc lội lên; khi lên đến trên rồi, là được giải thoát, từ đó khát nước là uống nước mưa, tắm nước mưa, ở ăn cao ráo trong sạch, khác hơn hời bị sợ sệt, chết chìm nơi dưới nước sông kia vậy. Kẻ ấy, có chăng là khá hơn một người nọ, họ té xuống biển bị trôi giạt giữa vời không lên giải thoát, thế mà chưa hay sự khổ chết đến, lại chẳng biết chán sợ lo xa, còn cho rằng : mình tắm biển vui chơi, ở mãi, yên ổn sướng hơn kẻ khác trên bờ kia nữa.
Sự giác ngộ chân tánh vũ trụ để tu giải thoát, bước lên, dứt bỏ, là giống như kẻ trôi sông hẹp. Còn si mê lầm tưởng mình Phật, ở hoài nơi trói buộc vọng động, tức là như người té biển rộng mênh mông, không ích lợi vào đâu, cũng y như vậy.
Như thế nghĩa là người tu phải giải thoát, lấy giải thoát làm mục-đích, vì có bỏ ma mới trông thành Phật đặng, cũng như các pháp đều tương đối, ta phải lấy cái chơn, bò lìa cái vọng, ta phải y như Phật bỏ lìa chúng-sanh, mà không nên tiếc nó nữa.
Thích tử phải là khất sĩ du tăng; nếu không thì chỉ là hạng trời người: Bởi đó mà khi xưa có một vị Tỳ kheo nói chỉ có một họ với ông cha, mới phải là đứa con. Câu nói ấy chỉ rằng : Phật tử, Thích tử, Phật tánh, Thích tánh, phải là những kẻ xuất gia giải thoát, Khất sĩ Du Tăng, y như Phật Thích Ca mới đặng. Vì chỉ có con là phải nối chí cha, hành vi cử chỉ , lời nói, ý niệm, phải giống y như cha mới đúng. Như kìa con họ Lý, chẳng có ở bên họ Trần; giống như con Phật, phải ở trong nhà Phật, mà không có chen lộn trong nhà Trời, nhà người, hay trong các nhà khác ... Cũng như người giải thoát xuất gia chân như, là không bao giờ còn ở trong xã hội, gia đình các nơi vọng động, đặng đâu. Xưa kia các bậc Tỳ kheo Khất sĩ quen tâm chân như trơ lặng, chẳng bao giờ vào trong nhà thế ở đặng một ngày. Xưa kia những bậc thật hành chánh định chân như, mà còn như thế. Các bậc ấy đã khắc kỵ. Khác hẳn với cõi đời, không còn một niệm phàm tục, vấy tưởng bà con, mà còn khó được tâm trong sạch thay ! Huống hồ gì chúng ta ngày nay, cư gia “hữu lậu”, đang ở trong miếng đất giới luật 5 giới, 8 giới, 10 giới của nhà trời, đang làm con trời, thiện tánh, họ trời ở trong nhà trời, cõi trời; nếu không giải thoát xuất gia sanh vào trong nhà Phật thọ giới cụ túc Tỳ kheo, làm con Phật, y như Phật, thì làm sao nhập chánh định giác chân, y như Phật, mà lầm là đắc Phật tánh, thành Phật ! Như vậy nghĩa là : ngó Phật tánh, nhìn Phật tánh, hiểu Phật tánh, ở nơi mỗi việc, mỗi chỗ, mỗi người kia, ai cũng hiểu ngó mình bên ngoài được dễ dàng hết, chớ còn ngó lại có thấy nơi mình, có thật hành, có được hay không, thì thật là khổ lắm. Cũng như người sanh ra ở đời, nói chuyện Phật, thấy hình Phật, thì ai cũng thấy được, nhưng khi mình làm Phật, thì ít ai muốn chịu làm, không phải dễ dàng như ngó thoáng qua, hay nói suông được. Đời nay lắm kẻ chỉ học giáo pháp Phật Thích ca, mà tưởng lầm mình là Phật tử, Thích tử, cũng y như thế, không phải học Phật là con Phật đâu, chưa phải người đi nghe pháp Phật, là đệ tử ruột của Phật rồi đâu. Dầu đức Phật có ban ân khuyến dụ đi nữa chớ người tu là bao giờ cũng phải thấy lại nơi mình, thấy cái Phật tánh của mình, xem lại mình có giống y như Phật chăng, rồi sẽ hay, chớ đối với những ông già kỹ càng thận trọng, dày công tu tập lâu đời, mà hãy còn sự sệt lắm, không ai dám vội mở mắt ra, bôn chôn láo táo.
Thật vậy từ xưa, cho đến nay, những kẻ tăng sư chơn đạo, họ chỉ mãi lo tu, mà nào có dám nói là thấy mình, là có cái đắc, cái Phật, cái tánh gì đâu; khi xưa chư Bồ Tát lớn, còn không dám suy tưởng đến quả Phật, chư Thinh Văn, Duyên giác, lại cũng chẳng trông mong, huống chi chúng ta đời nay quá xa lạc.
Thuở xưa các vị ấy, chỉ biết có cái giới định huệ giải thoát, Khất sĩ, là đủ rồi, thế mà tốt đẹp hơn chúng ta lắm. Thật vậy, chỉ có kẻ thật hành mới là biết sợ, mà không còn dám nói chơi xem thường nữa, và có hành mới biết ra, là không phải giống theo y như cái học.
Vậy thì Phật tánh là tánh chơn như của vũ trụ, bậc giác ngộ nhận ra, lấy giữa làm mình, làm tâm, làm món ăn nuôi sống cái tâm.
Chúng ta ai ai cũng có thể thật hành giác ngộ được hết, mà điều cần nhứt là phải giải thoát, vì chỉ có giới định huệ cụ túc, mới nuôi chân như cụ tức ấy đặng. Nghĩa là : chúng sanh là kẻ Phật đã thành, Phật đang thành, và Phật chưa thành, chớ chẳng phải là: đã tất cả đều là Phật hết rồi, không tu, ngã chấp, khổ chết uổng oan, mà sanh tội nghiệp. Và tốt hơn là : nên gọi mình là chúng sanh mãi, chắc sẽ được tấn hóa, hữu ích, đi trên cao hơn hết.
Phải như vậy, hột non hột già cũng hột, nhưng cái mất cái còn có giống nhau đâu.
Sở dĩ chúng sanh cần phải biết đến chân tánh vũ trụ, để tập hành theo, là vì trong đời, chỉ có sự sanh tử là quan trọng hơn hết. Các con đường lối nào, nghệ nghiệp nào, có ra là cũng do cái sống trước đã. Có sống mới có tất cả, có sống mới có nói làm lo nghĩ, lo ăn, sắm mặc, tạo chỗ ở, thuốc men v.v...
Kìa trước mắt ta bao sự thành công sập đổ, từ xưa cho đến nay, cũng vì cái chết, mà vật chất chẳng hề tiến bộ, đến được cái bước khá cao. Chúng sanh đã phải bị cái già buộc chết, đã là một sự bất mãn lắm rồi : cái bịnh bắt chết, là một việc tức tối : thế mà còn có thêm những cái chết bất ngờ, rủi ro; lại do đâu mà có những vụ quyên sinh tự tử; đã vậy nào thôi, quỉ ma cũng giết, thú vật cũng giết, người ta lại giết hại cả người ta nữa. Người ta lại còn bày ra cả cơ khí lớn, chiến tranh to v.v....
Thật là vô lý quá, đời sống của nhơn loại vô lý quá. Đành rằng : chẳng ai biết được cái sống của mình trước khi sanh, chớ trong ngày hôm nay, với cái sống hiện tại, ai cũng lo sống cả. Bởi lo sống, nên mới có đủ con đường, nghệ nghiệp, tranh đấu lẫn nhau, rất nên tàn bạo, liều chết, mê say, để phải chết, mà quên đi cái lẽ sống, cũng vì sự sống. Chúng ta ai cũng ăn cơm để sống mỗi ngày, ai cũng muốn sống mãi, ai ai cũng muốn có cái sống, sau khi bỏ xác thân, cũng như cái trái chín khô, còn lại cái hột vĩnh viễn sống đời (lúc không còn vỏ ruột). Thật vậy, ai cũng muốn sống đến già, cũng như vỏ trái già, để còn được cái tâm hột giống. Ai ai cũng muốn như vậy hết, ai mà không tiếc cái thân trái vỏ non, chưa có hột tâm, mà nó phải bị chết thúi rụng ngang, không còn chi cả. Nào ai ăn cơm bữa nay, mà chẳng lo ngày mai. Như vậy kẻ thấy xa hiểu rộng, có ai mà không phải lo cho tinh thần về sau hơn là vật chất trước mặt. Ai mà chẳng muốn sống đời nầy và mãi mãi, mà muốn sống là phải nuôi cái sống, có nuôi cái sống, có sống được, mới ngó đến cái ăn sau. Vậy thì cái sống là chân như, cái chân như tự nhiên càng tô đắp, dưỡng nuôi, thì tâm hồn mới sống, có yên vui càng có ăn mãi, tinh thần mới được mập tươi : Có không tham vọng, tâm ta mới no đủ, có không sân si, tinh thần mới sáng láng mát mẻ trong sạch, thân khẩu ý không vọng động, thì tâm hồn mới an trụ cứng cõi. Có giới định huệ, mới gọi là có chân, mình, đầu của tâm, tâm ấy là chân như trơ lặng, y như vũ trụ lấy chân như vũ trụ làm mục đích, so sánh chân như vũ trụ mà trau tâm, vì cái chân như vũ trụ ấy, là đức tánh từ bi, thiện lành, ơn huệ, dung chứa tất cả, trong cái chân như là có trí huệ, và giác ngộ. Tâm ta mà được như thế ấy, là trong sạch, yên lặng sáng suốt, nghỉ yên vui vẻ trọn lành; ích lợi quý báu cho đời, ta không sợ lo chết khổ cho ta, và cả chúng sanh ai mà không tôn trọng nâng cao, nương dựa, xem ta như vũ trụ.
Do đó mà người ta quý trọng cái tánh vũ trụ hơn hết, người ta hàng tôn sùng nó là đức tánh, Phật tánh, giác tánh, chơn tánh, quý hơn cả thánh tánh, thiên tánh nữa ! Mà tánh là lẽ tự nhiên không vọng động, chớ không phải như món vật đồ chi. Người ta mà sùng bái nó, là bởi đối ngược với tánh chân như là vọng động; chúng sanh cũng vì vọng động, mà phải chết khổ, tội lỗi sái quấy không có được cái chi ích lợi bền dài vậy. Trong đời không bao giờ một kẻ vọng động mà có được thành công.
Bởi có ấy cho nên, sự trau giồi đức tánh dưỡng nuôi chân tánh, tập sửa tâm chân, giác ngộ y như Phật, là điều chánh lý hơn hết. Vì tâm chân già cứng tức là hột giống già cứng, tròn trịa sống đời tốt đẹp quý báu; thì cả thảy cái chi nên hay cũng sẽ từ đó mà sanh ra, và mới chắc thật gọi là có, có cái có được.
Kìa trước mắt ta bãi đất, mọc sanh một cái cây, lớn lên tượng trái, trái nuôi lần cho cái hột, sau rốt hột còn, trái lá hoa cây tiêu hết. Bây giờ cái hột ấy, mới sanh nảy cả rừng cây, cả rừng cây là do cái hột có ra, nơi trái hoa cây lá đất nước.
Người chủ của đất cây ấy, họ chỉ ngó ngay cái hột, một ngày kia, chớ nào họ có bảo thủ quý tiếc cái cây, lá, trái, hoa, đất, nước cho đặng, và là vô ích, thì còn ai muốn đặng để mà làm gì.
Sự nuôi tâm hồn ta cũng y như thế, lo thân là để nuôi tâm, chớ không phải giữ tiếc thân, hay phá hủy thân vô lý, mà gọi là không tâm, hay bỏ tâm thúi mục, tưởng chừng như thân vỏ trái vẫn còn nhỏ non, non nhỏ mãi mãi.
Thật vậy ! Trong đời nào ai có ngờ : sanh tử là cần, khổ vui là trọng, nào ai đã ngó cho cái sống vui hôm nay, ngày mai, và mãi mãi về sau, có được là do nhờ đức tánh, chớ chẳng phải sự việc bên ngoài. Trong đời nào ai dễ chịu được trơ lặng chơn như, như là chết té, mà hiểu được cái quý hay mầu diệu của nó ; nào ai có nhớ ra, là ta đang ở trong lòng vũ trụ, và để tìm cách sống của những bậc, đấng, như vũ trụ tối cao. Nào ai đã không cho cái huyền bí sâu xa là bí, là dốt, mà biếng nhác sưu tầm, đành phải chịu sự mê tín tà giáo của người dẫn đạo, cũng là sự mê tín theo bóng hình vật chất, sắc thân, cái có bên ngoài, ẩn hiện vô thường, ma biến, quỷ quyệt (ma quỷ), những sắc thân, cái có, vật chất, bên ngoài là ma quỷ, xảo thuật, giả dối, cõi ma ẩn hiện thay đổi vô chừng, cám dỗ mê hoặc. Khiến nên chúng sanh muôn loại, phải mê tríu lạc lầm khổ sở đớn đau, đua nhau tìm chết, giết hại thân tâm, liều càn tự vận, bặt lối ngày sau, chết rồi là hết.
Vậy thì : Muốn được tấm chơn sống nên, phải cần trí huệ (tức là giác ngộ, thì mới có tánh chân như) trí huệ do nhờ nhập định, định có bởi nơi giới, giới là Khất sĩ, Khất sĩ là chân tánh vũ trụ. Cho nên gọi Khất sĩ là họ của Phật Thích Ca, cũng như còn giới là còn Phật Thích Ca, còn đạo Phật, Khất sĩ, giới Khất sĩ là bao gồm dung chứa định huệ chơn như, Phật tánh giác tánh. Thế nên gọi Phật tánh là giới Khất sĩ vậy.
Cả thảy cái chi trog đời, nên hay ích lợi quý báu, cũng đều do nơi giới Khất sĩ Phật tánh cả.
Thế là chúng ta nên nhớ rằng : giác ngộ là giải thoát, giải thoát là Khất sĩ, Khất sĩ là chơn như, đến chơn như thì không còn nói luận chi nữa.
Vấn : Sao gọi Khất sĩ là Phật tánh ?
Đáp : Một thuở nọ sau khi thành Phật, đi giáo hóa khắp nơi, đức Thích Ca về tới xứ Ca Tỳ La Vệ, Ngài và chư Khất sĩ, ở trong vườn cây, gần chỗ ở của vua cha trước kia là Tịnh Phạn. Sáng bửa sau Ngài ngự đi trì bình khất thực, với chư Sa Môn. Bấy giờ có tin báo cho vua Tịnh Phạn hay. Vua liền đi ra kiếm Phật, cản đầu mà nói rằng ; Ngài chẳng biết tôi là vua sao ? Tôi có đủ sức cúng dường Ngài và chư đại chúng, đến bao lâu cũng được, sao Ngài lại đi xin làm chi cho xấu hỗ, cực nhọc; vả lại dòng họ Thích Ca từ xưa đến nay, thảy đều là vua chúa, nào có ai phải đi xin ăn đâu ? Xin Ngài chớ làm việc ấy.
Đức Thế Tôn trả lời rằng : Dòng họ của bệ hạ là vua chúa, nên sự bảo giữ ấy là rất phải. Còn như tôi, dòng họ tôi là Phật, cả chư Phật mười phương ba đời, thảy đều Khất sĩ cả, tôi có bổn phận phải noi dấu, giữ lại họ hàng Khất sĩ, chủng tộc Sa Môn của tôi, cũng y như bệ hạ vậy !
Thế là sau đó, đức Phật thản nhiên đi khất thực, vua Tịnh Phạn đành gạt nước mắt nhìn trân, không biết làm sao cản được !
Sau đó người ta đến hỏi Phật rằng : Sao lại họ Khất sĩ là họ của chư Phật, xấu xa như thế ?
Đức Phật giải rằng : Với lẽ thật trong vũ trụ, chúng sanh sanh ra, do nhân duyên chuyền níu, chẳng đầu duôi, cả thảy đều là bố thí cho nhau, chan sớt chia xẻ cho nhau, đang xin lẫn nhau, mới có cái sống biết, và sống biết tu học. Vì thế mà ai ai cũng là Khất sĩ cả, kẻ giác ngộ trí thức mới thấy ra cái chơn lý ấy; mục đích của chúng sanh là xin học. kìa chúng sanh đang xin với cỏ cây, nước, đất, thú, người, Trời, Phật tất cả, ai cũng xin cả, xin lẫn nhau, hiểu đến lẽ xin học, thì thấy rõ chơn như ngay, vì chúng sanh xin được học tạm, thì không có cái chi là tham sân si vọng động được cả, không có cái ta cảu ta gì hết, như vậy là sự khổ chết đâu còn có nữa được. Con đường Khất sĩ của chúng-sanh ấy, trong sạch chánh lý lắm, chẳng xấu xa đâu, bởi chúng-sanh vô minh lầm lạc, tưởng phải làm quấy, lấy quấy làm phải, nên hằng ngày lấy cắp ngang giành của nhau, không màng xin hỏi, gây sự bất công đàn áp, tội lỗi chứa chấp riêng mình, càng ngày to lớn quên lãng không hay, nên ngày nay mới khổ chết như cõi đời đây mãi vậy.
Cũng vì thế mà chư Phật, tánh của các ngài là Khất sĩ.
Các Ngài nói mình Khất sĩ là : để giữ mãi cái gốc vốn chân như không tham vọng.
Các Ngài nhớ mình Khất sĩ là : để cho ý muốn tham chẳng còn sanh.
Các Ngài thật hành Khất sĩ là : để cho thấy rõ cái không không của không tham vọng.
Khất sĩ là giải thoát trói buộc phiền não vô mình vọng động để sống bằng chơn như trí huệ, an lạc thong thả, rảnh rang, không còn tạo nghiệp, thì luân hồi sanh tử khổ, mới đặng dứt.
Đức Phật nói xong, người kia được nhận thấy ra khắp thế giới tòan là chư Phật, tất cả chúng sanh là tối mê. Lầm lạc, nạn khổ và cả thảy chư Phật, đều là Khất sĩ, đúng y như chơn lý, Khất sĩ sẽ là đạo Phật, là họ Phật, là chân tánh, Phật tánh, họ gốc con đường của người giác ngộ, không còn hoài nghi chi nữa, nên rất vui mừng tin chịu, đành lễ Phật, xin xuất gia nhập đạo, theo sát bên chơn Phật, nghe pháp, mà tu đắc thành A LA HÁN. Và cả xứ đó lần lần ai cũng được biết rõ đạo Phật là Khất sĩ chánh chơn cao thượng, là đạo cứu thế độ đời rốt ráo, nên ai ai thấy đều tỏ lòng hoan lạc khác thường, mà thật là sùng bái tôn trọng. Ấy vậy theo như đây, thì Phật tánh có ra, là do sự thật hành. Vậy chúng ta nên phải rán thật hành cho đúng, để làm y Phật, qui y như Phật, chẳng là quý báu hơn hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang ; Patriarch Minh Dang Quang
***
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
@@@

Văn bản gốc (đang điều chỉnh)
PHT TÁNH
Trang 624-635 ( Chơn lý số 41 )
Tánh là nguyên lý mà sanh ra: chúng sanh, vạn vật và "các pháp".
Tánh tức là "vũ trụ" không gian trơ lặng.
Tánh là bản nguyên của tất cả . 
Tánh là gốc nguồn của muôn loại.
Tánh cũng là bản chất đầu tiên của vũ trụ.
Tánh là tên họ, vốn, chơn thật của cả thảy, cũng là căn bản của hết thảy. 
Vũ trụ tự nhiên là bổn tánh, là Chân-Như không vọng động, hay là chánh định, cái ấy sanh ra tất cả thế giới, vạn vật, chúng sanh và các pháp, tứ đại địa cầu: đất, nước, lửa, gió, cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, có ra là do Chân-Như vũ trụ, ở trong Chân-Như vũ trụ.
Vậy nên tất cả đều có một họ, tánh, một gốc vốn, cội nguồn, nguyên lý, bản chất. Cả thảy đều ở trong một họ một tánh, con của một bà mẹ. Cái gì cũng đang chịu mang ân huệ, cái ích lợi, cái thiện trùm chứa, của ĐỨC TÁNH "Chân như" cả! "Chân như" là BẢN TÁNH của hết thảy vậy.
Vì thế cho nên khi xưa, đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng chư Phật quá khứ, hay cả hiện tại, vị lai, các Ngài sau khi đã giác ngộ, nhận ra cái tánh chân như ấy; các Ngài cho nó là tánh họ của các Ngài, họ cho của người giác-ngộ, PHẬT TÁNH, tánh của chư Phật . Tánh ấy chân như , không vọng động, trơ lặng không không, chân thật, nguyên lý, bản chất, gốc vốn, cội nguồn, mà ai ai giác ngộ ra, cũng đều trở lại ! Nên các chư Phật ấy, có gọi tên là NHƯ LAI, trở lại với chân như.
Như thế thì tất cả chúng sanh là một họ tánh chân như, thật Tánh; còn các họ Tánh sau nầy, là Tục tánh, pháp lý của chân như túa ra vậy. Cũng như tất cả chúng sanh đều có một con đường cái lớn, còn những con đường lối nghệ nghiệp tẻ lạc sau nầy, là chi nhánh tách lạc vọng động ngoằn nghèo, lẻ tẻ không thật .
Hiểu nơi Phật tánh, tức là hiểu được mọt món thuốc quý để trau tâm, un đúc thành tâm, dùng nó làm tâm, nuôi nó cho cái sống, cái giác, cái linh, được thiện chánh, lớn tròn, tốt đẹp quí báu. Tánh là chân như, tâm là trung tâm trụ cốt, chư Phật, bậc giác ngộ lấy tánh chân làm tâm trung, vì vậy mà người ta gọi là : Phật có tâm tánh, tâm chân, hay chân tâm là Phật. Vì kẻ có được tâm chân là người giác ngộ, kẻ ấy lời nói, việc làm, ý niệm, đã được chân như không vọng động, y như võ trụ chân tánh ! Hay là lời nói để đem lại chân như, cả thảy các pháp là đem lại chân như, hay từ trong chân như sanh ra vạn pháp.
Kìa một nhà sư tham thiền : Mỗi cái chi vọng động xảy đến, là Ngài tầm sát rốt ráo nguyên lý của nó, là chân tánh, mỗi pháp nào Ngài cũng thấy rõ tánh gốc của nó là chân như. Như vậy thì mỗi pháp hiện đến là mỗi chân như hiện đến, tô đắp tâm thêm to lớn, cứng chắc, tròn trịa, y như tánh chân vũ trụ. Như thế tức là nhà sư ấy, lấy cái pháp chân như, mượn cái tánh vũ trụ làm tâm, để tạo tâm chân, hay chân tâm vĩnh viễn của bậc giác ngộ, Phật. Đó tức là chơn như do vạn pháp.
Và như sau đó, pháp lý từ trong tâm chân giáo hóa dạy ra, để dắt dẫn chúng sanh đến với tâm chân y như mình, nên kêu là vạn pháp do chân như vậy.
Mỗi cái chân như của người tu đều có ra là do trí huệ, trí huệ là sự tầm sát tánh chân của các pháp, mà diệt bỏ giải thoát khỏi các pháp ấy, mới được chân như. Thế nên gọi là : chân như do trí huệ, trí huệ do chân như, hay cũng là : chân như do giải thoát, giải thoát do chân như, mà giải thoát tức là trí huệ. Trí huệ hoàn toàn. Tức là giải thoát hoàn toàn, chân như hoàn toàn, còn trí huệ nhỏ hẹp, thì giải thoát nhỏ hẹp, chân như sẽ nhỏ hẹp.
Khi xưa đức Pht Thích Ca có danh hiu Mâu Ni, là báu gii thoát, cũng y như thế. Trong khi Ngài gii thoát tt c các pháp, sau s thu sut "tánh chân" ca nó, tc là Ngài đã "Chân-Như" tròn tra, quý báu như viên ngc, viên ngc chân như y, tc là s gii thoát, có ra do s gii thoát là ct yếu, mà đức Pht, ly s gii thoát các lý l "c chp" làm trung tâm, nên chúng sanh xưng tng Ngài là món "bo-trân" ca Mâu Ni vô giá, quý giá vô cùng. Chính cái báu gii thoát chân như, là dit kh, là sng đời, là linh thiêng, là giác ng, là ht ging vĩnh vin, nên ai ai cũng quý trng lm. (Trang 626)
Vậy nên ai cũng muốn thấy nó, thấy bằng cách nó có cho minh nó ở với mình, mình đạt được. Như thế là thấy tánh thành Phật ! Mà thấy tánh là thấy cái chơn như, không vọng động, thấy cái giải thoát các pháp, các sở chấp, do sự giác ngộ trí huệ là Phật của mình, chớ chẳng phải thấy bằng nói, nghe, chữ viết, suy gẫm tưởng tượng v.v...
Bởi thế nên người tu cần phải giác ngộ, hiểu biết chân tánh vũ trụ cho kỹ, để lấy đó trau tâm, tập mình như vũ trụ, kết quả như vũ trụ. Mà cần phải hiểu biết rằng : chân tánh là do giác ngộ, vọng tánh là bởi mê lầm : vọng tánh là tánh ma, chân tánh mới phải chư Phật : mà chân tánh Phật, có ra là do trí huệ giải thoát, có giải thoát mới có thành Phật, gọi giác ngộ được. Cũng như có dứt bỏ mới hết mê lầm. Vì trong chân như thì không còn vọng động nữa, hay là nhờ thấy rõ chân tánh của pháp rồi, thì không nên sở chấp bên ngoài nữa, đừng mê tríu nó nữa, mới gọi chân như đặng.
Vậy thì đời nay, những ai muốn gọi mình là Thích tử, thì tất nhiên phải là kẻ giác ngộ, trí huệ, giải thoát xuất gia trọn vẹn cả thân tâm mới được, vì chỉ có Phật tánh, tánh “chân thật” là phải xuất gia giải thoát trong sạch mà thôi, từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều. Tánh “chân thật” Phật đầy đủ trọn vẹn, tức là sự xuất gia giải thoát trọn vẹn vậy. Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh, tất cả chúng sanh si mê đều có tánh giác, trong mỗi “cái mê” đều có ngầm chứa sự phản đối giác ngộ, trong mỗi “cái vọng”, đều có chứa cái tuơng đối là “chân thật”, câu nói ấy, để chỉ rõ ra rắng, người tu lúc đầu, là nơi các pháp chúng sanh, si mê vọng động, mà phải khổ chết, cũng vì pháp nào cũng khổ chết đó, họ mới giác ngộ, thấy ra chân tánh, giác ngộ, nơi mỗi pháp ác tà si mê vọng động, mà xa tránh, ghê sợ, bứt bỏ nó, để bảo giữ chân như trơ lặng giải thoát, chớ không phải giữ mãi cái “mê vọng”, ở hoài trong ấy, mà tưởng cái hiểu biết của mình là đã giác chân Phật rồi, để ra khốn lụy.
Kìa chư Phật giải thoát để nuôi tâm chơn. Đức Thích Ca được chân như là nhờ giải thoát, thì đời nay có ai tài gì, miệng nói, mà được cái giải thoát chơn như rồi đâu ?
Kìa một kẻ té dưới sống hẹp, bởi sợ chết khổ mới trèo lên bờ; có bờ cho nó trèo lên là bởi tại sông hẹp, bãi lài, có nấc lội lên; khi lên đến trên rồi, là được giải thoát, từ đó khát nước là uống nước mưa, tắm nước mưa, ở ăn cao ráo trong sạch, khác hơn hời bị sợ sệt, chết chìm nơi dưới nước sông kia vậy. Kẻ ấy, có chăng là khá hơn một người nọ, họ té xuống biển bị trôi giạt giữa vời không lên giải thoát, thế mà chưa hay sự khổ chết đến, lại chẳng biết chán sợ lo xa, còn cho rằng : mình tắm biển vui chơi, ở mãi, yên ổn sướng hơn kẻ khác trên bờ kia nữa.
Sự giác ngộ chân tánh vũ trụ để tu giải thoát, bước lên, dứt bỏ, là giống như kẻ trôi sông hẹp. Còn si mê lầm tưởng mình Phật, ở hoài nơi trói buộc vọng động, tức là như người té biển rộng mênh mông, không ích lợi vào đâu, cũng y như vậy.
Như thế nghĩa là người tu phải giải thoát, lấy giải thoát làm mục-đích, vì có bỏ ma mới trông thành Phật đặng, cũng như các pháp đều tương đối, ta phải lấy cái chơn, bò lìa cái vọng, ta phải y như Phật bỏ lìa chúng-sanh, mà không nên tiếc nó nữa.
Thích tử phải là khất sĩ du tăng; nếu không thì chỉ là hạng trời người: Bởi đó mà khi xưa có một vị Tỳ kheo nói chỉ có một họ với ông cha, mới phải là đứa con. Câu nói ấy chỉ rằng : Phật tử, Thích tử, Phật tánh, Thích tánh, phải là những kẻ xuất gia giải thoát, Khất sĩ Du Tăng, y như Phật Thích Ca mới đặng. Vì chỉ có con là phải nối chí cha, hành vi cử chỉ , lời nói, ý niệm, phải giống y như cha mới đúng. Như kìa con họ Lý, chẳng có ở bên họ Trần; giống như con Phật, phải ở trong nhà Phật, mà không có chen lộn trong nhà Trời, nhà người, hay trong các nhà khác ... Cũng như người giải thoát xuất gia chân như, là không bao giờ còn ở trong xã hội, gia đình các nơi vọng động, đặng đâu. Xưa kia các bậc Tỳ kheo Khất sĩ quen tâm chân như trơ lặng, chẳng bao giờ vào trong nhà thế ở đặng một ngày. Xưa kia những bậc thật hành chánh định chân như, mà còn như thế. Các bậc ấy đã khắc kỵ. Khác hẳn với cõi đời, không còn một niệm phàm tục, vấy tưởng bà con, mà còn khó được tâm trong sạch thay ! Huống hồ gì chúng ta ngày nay, cư gia “hữu lậu”, đang ở trong miếng đất giới luật 5 giới, 8 giới, 10 giới của nhà trời, đang làm con trời, thiện tánh, họ trời ở trong nhà trời, cõi trời; nếu không giải thoát xuất gia sanh vào trong nhà Phật thọ giới cụ túc Tỳ kheo, làm con Phật, y như Phật, thì làm sao nhập chánh định giác chân, y như Phật, mà lầm là đắc Phật tánh, thành Phật ! Như vậy nghĩa là : ngó Phật tánh, nhìn Phật tánh, hiểu Phật tánh, ở nơi mỗi việc, mỗi chỗ, mỗi người kia, ai cũng hiểu ngó mình bên ngoài được dễ dàng hết, chớ còn ngó lại có thấy nơi mình, có thật hành, có được hay không, thì thật là khổ lắm. Cũng như người sanh ra ở đời, nói chuyện Phật, thấy hình Phật, thì ai cũng thấy được, nhưng khi mình làm Phật, thì ít ai muốn chịu làm, không phải dễ dàng như ngó thoáng qua, hay nói suông được. Đời nay lắm kẻ chỉ học giáo pháp Phật Thích ca, mà tưởng lầm mình là Phật tử, Thích tử, cũng y như thế, không phải học Phật là con Phật đâu, chưa phải người đi nghe pháp Phật, là đệ tử ruột của Phật rồi đâu. Dầu đức Phật có ban ân khuyến dụ đi nữa chớ người tu là bao giờ cũng phải thấy lại nơi mình, thấy cái Phật tánh của mình, xem lại mình có giống y như Phật chăng, rồi sẽ hay, chớ đối với những ông già kỹ càng thận trọng, dày công tu tập lâu đời, mà hãy còn sự sệt lắm, không ai dám vội mở mắt ra, bôn chôn láo táo.
Thật vậy từ xưa, cho đến nay, những kẻ tăng sư chơn đạo, họ chỉ mãi lo tu, mà nào có dám nói là thấy mình, là có cái đắc, cái Phật, cái tánh gì đâu; khi xưa chư Bồ Tát lớn, còn không dám suy tưởng đến quả Phật, chư Thinh Văn, Duyên giác, lại cũng chẳng trông mong, huống chi chúng ta đời nay quá xa lạc.
Thuở xưa các vị ấy, chỉ biết có cái giới định huệ giải thoát, Khất sĩ, là đủ rồi, thế mà tốt đẹp hơn chúng ta lắm. Thật vậy, chỉ có kẻ thật hành mới là biết sợ, mà không còn dám nói chơi xem thường nữa, và có hành mới biết ra, là không phải giống theo y như cái học.
Vậy thì Phật tánh là tánh chơn như của vũ trụ, bậc giác ngộ nhận ra, lấy giữa làm mình, làm tâm, làm món ăn nuôi sống cái tâm.
Chúng ta ai ai cũng có thể thật hành giác ngộ được hết, mà điều cần nhứt là phải giải thoát, vì chỉ có giới định huệ cụ túc, mới nuôi chân như cụ tức ấy đặng. Nghĩa là : chúng sanh là kẻ Phật đã thành, Phật đang thành, và Phật chưa thành, chớ chẳng phải là: đã tất cả đều là Phật hết rồi, không tu, ngã chấp, khổ chết uổng oan, mà sanh tội nghiệp. Và tốt hơn là : nên gọi mình là chúng sanh mãi, chắc sẽ được tấn hóa, hữu ích, đi trên cao hơn hết.
Phải như vậy, hột non hột già cũng hột, nhưng cái mất cái còn có giống nhau đâu.
Sở dĩ chúng sanh cần phải biết đến chân tánh vũ trụ, để tập hành theo, là vì trong đời, chỉ có sự sanh tử là quan trọng hơn hết. Các con đường lối nào, nghệ nghiệp nào, có ra là cũng do cái sống trước đã. Có sống mới có tất cả, có sống mới có nói làm lo nghĩ, lo ăn, sắm mặc, tạo chỗ ở, thuốc men v.v...
Kìa trước mắt ta bao sự thành công sập đổ, từ xưa cho đến nay, cũng vì cái chết, mà vật chất chẳng hề tiến bộ, đến được cái bước khá cao. Chúng sanh đã phải bị cái già buộc chết, đã là một sự bất mãn lắm rồi : cái bịnh bắt chết, là một việc tức tối : thế mà còn có thêm những cái chết bất ngờ, rủi ro; lại do đâu mà có những vụ quyên sinh tự tử; đã vậy nào thôi, quỉ ma cũng giết, thú vật cũng giết, người ta lại giết hại cả người ta nữa. Người ta lại còn bày ra cả cơ khí lớn, chiến tranh to v.v....
Thật là vô lý quá, đời sống của nhơn loại vô lý quá. Đành rằng : chẳng ai biết được cái sống của mình trước khi sanh, chớ trong ngày hôm nay, với cái sống hiện tại, ai cũng lo sống cả. Bởi lo sống, nên mới có đủ con đường, nghệ nghiệp, tranh đấu lẫn nhau, rất nên tàn bạo, liều chết, mê say, để phải chết, mà quên đi cái lẽ sống, cũng vì sự sống. Chúng ta ai cũng ăn cơm để sống mỗi ngày, ai cũng muốn sống mãi, ai ai cũng muốn có cái sống, sau khi bỏ xác thân, cũng như cái trái chín khô, còn lại cái hột vĩnh viễn sống đời (lúc không còn vỏ ruột). Thật vậy, ai cũng muốn sống đến già, cũng như vỏ trái già, để còn được cái tâm hột giống. Ai ai cũng muốn như vậy hết, ai mà không tiếc cái thân trái vỏ non, chưa có hột tâm, mà nó phải bị chết thúi rụng ngang, không còn chi cả. Nào ai ăn cơm bữa nay, mà chẳng lo ngày mai. Như vậy kẻ thấy xa hiểu rộng, có ai mà không phải lo cho tinh thần về sau hơn là vật chất trước mặt. Ai mà chẳng muốn sống đời nầy và mãi mãi, mà muốn sống là phải nuôi cái sống, có nuôi cái sống, có sống được, mới ngó đến cái ăn sau. Vậy thì cái sống là chân như, cái chân như tự nhiên càng tô đắp, dưỡng nuôi, thì tâm hồn mới sống, có yên vui càng có ăn mãi, tinh thần mới được mập tươi : Có không tham vọng, tâm ta mới no đủ, có không sân si, tinh thần mới sáng láng mát mẻ trong sạch, thân khẩu ý không vọng động, thì tâm hồn mới an trụ cứng cõi. Có giới định huệ, mới gọi là có chân, mình, đầu của tâm, tâm ấy là chân như trơ lặng, y như vũ trụ lấy chân như vũ trụ làm mục đích, so sánh chân như vũ trụ mà trau tâm, vì cái chân như vũ trụ ấy, là đức tánh từ bi, thiện lành, ơn huệ, dung chứa tất cả, trong cái chân như là có trí huệ, và giác ngộ. Tâm ta mà được như thế ấy, là trong sạch, yên lặng sáng suốt, nghỉ yên vui vẻ trọn lành; ích lợi quý báu cho đời, ta không sợ lo chết khổ cho ta, và cả chúng sanh ai mà không tôn trọng nâng cao, nương dựa, xem ta như vũ trụ.
Do đó mà người ta quý trọng cái tánh vũ trụ hơn hết, người ta hàng tôn sùng nó là đức tánh, Phật tánh, giác tánh, chơn tánh, quý hơn cả thánh tánh, thiên tánh nữa ! Mà tánh là lẽ tự nhiên không vọng động, chớ không phải như món vật đồ chi. Người ta mà sùng bái nó, là bởi đối ngược với tánh chân như là vọng động; chúng sanh cũng vì vọng động, mà phải chết khổ, tội lỗi sái quấy không có được cái chi ích lợi bền dài vậy. Trong đời không bao giờ một kẻ vọng động mà có được thành công.
Bởi có ấy cho nên, sự trau giồi đức tánh dưỡng nuôi chân tánh, tập sửa tâm chân, giác ngộ y như Phật, là điều chánh lý hơn hết. Vì tâm chân già cứng tức là hột giống già cứng, tròn trịa sống đời tốt đẹp quý báu; thì cả thảy cái chi nên hay cũng sẽ từ đó mà sanh ra, và mới chắc thật gọi là có, có cái có được.
Kìa trước mắt ta bãi đất, mọc sanh một cái cây, lớn lên tượng trái, trái nuôi lần cho cái hột, sau rốt hột còn, trái lá hoa cây tiêu hết. Bây giờ cái hột ấy, mới sanh nảy cả rừng cây, cả rừng cây là do cái hột có ra, nơi trái hoa cây lá đất nước.
Người chủ của đất cây ấy, họ chỉ ngó ngay cái hột, một ngày kia, chớ nào họ có bảo thủ quý tiếc cái cây, lá, trái, hoa, đất, nước cho đặng, và là vô ích, thì còn ai muốn đặng để mà làm gì.
Sự nuôi tâm hồn ta cũng y như thế, lo thân là để nuôi tâm, chớ không phải giữ tiếc thân, hay phá hủy thân vô lý, mà gọi là không tâm, hay bỏ tâm thúi mục, tưởng chừng như thân vỏ trái vẫn còn nhỏ non, non nhỏ mãi mãi.
Thật vậy ! Trong đời nào ai có ngờ : sanh tử là cần, khổ vui là trọng, nào ai đã ngó cho cái sống vui hôm nay, ngày mai, và mãi mãi về sau, có được là do nhờ đức tánh, chớ chẳng phải sự việc bên ngoài. Trong đời nào ai dễ chịu được trơ lặng chơn như, như là chết té, mà hiểu được cái quý hay mầu diệu của nó ; nào ai có nhớ ra, là ta đang ở trong lòng vũ trụ, và để tìm cách sống của những bậc, đấng, như vũ trụ tối cao. Nào ai đã không cho cái huyền bí sâu xa là bí, là dốt, mà biếng nhác sưu tầm, đành phải chịu sự mê tín tà giáo của người dẫn đạo, cũng là sự mê tín theo bóng hình vật chất, sắc thân, cái có bên ngoài, ẩn hiện vô thường, ma biến, quỷ quyệt (ma quỷ), những sắc thân, cái có, vật chất, bên ngoài là ma quỷ, xảo thuật, giả dối, cõi ma ẩn hiện thay đổi vô chừng, cám dỗ mê hoặc. Khiến nên chúng sanh muôn loại, phải mê tríu lạc lầm khổ sở đớn đau, đua nhau tìm chết, giết hại thân tâm, liều càn tự vận, bặt lối ngày sau, chết rồi là hết.
Vậy thì : Muốn được tấm chơn sống nên, phải cần trí huệ (tức là giác ngộ, thì mới có tánh chân như) trí huệ do nhờ nhập định, định có bởi nơi giới, giới là Khất sĩ, Khất sĩ là chân tánh vũ trụ. Cho nên gọi Khất sĩ là họ của Phật Thích Ca, cũng như còn giới là còn Phật Thích Ca, còn đạo Phật, Khất sĩ, giới Khất sĩ là bao gồm dung chứa định huệ chơn như, Phật tánh giác tánh. Thế nên gọi Phật tánh là giới Khất sĩ vậy.
Cả thảy cái chi trog đời, nên hay ích lợi quý báu, cũng đều do nơi giới Khất sĩ Phật tánh cả.
Thế là chúng ta nên nhớ rằng : giác ngộ là giải thoát, giải thoát là Khất sĩ, Khất sĩ là chơn như, đến chơn như thì không còn nói luận chi nữa.
Vấn : Sao gọi Khất sĩ là Phật tánh ?
Đáp : Một thuở nọ sau khi thành Phật, đi giáo hóa khắp nơi, đức Thích Ca về tới xứ Ca Tỳ La Vệ, Ngài và chư Khất sĩ, ở trong vườn cây, gần chỗ ở của vua cha trước kia là Tịnh Phạn. Sáng bửa sau Ngài ngự đi trì bình khất thực, với chư Sa Môn. Bấy giờ có tin báo cho vua Tịnh Phạn hay. Vua liền đi ra kiếm Phật, cản đầu mà nói rằng ; Ngài chẳng biết tôi là vua sao ? Tôi có đủ sức cúng dường Ngài và chư đại chúng, đến bao lâu cũng được, sao Ngài lại đi xin làm chi cho xấu hỗ, cực nhọc; vả lại dòng họ Thích Ca từ xưa đến nay, thảy đều là vua chúa, nào có ai phải đi xin ăn đâu ? Xin Ngài chớ làm việc ấy.
Đức Thế Tôn trả lời rằng : Dòng họ của bệ hạ là vua chúa, nên sự bảo giữ ấy là rất phải. Còn như tôi, dòng họ tôi là Phật, cả chư Phật mười phương ba đời, thảy đều Khất sĩ cả, tôi có bổn phận phải noi dấu, giữ lại họ hàng Khất sĩ, chủng tộc Sa Môn của tôi, cũng y như bệ hạ vậy !
Thế là sau đó, đức Phật thản nhiên đi khất thực, vua Tịnh Phạn đành gạt nước mắt nhìn trân, không biết làm sao cản được !
Sau đó người ta đến hỏi Phật rằng : Sao lại họ Khất sĩ là họ của chư Phật, xấu xa như thế ?
Đức Phật giải rằng : Với lẽ thật trong vũ trụ, chúng sanh sanh ra, do nhân duyên chuyền níu, chẳng đầu duôi, cả thảy đều là bố thí cho nhau, chan sớt chia xẻ cho nhau, đang xin lẫn nhau, mới có cái sống biết, và sống biết tu học. Vì thế mà ai ai cũng là Khất sĩ cả, kẻ giác ngộ trí thức mới thấy ra cái chơn lý ấy; mục đích của chúng sanh là xin học. kìa chúng sanh đang xin với cỏ cây, nước, đất, thú, người, Trời, Phật tất cả, ai cũng xin cả, xin lẫn nhau, hiểu đến lẽ xin học, thì thấy rõ chơn như ngay, vì chúng sanh xin được học tạm, thì không có cái chi là tham sân si vọng động được cả, không có cái ta cảu ta gì hết, như vậy là sự khổ chết đâu còn có nữa được. Con đường Khất sĩ của chúng-sanh ấy, trong sạch chánh lý lắm, chẳng xấu xa đâu, bởi chúng-sanh vô minh lầm lạc, tưởng phải làm quấy, lấy quấy làm phải, nên hằng ngày lấy cắp ngang giành của nhau, không màng xin hỏi, gây sự bất công đàn áp, tội lỗi chứa chấp riêng mình, càng ngày to lớn quên lãng không hay, nên ngày nay mới khổ chết như cõi đời đây mãi vậy.
Cũng vì thế mà chư Phật, tánh của các ngài là Khất sĩ.
Các Ngài nói mình Khất sĩ là : để giữ mãi cái gốc vốn chân như không tham vọng.
Các Ngài nhớ mình Khất sĩ là : để cho ý muốn tham chẳng còn sanh.
Các Ngài thật hành Khất sĩ là : để cho thấy rõ cái không không của không tham vọng.
Khất sĩ là giải thoát trói buộc phiền não vô mình vọng động để sống bằng chơn như trí huệ, an lạc thong thả, rảnh rang, không còn tạo nghiệp, thì luân hồi sanh tử khổ, mới đặng dứt.
Đức Phật nói xong, người kia được nhận thấy ra khắp thế giới tòan là chư Phật, tất cả chúng sanh là tối mê. Lầm lạc, nạn khổ và cả thảy chư Phật, đều là Khất sĩ, đúng y như chơn lý, Khất sĩ sẽ là đạo Phật, là họ Phật, là chân tánh, Phật tánh, họ gốc con đường của người giác ngộ, không còn hoài nghi chi nữa, nên rất vui mừng tin chịu, đành lễ Phật, xin xuất gia nhập đạo, theo sát bên chơn Phật, nghe pháp, mà tu đắc thành A LA HÁN. Và cả xứ đó lần lần ai cũng được biết rõ đạo Phật là Khất sĩ chánh chơn cao thượng, là đạo cứu thế độ đời rốt ráo, nên ai ai thấy đều tỏ lòng hoan lạc khác thường, mà thật là sùng bái tôn trọng. Ấy vậy theo như đây, thì Phật tánh có ra, là do sự thật hành. Vậy chúng ta nên phải rán thật hành cho đúng, để làm y Phật, qui y như Phật, chẳng là quý báu hơn hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang 
***
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
"Bấm vào chữ Dịch bên dưới" !  <= (mở trang nầy! trước khi Dịch ! đã có liên kết trang!)
(Hãy bấm  quay trở lại ! Sau khi đã copy bản dịch hoàn chỉnh !) (Copy văn bản dán vào ô Dịch)

Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Pháp
Phát hiện ngôn ngữ
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Trung (Giản Thể)












Tiêu đề của tôi






Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét