Thứ Năm, tháng 11 28, 2013

49. Kinh Địa Tạng ; Ksitigarbha

Thực hành dịch sang Anh ngữ tự học: số 49
Practice self-taught English translation: No. 49
(Hiệu chỉnh và dịch thuật : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen)
* Dịch sang Anh ngữ; Translations into English: Học hành phải biết "chỗ sai"...Tầm cầu học hỏi, miệt mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body!

KINH ĐỊA TẠNG
 Ksitigarbha
(Earth Store Bodhisattva)
Trang 734-748 ; Pages 734-748 )

I.— Sự tích, Địa Tạng Bồ Tát ; The legend, Earth Store Bodhisattva:
ĐỨC PHẬT THÍCH CA khi xưa có nói : Thuở xưa quá khứ, có ra đời một vị Phật tên là : Sư Tử Phấn Chấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, đủ cả 32 tướng tốt, 80 cách đẹp. Bấy giờ có con của một vị trưởng giả, bạch hỏi Phật rằng : Bạch đức Thế Tôn, phải làm hạnh nguyện gì, mới được tướng ấy. Phật đáp rằng : Muốn chứng thân này, thì phải trải lâu đời; độ thoát tất cả chúng sanh thọ khổ. Khi ấy con người trưởng giả mới phát nguyện rằng : Nay tôi nguyện tự động về sau mãi mãi cho tới vô số kiếp, chẳng có thể kể ra được, rộng mở đường phương tiện, độ cho chúng-sanh tội khổ trong sáu đường, khiến cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới thành Phật sau.
Nam Mô: Địa Tạng Vương Bồ Tát
Namo: Stratum Bodhisattva
Về truyện, "sự tích" này, là để chỉ rõ ra rằng ; Regarding the story, "the legend" this is to point out that: : Những ai muốn có đủ 32 tướng tốt, 80 cách đẹp của đức Như Lai, thì phải tu hạnh cụ túc trọn đủ vạn hạnh, tinh tấn hùng lực sư tử phấn chấn. Người trưởng-giả tức là người giàu lòng từ thiện, thiện lành sanh thức trí là con, trí thức của nhà từ thiện, tầm tõi quán xét, tự hỏi han suy gẫm, nơi pháp tu vạn hạnh trọn đủ tinh tấn hùng lực của chư Phật rằng : Phải tu làm sao mới chứng được sự tốt đẹp như chư Phật? Bấy giờ người giác-ngộ ra rằng : Muốn được tướng tốt cách đẹp ấy, là phải trải qua lâu đời độ thoát tất cả chúng-sanh thọ khổ, chính trong phép tu tinh-tấn hùng lực trọn đủ vạn hạnh để thành Phật, là chỉ dạy y như vậy. Sau khi trí thức của nhà từ thiện, nhờ thấy rõ nơi pháp tu tinh-tấn hùng lực trọn đủ vạn hạnh của chư Phật, mà được giác-ngộ, nên liền nhận ra được bổn nguyện chánh lý của mình, là từ đây trở về sau, mãi mãi cho tới vô số kiếp, chẳng có thể kể ra được, nên phải rộng mở đường phương tiện, độ cho chúng-sanh tội khổ trong sáu đường, khiến cho họ giải-thoát tất cả rồi tự thân mình mới thành Phật sau được.
Đó là sự phát tâm đầu tiên của Ngài Địa-tạng Bồ-Tát, hay cũng là nhà từ thiện được thức tỉnh, thoạt mới khởi lòng bồ đề đại nguyện. Hay cũng có thể nói là thân thiện lành sanh thức trí mà phát khởi bi nguyện độ chúng-sanh, để mong cầu quả Phật về sau. Địa-Tạng Bồ-Tát, nghĩa là đại nguyện của pháp tế độ chúng-sanh ấy là một danh từ pháp lý chỉ dạy như thế, chớ không phải riêng ai cả. Đức Phật Thích-Ca dạy giáo lý thượng thặng đại thừa cho bậc pháp sư Bồ-Tát thượng trí, chỉ rõ pháp Địa-Tạng Bồ-Tát cho thấy biết hiểu nghe là như thế. Ai ai cũng là đắc tâm đại nguyện hoằng pháp Địa Tạng Vương Bồ-Tát hết, cả thảy chư Phật, chư Bồ-Tát, cũng đều là Địa Tạng độ hết chúng sanh, vì chưa độ hết chúng-sanh thì chẳng bao giờ thành Phật, đắc Niết-Bàn. Việc ấy có khác nào, những chúng-sanh trong tâm của mình, mà mình chưa độ hết, trí-huệ chưa đầy đủ, chưa giác-ngộ hoàn toàn, thì làm sao đắc chơn như đặng, thế mới biết rằng : Đại định Niết Bàn có ra, do Bồ-Tát trí huệ, Bồ-tát trí huệ là đại nguyện Địa Tạng đó.
Địa nghĩa là : cứng, dầy, đựng chứa, rộng khắp.
Địa là nền tảng của tư cách con người.
Địa là nội bộ bản tâm của mình.
Nơi đây, "Địa" là đại nguyện lực: cứu tế độ dẫn, chúng sanh. "Tạng" là Pháp bảo tam tạng: kinh tạng, luật tạng, luận giảng, gồm khắp. "Vương" là tâm vua: chủ tể. Here, the "Location" is great volunteer force: Relief conductivity, beings. "Tibetan" Tripitaka Dharma is: Sutras, Vinaya, commentaries, including around. "King" is the King Center: sovereignty. Vậy thì Địa-Tạng Vương tức là tâm nguyện của pháp, ai ai kẻ giác-ngộ ra cũng thảy đều có cả. Đó là tâm nguyện của pháp, kẻ nào đắc pháp, là có tâm nguyện ấy của mình, thì tức mình là Địa-tạng Vương, hay là hoá thân của Địa Tạng, do pháp lý Địa-Tạng, biến hoá tạo sanh ra, ai ai những chư Bồ-Tát, cũng nói thảy là hoá thân của Địa-Tạng được, thân của Địa-Tạng, tức là việc làm theo nguyện pháp, pháp là tế-độ cả chúng-sanh, nguyện pháp là không bao giờ nỡ bỏ chúng-sanh, việc làm tốt đẹp của nguyện pháp, tức là như thân Địa-Tạng, là việc làm tinh tấn, hùng lực tu hành trọn đủ vạn hạnh, để thành Phật, như chư Phật. Như thế nghĩa là thân của Địa-Tạng, tốt đẹp giống như thân của “Sư-Tử Phấn-Chấn Cụ Túc Vạn-Hạnh Như-Lai” vậy.
II.—LẠI VẦY NỮA : MỘT KIẾP KẾ SAU ĐÓ CỦA ĐỊA TẠNG :
Thuở xưa có một người con gái Bà-La Môn, phước đức rất lớn. Mẹ nàng chết đoạ vào ngục vô gián A tỳ : Nàng bán hết nhà cửa đồ vật, mua sắm món cúng dường, đem đến trước chỗ thờ Phật Giác-Hoa Định-Tự Tại Vương Như Lai, mà cúng lạy, khóc lóc, nhìn trân cốt Phật, và vái nguyện cầu xin cho biết chỗ thác sanh của mẹ. Bỗng nghe trên không trung, đức Phật ứng tiếng dạy nàng, bảo về nhà ngồi niệm tưởng danh hiệu Phật, thì sẽ liền biết được. Quả nhiên sau đó nàng trở về nhà, tắm rửa sạch sẽ, ngồi niệm tưởng được một ngày một đêm, mơ màng thân mình tới một biển lớn, thấy chó sắt, rắn sắt đang hành phạt chúng-sanh trồi hụp. Nàng gặp quỉ vô độc, chỉ cho biết nghiệp hải, và địa-ngục trong núi Đại Thiết Vi. Còn bà mẹ của nàng, đã được sanh lên cõi trời, là do nhờ phước đức cúng-dường của nàng, cho đến các tội nhơn trong địa-ngục đó, cũng được siêu thoát theo nữa . Liền đó nàng tỉnh dậy, đến trước Phật mà phát nguyện rằng : Tội nguyện cho hết các kiếp vị-lai, hễ có chúng-sanh nào mắc tội khổ, thì tôi sẽ mở rộng đường phương-tiện, khiến cho họ giải-thoát hết. Pháp-lý này chỉ dạy rằng : sau sự phát tâm của nhà từ thiện, là sẽ trở nên nhà cư-sĩ trí-thức. Người cư-sĩ trí thức ấy, cũng như nàng con gái Bà-La-Môn, bởi tâm còn yếu đuối, đối với sự tu hành mới tập, bởi là cư-sĩ nhơn thiên, nên không khác gì giáo-lý Bà-La-Môn cả; nhưng nhờ thiện lành mà phước-đức rất nhiều. Người cư-sĩ trí-thức như cô gái đó, gặp phải lúc chúng-sanh là như bà mẹ, chết mất tinh thần đạo đức lòng nhơn lẽ thiện, họ như là kẻ chết tâm. Chỉ còn xác thân, chôn sâu trong giữa hầm lợi danh ác trược, của đời vật-chất. Tâm hồn của họ bị chôn nhốt trong xác thân địa-ngục vật-chất tứ-đại, để chịu sự hành phạt khổ-sở, của mỗi ngày đêm không gián đoạn.
Bấy giờ người dứt bỏ hết vật-chất của-cải lòng tham, người lo tìm học đạo pháp, để đem đạo lý ấy hồi-hướng giáo-hoá chúng-sanh, cho họ được giác-ngộ pháp trí liên-hoa trong sạch giải-thoát, không ô nhiễm, tâm định như chư Phật. Người rất khẩn cầu mong muốn, ngó ngay nơi pháp giác-ngộ giải-thoát không ô-nhiễm tâm định của chư Phật, mà tìm hiểu coi tại sao chúng-sanh đoạ-lạc và sẽ đi về đâu, mà chẳng đặng như Phật. Thế là cũng như trong lúc ấy, người nhận nghe được tiếng nói của pháp giác-ngộ giải-thoát thanh tịnh, tâm của chư Phật dạy bảo rằng : Ngươi hãy cố gắng quán xét tưởng niệm nơi pháp-lý danh-từ nầy, mà thật hành không giải-đãi, thì sẽ kinh nghiệm thấy rõ ra được.
Người bèn nhận rõ nghĩa-lý, hạp lòng vui chịu, thích hợp hành theo, quả nhiên trong một niệm tinh-tấn tu hành, trong sạch, không tưởng quấy, người thấy người như được bay cao trên hơn thiên-hạ; người thấy ra cõi đời là biển khổ mênh-mông; phiền não là sóng dợn ba đào : sự tà nguỵ, sự cầu xé là cho sắt, rắn sắt ( bởi nơi cái có có), tham sân si ý muốn của con người là quỉ vô độc, nó làm chủ cuốn lôi hành phạt. Tội nghiệp của người đời tích dồn như biển để tự mình chịu khổ phạt, biển ấy là trí-óc tội-lỗi của con người, xác thân nầy là hòn núi Đại Thiết Vi, là tứ đại nhốt vây, là lời nói việc làm chất chứa. Trong giữa nói làm nhốt vây ấy là địa-ngục. Địa-ngục là sự ác trói-buộc. Trong đó có 18 địa-ngục lớn ( là sáu căn, sáu trần, sáu thức), 18 giới ác dục làm địa ngục, lại có 500 địa-ngục nhỏ, là hàng trăm pháp mê muội của ngũ-uẩn nhốt ngăn báo hại. Cùng vô số sự ác khổ, vô số sự chấp vô-minh địa-ngục nhỏ nữa, nói không cùng. Nhưng khi ấy cái ý quỉ vô độc của họ, chỉ bảo cho biết rằng : nhờ phước-đức tu hành vì chúng-sanh để tế-độ, của người cư-sĩ trí thức ấy, đối với pháp giác-ngộ giải-thoát trong sạch, tâm yên lặng như chư Phật, nên chúng-sanh ở trong xứ đó, sẽ được sự cảm hoá, ích lợi, siêu vượt lên cao thiên-đường, ấy là nhờ người giáo-hoá dạy-dỗ và để gương lành cho vậy. Khi ấy người cư-sĩ thấy rõ kết quả việc làm của mình, là chỉ đưa chúng-sanh được lên tới cõi người trời, trên cao, nhưng nơi đó họ cũng còn phải khổ, và không vững chắc yên vui được, nên đối với pháp giác- ngộ giải-thoát trong sạch yên lặng tâm của chư Phật, mà phát nguyện rằng : Tội nghiệp cho hết các kiếp vị-lai, hễ có chúng-sanh nào mắc tội khổ, thì tôi sẽ rộng mở đường phương-tiện, khiến cho họ giải-thoát hết.
III.—LẠI VẦY NỮA : MỘT CÂU CHUYỆN KHÁC VỀ ĐỊA TẠNG 
Tiếp đây sự tích tiền thân thứ ba của Ngài Địa-Tạng. Đức Phật Thích-Ca nói : Thuở trước có hai nhà vua nhân từ, hay làm những việc lợi lớn cho thiên-hạ; bây giờ ở bên xứ láng giềng, dân chúng ác hung me- muội khổ sở. Một ông vua phát nguyện rằng : Nguyện tôi thành Phật cho sớm đặng độ bọn ấy, khiến cho không còn sót một kẻ nào. Ông vua ấy về sau thành Phật, hiệu là Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Còn một ông vua kia lại nguyện : Nếu trước chẳng độ kẻ tội khổ, khiến cho họ được yên vui, được tới cõi bồ-đề, thì tôi chưa muốn thành Phật, vị vua nầy tức là Địa-Tạng Bồ-Tát. —Triết lý này chỉ dạy rằng : từ một người thiện nhơn, phát nguyện độ chúng-sanh, để mong cầu quả Phật, nhờ vậy mà đến được làm cư-sĩ trí-thức, lại thêm phát nguyện độ giải-thoát hết chúng-sanh, nên đến đây người giải-thoát xuất-gia khất-sĩ, tiến bước lên cao, đi trước để dẫn đường cho chúng-sanh. Người giải thoát xuất gia khất-sĩ tức như là ông vua, vua đây là sự tự chủ của bản tâm, là thong-thả rảnh rang nhàn lạc, yên-vui hạnh-phúc trong sạch cao thượng quí báu hơn hết. Nhưng đối với người xuất-gia giải-thoát là như có gặp đến hai sở chấp, hai nẻo đường, hai bổn nguyện, hai ông vua, hai cái tâm, hai pháp để làm Phật ! Một pháp để thành tựu Nhất-thiết-trí, tự độ cho mình trước thành Phật, sau mới độ chúng-sanh, pháp nầy là pháp của tất cả chư Phật đang hành xuôi thuận. Còn một pháp ngược nghịch tương đối là : nguyện độ tất cả chúng-sanh, rồi mới thành Phật; pháp nầy là pháp của chư đại Bồ-Tát, giữ hoài đại nguyện, nên kêu gọi là Địa-Tạng, Tuỳ hai pháp tương-đối, nhưng thật ra không có gì là khác nhau cả, Như-Lai tức là Đại Bồ-Tát, đại Bồ-Tát tức là Như-Lai, đốc học là thầy giáo lão, thầy giáo lão là đốc học, vốn là một; nhưng mà kiến chấp của chúng-sanh chẳng đồng, nên Phật mới bày ra hai tên như vậy, chơn-như tức là trí-huệ, trí-huệ tức là chơn-như, vốn chẳng phải là hai, nó vẫn sẵn có nơi nhau, ai gọi sao cũng được, vả lại muốn thành Phật là phải độ chúng-sanh rồi mới thành Phật, hai câu ấy đâu có gì khác. Hay như có người cố gắng giữ cái Phật của mình, đặng làm gương độ người, còn một người quyết lo độ chúng-sanh, để đặng trau cái Phật của mình, hai pháp ấy cũng như nhau, cả thảy đều có ta có người, có người có ta trong đó cả.
Một phép trau giồi trí-huệ Phật, còn một phép trau giồi hạnh nguyện, pháp nào cũng có đủ nguyện trí, hay trí nguyện để đến được chơn-như. Nhưng một pháp xưng là Như-Lai còn một pháp gọi là Bồ-Tát, hai pháp ấy vốn không hơn kém vậy. Vì pháp nào cũng phải độ hết chúng-sanh trong tâm rồi mới thành Phật, chớ tâm chúng-sanh cứ sanh ra mãi, nhơn-duyên chẳng đầu đuôi, đâu có ai bao giờ độ hết, chư Bồ-Tát độ chúng-sanh như ăn cơm, như việc làm, ăn hoài ăn mãi, no ngủ quên chẳng hay : làm hoài làm mãi, mệt ngủ quên chẳng biết, các Ngài thành Phật, đắc Niết-Bàn chơn-như đại-định cũng y như thế. Nhờ nguyện lực trí-huệ mà đến chơn-như tự-nhiên, như ngủ quên, quên mất, tự lúc nào, đâu còn biết chi trí-huệ và nguyện lực, hay chúng-sanh gì, thế mới biết rằng : trí huệ và nguyện lực là như chiếc bè tạm, tấp đến bờ rồi, là bè không còn có nữa, bè tức là đất, đất tức là bè, các Ngài đâu còn tính chấp sự lấy bỏ chi nó nữa; khi trình-độ con người đã đến Niết-Bàn chơn-như, là nó đến bằng cách tự nhiên, há có ai cấm cản nó đặng sao? Nhưng tuy vị Bồ-Tát đó đã thành Phật nhập Niết-Bàn rồi, chớ nguyện lực và trí huệ, cũng vẫn còn mãi để lại đời sau choo người thay thế, ấy tức như là còn độ mãi mãi đó. Nghĩa là cái danh từ pháp lý đó, nó không bao giờ dứt mất yên nghỉ cả. Về sau những y pháp ấy thật hành, kêu gọi là hoá thân Phật, hoá thân Bồ-Tát. Như thế tức là vị Phật hay Bồ-Tát ấy, sống mãi, làm việc hoài, bằng pháp lý danh từ đó vậy.
Thế mới biết rằng : Pháp bảo của Như-Lai dạy trao phương tiện trí huệ cho Bồ-Tát, là rộng rãi cao siêu lắm. Mỗi một danh từ, mỗi một pháp lý, có thể biến hoá chỉ ra thân hình trước mặt, cho thấy rõ, hằng cả võ trụ, chư Phật, các pháp, chúng sanh thế giới vạn vật, thật là thần thông mầu diệu, Pháp bảo không lường, chúng sanh khó mà hiểu đặng ý pháp của chư Phật. Sự tích thứ ba này, là chỉ rõ rằng : nguyện lực sẽ dắt con người đi tới mãi, từ người thiện nhơn , đến cư sĩ trí thức, đến được xuất-gia, giải-thoát khất-sĩ như vua, ở bờ bến này còn chúng-sanh mê muội tội lỗi là như ở bờ bên kia, xóm láng giềng. Khi đến khất-sĩ, tâm người lại gặp hai nẻo đi, hai sở chấp, hai cái tâm ấy đều tốt đẹp cả, một cái thành Phật trước, là nhứt thiết trí thành tựu, rồi mới độ chúng sanh sau, còn một cái là giữ gìn bổn nguyện của pháp, nên kêu gọi là Bồ-Tát Địa-Tạng. Nhưng thật ra, Pháp bảo là có sẵn nhứt thiết trí thành tựu và bổn nguyện Địa-Tạng tự nhiên nó có sẵn cả hai tên, chớ không có ai cố chấp chi cả. Tên nào cũng là Phật như nhau, nhưng đối với chúng sanh thì phải nói là hai, để được mau tỏ ngộ.
Kế đây là sự tích thứ tư như vầy : Xưa có nàng Quang-Mục, đến ngày vía mẹ,cung-dường cho một vị A-La-Hán và hỏi chỗ thác sanh của mẹ. Vị sư này nhập định, thấy mẹ ở địa-ngục, vì bởi tội giết hại rất nhiều và chửi mắng, lại ăn thịt rùa và trứng có đến số muôn ngàn. Ngài khuyên nàng niệm danh hiệu Phật Thanh-Tịnh Liên-Hoa-Mục, và tô vẽ hình tượng Phật. Nàng làm theo, tối lại chiêm bao thấy Phật phán rằng : Mẹ ngươi sẽ sanh ra ở trong nhà ngươi, vừa lọt lòng biết đói lạnh, và liền nói năng được. Quả nhiên sự thật có y vậy, ba bữa sau mẹ nàng được sanh ra, làm con của đứa tớ gái, nói rằng : tuổi được 13 sẽ chết đoạ địa ngục trở lại, và than cầu cứu với nàng, vì bởi tội khổ địa ngục nói không cùng. Nàng liền bạch lên hư không với Phật xin khỏi tội mẹ, mà phát nguyên rằng : Nếu được mẹ tôi xa lìa ba đường dữ, và thân hèn hạ này, cho chí kiếp kiếp khỏi sanh thân đàn bà con gái nữa, thì tôi xin nguyện từ nay sắp về sau, đối trước Phật, thệ nguyện cứu bạt các chúng sanh tội khổ, tại các nơi có địa ngục và ba nẻo ác, ở các cõi thế giới trong trăn ngàn muôn ức kiếp về sau khiến cho họ lìa khỏi những nẻo ác, là địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ, bọn người mắc tội báo ấy hết rồi, tôi mới thành Phật chánh giác sau. 
Đoạn này chơn lý để chỉ thật rằng : Xưa kia những người có mắt sáng, biết rõ đạo lý là quý báu, mỗi khi nhắc đến cuộc đời tội lỗi của chúng sanh chết ngộp, là rất xót thương cảm động, cho nên những bậc trí huệ có mắt sáng , là nàng Quang-Mục ấy, hết lòng sùng bái , tôn trọng, những bậc giải thóat vô sanh, và mong cầu nghe các Ngài thuyết pháp dạy đạo, để cho được nhớ nghe hiểu pháp lý, mà biết đựơc con đường chỗ ở, của các chúng sanh tội lỗi chết bỏ tinh thần. Vì các bậc A-La-Hán ấy, tâm đã nhập vào yên lặng, nên xét thấy ra đạo lý, mà chỉ giải được, danh từ lý nghĩa hành vi của họ vậy. Các Ngài hằng chỉ ra rằng : cõi đời là địa ngục, và chúng sanh là đang ở trong địa ngục, để chịu tội lỗi khổ phạt vô ích. 
Ấy cũng vì mãi gây tội sát-sanh cừu oán dính dấp với nhau, và hơn thua từ lời nói, danh vọng, lại trở lại áp chế người hiền, nuốt ăn lẽ phải, lấy ác làm hơn, chẳng biết kể đạo-đức, sự phải quấy, thiện ác ra gì, khiến nên khổ mãi không còn đường ra được. Các Ngài hằng khuyên những bậc tri thức ấy, nên hãy hết lòng niệm tưởng quán xét pháp trí-huệ, thanh tịnh để hành theo, để cho tâm đừng xao lãng giải đãi mê vọng, hãy ráng mà trau giồi tô đắp tâm mình cho đúng y pháp danh từ ấy, thì tức nhiên sẽ đắc được pháp trí trong sạch,là thanh-tịnh liên hoa mục, mà thành Phật chính trong pháp đó là tương đối với cõi đời, sẽ chỉ rõ cho sở chấp của chúng sanh tội lỗi, cho hiện ra tất cả. Do nơi pháp lý trí huệ thanh tịnh ấy, chỉ rõ ra rằng : nhờ lòng mến đạo lo tu, của những bậc sáng trí, cho nên cũng cảm hoá được kẻ dữ dội đôi phần, vì đối với trong nhà đạo đức của người lo tu, thì ít lâu sau khi gặp cơn khổ nạn, họ sẽ tìm đến hưởng nhờ nương dựa, mặc dầu kẻ trí thức xem coi, họ như bà mẹ, chớ hành vi tâm ác của họ, là hèn hạ thấp thỏi nô lệ không thế nào hạp chịu cảnh cao trên tốt đẹp, những việc lành phải thân cận theo như các người thiện lành hết được. Họ như những đứa con nhỏ, con của giáo lý nô tì thấp thỏi, đối với lẽ thiện trong nhà đạo. Nhưng mà họ cũng không chắc gì ở yên chỗ thiện mãi được lâu, vì ác tâm của họ đã quen, khó chừa bỏ đặng, tánh hèn hạ ấy lớn lên, thế nào nó cũng sa ngã chết bỏ việc đạo lành, mà sa vào nẻo ác địa-ngục chịu khổ trở lại, khó bề sống yên trong nhà đạo.
Nhưng mà họ cũng không chắc gì ở yên chỗ thiện mãi được lâu, vì ác tâm của họ đã quen, khó chừa bỏ đặng, tánh hèn hạ ấy lớn lên, thế nào nó cũng sa ngã chết bỏ việc đạo lành, mà sa vào nẻo ác địa ngục chịu khổ trở lại, khó bề sống yên trong nhà đạo. Cũng vì thấy sự khó tu đó, nên kẻ có mắt sáng Quang-Mục, thấy vậy không thể cầm lòng, lúc nào cũng hằng phát nguyện, tự nhớ lấy mình rằng : nếu được chúng-sanh xa lìa ba đường dữ, và những việc làm thấp thỏi ác trượt nầy, cho chí kiếp kiếp được tu hành tinh-tấn dõng-mãnh, thì tôi nguyên từ đây sắp về sau, đối với pháp Phật thanh-tịnh trí-huệ, thệ nguyện cứu bạt chúng-sanh tội khổ, tại nơi các chỗ có vật-chất tứ-đại địa-ngục, và những chỗ có tham, sân, si , ở các cõi thế-giới, trong trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, khiến cho họ lìa bỏ những nẻo ác địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, bọn người mắc tội báo ấy hết rồi, tôi mới thành Phật chánh-giác sau vậy. Đại nguyện này có sẵn nơi người giác ngộ, là bởi nơi sự than van kêu cứu của chúng sanh đang ở trong địa ngục khổ sở vô cùng, nên lòng từ bi của kẻ trí huệ, bao giờ cũng vẫn sẵn có như thế, chớ chẳng phải có riêng một ai phát nguyện nói ra chi cả.
Bài nầy cũng có thể kiến giải thêm rằng : ý của đức Phật Thích-Ca muốn nói : Sự tầm-sát của ta là nàng Quang-mục, pháp vô-sanh là vị A-La-Hán, trí-huệ là Phật Thanh-Tịnh Liên Hoa-Mục. Địa ngục là sắc thân tứ-đại, bà mẹ là ý ác phàm tục, các chúng-sanh là các pháp quyến thuộc của vọng tâm. Muốn cứu độ ý ác và những vọng tâm, cho dứt được hèn-hạ tội khổ, là sự tầm-sát bao giờ cũng có bổn phận chấp chứa đại nguyện lớn lao, để độ chúng-sanh trong mình cả thảy trước hết, thì mới mong thành Phật đặng. Chớ tự mình chỉ biết tôn sùng pháp vô sanh A-La-Hán, và cung kính trau giồi pháp trí-huệ trong sạch không, cũng là chưa đủ được. Như thế tức là đức Phật có ý bảo chúng ta rằng : hãy tôn sùng qủa vô sanh A-La-Hán, phải cung kính tu hành pháp trí-huệ thanh-tịnh của Phật và phải tầm-sát cho thấy rõ bổn nguyện của pháp, là tế-độ tất cả chúng-sanh của mình, và những chúng-sanh ngoài kia nữa vậy. Ấy là trước phải xuất gia tu thành A-La-Hán đã, và do nhờ pháp trí-huệ thanh-tịnh, mới sẽ trở nên Bồ-Tát, mà thấy ra đại nguyện, tức là thành Địa-Tạng, vì Đia Tạng là nguyện của pháp, nguyện của pháp có ra, do pháp trí-huệ trong sạch, tức là Địa-Tạng có ra, do nhờ đức Phật Thanh-Tịnh Liên Hoa-Mục đó.
Trong kinh Địa-Tạng có nói: Thuở xưa đức Phật thuyết-pháp cho mẹ tại cung Trời Đao Lợi. Khi ấy cả chư Phật và Bồ-Tát khắp nơi đều tán-thán công đức Ngài. Nghĩa là : Ngài thuyết pháp, nơi xứ của những cư sĩ thiện nhơn trí thức, vị thiện nhơn trí thức là bà mẹ sanh ra đạo giải thoát. Trong thời kỳ ấy,các bậc tu hành theo các danh pháp giáo lý khác, ai ai cũng tôn trọng Ngài cả, và hằng sai đệ tử tín đồ cho đến nghe pháp học thêm, tức là sai quyến thuộc đến viếng Ngài. Lúc đó Phật mỉm cười, phóng ra vô lượng hào quang, vô lượng âm thinh, là Ngài hoan hỷ, nói ra vô lượng ánh sáng pháp lý khác nhau, và mỗi lời lẽ đều khác nhau. Cung Trời Đao Lợi ấy tức là xứ thiện-lành Ấn-Độ, trong thời-kỳ đó, có vô số Trời người thần quỉ tựu lại, là có đủ các hạng vua, quan, dân-dã, đủ nghề-nghiệp, thiện ác, chánh tà, thảy đều có lòng mộ đạo, có hiện ở nơi hội thuyết pháp, trong mấy chục năm của Phật. Lại có chư Bồ-Tát hoá thân của địa tạng, hiện đến vô số kể. Phật bảo Văn-Thù đếm thử không được, cho đến Phật cũng không đếm hết, nghĩa là đức Phật chỉ ra rằng : tất cả các bậc phát tu hành, nguyện theo ý pháp cứu độ chúng sanh, thảy đều là do hai chữ Địa-Tạng. Như thế tức họ là hoá thân của Địa-Tạng, tất cả Bồ-Tát đều là hoá thân Địa-Tạng, là bởi đều có giữ nguyện pháp cả, dầu bậc đại-trí Văn-Thù hay viên trí của Phật, cũng không làm sao đến được những con số trội lên mãi ấy. Vì lẽ hai chữ Địa-Tạng, hoá sanh độ thêm ra mãi mãi. Hai chữ ấy là sự tu-hành gồm chứa đủ mười địa Bồ-Tát, mười địa Duyên-Giác, mười địa Thinh-Văn, trải qua lâu đời, ai thọ trì tu theo, là sẽ chứng được hạnh nguyện như vậy, đó là lời phật dạy đạo Bồ-Tát cho bậc đại-trí Văn-Thù. 
Khi ấy Phật xoa đầu các hoá thân Địa-Tạng, tức là lời chỉ giáo để vào trí não chư Bồ-Tát, những lời căn dặn phó chúc. Các hoá thân gom lại một mình, bạch xin Phật đừng lo, là cả thảy chư Bồ-Tát cũng đồng tâm như một, mà bạch xin với Phật đừng lo, bởi nguyện pháp của chúng tôi trì giữ sẽ sanh ra mãi, nối truyền hoài, để tế độ chúng sanh nơi địa ngục cõi đời, quyết không cho họ sa vào nẻo ác khổ, dầu kẻ nào có duyên với Tam-Bảo một lời nói, một ít niệm, một việc làm nhỏ nhặt, chúng tôi cũng sẽ độ cho thoát khỏi tội khổ lần lần, cho đến khi Ngài Di Lặc Từ Thị thành Phật, nối tiếp chánh pháp sau này; vì nếu chúng sanh còn, thì nguyện pháp chưa có bao giờ nghỉ được. Nguyện pháp là mãi ở nơi địa ngục theo sát với chúng-sanh, nên người giữ nguyện pháp là quán xét biết rõ hết các nơi khổ của chúng sanh, các danh từ của địa ngục, ở từ trong núi Đại -Thiết- Vi, thân tứ đại. Cũng vì thế mà đức Phật tán thán ca tụng khen ngợi pháp Địa-Tạng, và ai ai nghe đến danh từ Địa-Tạng, là nguyện pháp độ chúng-sanh, thì kẻ còn người mất, kẻ ác người thiện, thảy đều được phần cảm hoá giác ngộ, lợi ích tinh tấn cả; kẻ nào chết bỏ tinh thần, mà khi nghe được nguyện pháp này, cũng tức liền giải thoát ngay được. (Trang 745). Kẻ nào tinh thần mới chết lúc đầu, còn trong năm, bảy tuần nhựt, mà được nghe danh từ nguyện pháp cùng có ai nhắc nhở đạo lý bố thí pháp cho họ, thì họ cũng hưởng được ít nhiều một phần bảy sự giác ngộ ích lợi, thế nên kẻ nào trì giữ danh từ Địa-Tạng là nguyện của pháp, thì chẳng khác nào trì giữ tu theo cái danh hiệu của tất cả chư Phật, những kẻ ấy sẽ được giải thoát và diệt hết tội nghiệp đặng. Những ai thấu hiểu lý nghĩa này, là như thấy rõ ra có hình người trước mặt, như nghe rõ tên Địa-Tạng nguyện pháp, thì được những sự lợi ích rất lớn về nẻo giải thoát Niết-Bàn vô lậu, cao quí hơn tất cả những sự bố thí hữu lậu tầm thường, chính oai lực công đức của Địa-Tạng nguyện pháp, làm cho ai ai khi nghe đến, niệm tưởng đến, các tai nạn tội nghiệp khổ báo thảy đều tiêu tan hết, mà đặng lần lần giải thoát. Và các chư địa thần, quỉ vương, diêm la vương là các bậc vua, quan, làng xóm, ai ai cũng thảy phò trì ủng hộ cho người tu đó, và khen ngợi ca tụng công đức Địa-Tạng pháp nguyện cả. Vì vậy nên đức Phật mới phổ quảng, Ngài mới đem lời nói ra giảng dạy, chỉ rõ nghĩa lý Địa-Tạngvà những địa ngục khổ sở của chúng sanh, cho chư thiện trí thức thấy nghe rõ rệt, và cũng đối với bậc tâm định giải thoát là sẽ hiểu biết rõ được chỗ yếu lý, vì sao Phật ân cần tán thán Địa-Tạng nguyện pháp. Ngài tán thán và phó chúc nguyện của pháp ấy, tức là dạy đạo Bồ-Tát cho chư đệ tử, tức là nói giữ đạo Phật về sau, mà cũng là sự tế độ cho tất cả chúng sanh mãi mãi, y như lúc có Ngài còn đang sống hiện tại vậy.
TÓM LẠI
Địa-Tạng-Vương cũng tức là danh từ của tấm lòng đại nguyện hoằng pháp, vì tâm nguyện từ bi là chúa tể cao quý hơn hết của chúng ta, của những người tu giác ngộ. Ai ai cũng là có đại nguyện hoằng pháp Địa-Tạng cả, khắp cả võ trụ chúng sanh, ai ai cũng có sẵn tâm hột giống đại nguyện từ bi phổ tế chúng sanh hết.
Cũng vì thế, nên về sau nầy, mới có ra bức tượng Địa-Tạng, do tư tưởng của người Tàu vẽ ra,và ngôn luận ấy như vầy : Địa-Tạng là phó đại sĩ, là các vị đại sĩ Tỳ-Kheo đệ tử lớn của Phật, được nghe lời Phật phó chúc, rờ đầu. Ngài ở tại núi Cửu-Hoa, là ngôi vị cao trên cửu phẩm liên hoa pháp lý, ngài cỡi con thiện thính chó trắng là sự làm chủ thân xác thiện lành trong sạch như cỡi con vật, để giữ gìn đạo pháp đặng cứu độ cho chúng-sanh, và tìm nghe sự khổ chúng-sanh mà tế độ. Ngài cầm tích trượng, là ý nói sự vân du giáo hoá du hành khắp nơi, để dòm ngó cho chúng-sanh, đệ tử Ngài, ông Đạo Minh, là những kẻ xuất gia tinh tấn hùng lực đạo đức sáng láng, như người trẻ tuổi. Và ông già Mẫn-Công, là những người tu-sĩ tại-gia, tu học yếu đuối, cần mẫn ra công, như ông già. Ngài vớt vong ở nơi địa-ngục, là đại nguyện hằng ở mãi với chúng-sanh, trong vật chất tứ đại, để cứu vớt những kẻ chết mất tinh thần đạo lý, những tâm hồn đang bị đoạ phạt trong vật chất tứ đại địa ngục.
Đó là huyền giáo ví dụ.
Như thế thì kinh Địa-Tạng là pháp giác ngộ chúng-sanh và là Phật dạy trí huệ cho chư Bồ-Tát thật quý báu vô cùng.
Triết lý luận giải không cùng. Nhưng tạm hiểu sơ lược thế nầy, chắc là ai ai cũng nhận thấy, gặp đặng. Ngài Địa-Tạng Vương là tâm đại nguyện hoằng pháp, và sẽ hiểu biết được pháp tu lớn lao lợi ích ấy.
Có như vậy là cõi đời sau này, mới ắt sẽ được trở nên xứ Phật, vì ai ai cũng là Địa-Tạng.
Đọc nghe bài nầy, chúng ta sẽ nhận rõ ra được chân thân của pháp. Mỗi danh từ là mỗi pháp lý, mỗi pháp lý là mỗi giáo lý, mỗi vị Phật, chúng-sanh, hay vạn vật, pháp là lẽ chánh, giáo lý, tấn hoá, ích lợi, pháp lý ấy là con đường, giữa hai bờ lề mê tín, nên gọi là pháp chánh giác. Pháp ở giữa sự vật và thần linh. Pháp là chơn lý triết lý, do sự vật và thần linh sanh ra. Nhưng pháp cũng sanh ra sự vật và thần linh, nó sanh ra bằng cách so sánh ví dụ trừu tượng (tr.747)bằng lời nói, để giác ngộ cho hai bờ lề mê tín đó, vì vậy mới kêu gọi là pháp, pháp là chánh giác của chư Phật.
Hơn nữa, chúng ta lại còn nhận rõ được nguyện lực của pháp rộng lớn, sống mãi, sáng suốt, ích lợi quý báu vô cùng, biến hoá vô tận. Mà đối với kẻ tu hành từ đẳng cấp, là nguyện lực cũng tiến lên từng đẳng cấp, từ thấp tới cao, từ nhơ bẩn nhỏ hẹp, đến sạch sẽ lớn lao, tuỳ theo trình độ. Nguyện lực ấy là Địa-Tạng, là ngọn đèn sáng trước mặt, để dẫn con đường đi tới. Còn địa ngục như tấm vách tường cản hậu sau lưng. Có giác ngộ như thế, mới là được hiểu ý muốn lý nghĩa của Phật dạy, mà được tấn hoá lợi ích, siêu độ; rồi thì tự mình sẽ do đại nguyện Địa-Tạng của mình, tiếp dẫn mình, thoát ra được địa-ngục, đến được đắc pháp đại nguyện, biến nhập thành Địa-Tạng.
Vậy nên gọi Địa-Tạng là pháp chúa tể, là vua của chúng-sanh, ở trong vô minh địa ngục, ai ai cũng phải khá nên biết tôn thờ đại nguyện Địa-Tạng hết.
Địa-Tạng cũng tức là nguỵên lực bao gồm chở che khắp hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang


Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
@@@

Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
Trang 734-748 (Chơn lý số 49)
I.— Sự tích, Địa Tạng Bồ Tát:
ĐỨC PHẬT THÍCH CA khi xưa có nói : Thuở xưa quá khứ, có ra đời một vị Phật tên là : Sư Tử Phấn Chấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, đủ cả 32 tướng tốt, 80 cách đẹp. Bấy giờ có con của một vị trưởng giả, bạch hỏi Phật rằng : Bạch đức Thế Tôn, phải làm hạnh nguyện gì, mới được tướng ấy. Phật đáp rằng : Muốn chứng thân này, thì phải trải lâu đời; độ thoát tất cả chúng sanh thọ khổ. Khi ấy con người trưởng giả mới phát nguyện rằng : Nay tôi nguyện tự động về sau mãi mãi cho tới vô số kiếp, chẳng có thể kể ra được, rộng mở đường phương tiện, độ cho chúng-sanh tội khổ trong sáu đường, khiến cho họ được giải thoát tất cả, rồi tự thân tôi mới thành Phật sau.
Nam Mô: Địa Tạng Vương Bồ Tát
Về truyện, "sự tích" này, là để chỉ rõ ra rằng: Những ai muốn có đủ 32 tướng tốt, 80 cách đẹp của đức Như Lai, thì phải tu hạnh cụ túc trọn đủ vạn hạnh, tinh tấn hùng lực sư tử phấn chấn. Người trưởng-giả tức là người giàu lòng từ thiện, thiện lành sanh thức trí là con, trí thức của nhà từ thiện, tầm tõi quán xét, tự hỏi han suy gẫm, nơi pháp tu vạn hạnh trọn đủ tinh tấn hùng lực của chư Phật rằng : Phải tu làm sao mới chứng được sự tốt đẹp như chư Phật? Bấy giờ người giác-ngộ ra rằng : Muốn được tướng tốt cách đẹp ấy, là phải trải qua lâu đời độ thoát tất cả chúng-sanh thọ khổ, chính trong phép tu tinh-tấn hùng lực trọn đủ vạn hạnh để thành Phật, là chỉ dạy y như vậy. Sau khi trí thức của nhà từ thiện, nhờ thấy rõ nơi pháp tu tinh-tấn hùng lực trọn đủ vạn hạnh của chư Phật, mà được giác-ngộ, nên liền nhận ra được bổn nguyện chánh lý của mình, là từ đây trở về sau, mãi mãi cho tới vô số kiếp, chẳng có thể kể ra được, nên phải rộng mở đường phương tiện, độ cho chúng-sanh tội khổ trong sáu đường, khiến cho họ giải-thoát tất cả rồi tự thân mình mới thành Phật sau được.
Đó là sự phát tâm đầu tiên của Ngài Địa-tạng Bồ-Tát, hay cũng là nhà từ thiện được thức tỉnh, thoạt mới khởi lòng bồ đề đại nguyện. Hay cũng có thể nói là thân thiện lành sanh thức trí mà phát khởi bi nguyện độ chúng-sanh, để mong cầu quả Phật về sau. Địa-Tạng Bồ-Tát, nghĩa là đại nguyện của pháp tế độ chúng-sanh ấy là một danh từ pháp lý chỉ dạy như thế, chớ không phải riêng ai cả. Đức Phật Thích-Ca dạy giáo lý thượng thặng đại thừa cho bậc pháp sư Bồ-Tát thượng trí, chỉ rõ pháp Địa-Tạng Bồ-Tát cho thấy biết hiểu nghe là như thế. Ai ai cũng là đắc tâm đại nguyện hoằng pháp Địa Tạng Vương Bồ-Tát hết, cả thảy chư Phật, chư Bồ-Tát, cũng đều là Địa Tạng độ hết chúng sanh, vì chưa độ hết chúng-sanh thì chẳng bao giờ thành Phật, đắc Niết-Bàn. Việc ấy có khác nào, những chúng-sanh trong tâm của mình, mà mình chưa độ hết, trí-huệ chưa đầy đủ, chưa giác-ngộ hoàn toàn, thì làm sao đắc chơn như đặng, thế mới biết rằng : Đại định Niết Bàn có ra, do Bồ-Tát trí huệ, Bồ-tát trí huệ là đại nguyện Địa Tạng đó.
Địa nghĩa là : cứng, dầy, đựng chứa, rộng khắp.
Địa là nền tảng của tư cách con người.
Địa là nội bộ bản tâm của mình.
Nơi đây, "Địa" là đại nguyện lực: cứu tế độ dẫn, chúng sanh. "Tạng" là Pháp bảo tam tạng: kinh tạng, luật tạng, luận giảng, gồm khắp. "Vương" là tâm vua: chủ tể. Vậy thì Địa-Tạng Vương tức là tâm nguyện của pháp, ai ai kẻ giác-ngộ ra cũng thảy đều có cả. Đó là tâm nguyện của pháp, kẻ nào đắc pháp, là có tâm nguyện ấy của mình, thì tức mình là Địa-tạng Vương, hay là hoá thân của Địa Tạng, do pháp lý Địa-Tạng, biến hoá tạo sanh ra, ai ai những chư Bồ-Tát, cũng nói thảy là hoá thân của Địa-Tạng được, thân của Địa-Tạng, tức là việc làm theo nguyện pháp, pháp là tế-độ cả chúng-sanh, nguyện pháp là không bao giờ nỡ bỏ chúng-sanh, việc làm tốt đẹp của nguyện pháp, tức là như thân Địa-Tạng, là việc làm tinh tấn, hùng lực tu hành trọn đủ vạn hạnh, để thành Phật, như chư Phật. Như thế nghĩa là thân của Địa-Tạng, tốt đẹp giống như thân của “Sư-Tử Phấn-Chấn Cụ Túc Vạn-Hạnh Như-Lai” vậy.
II.—LẠI VẦY NỮA : MỘT KIẾP KẾ SAU ĐÓ CỦA ĐỊA TẠNG :
Thuở xưa có một người con gái Bà-La Môn, phước đức rất lớn. Mẹ nàng chết đoạ vào ngục vô gián A tỳ : Nàng bán hết nhà cửa đồ vật, mua sắm món cúng dường, đem đến trước chỗ thờ Phật Giác-Hoa Định-Tự Tại Vương Như Lai, mà cúng lạy, khóc lóc, nhìn trân cốt Phật, và vái nguyện cầu xin cho biết chỗ thác sanh của mẹ. Bỗng nghe trên không trung, đức Phật ứng tiếng dạy nàng, bảo về nhà ngồi niệm tưởng danh hiệu Phật, thì sẽ liền biết được. Quả nhiên sau đó nàng trở về nhà, tắm rửa sạch sẽ, ngồi niệm tưởng được một ngày một đêm, mơ màng thân mình tới một biển lớn, thấy chó sắt, rắn sắt đang hành phạt chúng-sanh trồi hụp. Nàng gặp quỉ vô độc, chỉ cho biết nghiệp hải, và địa-ngục trong núi Đại Thiết Vi. Còn bà mẹ của nàng, đã được sanh lên cõi trời, là do nhờ phước đức cúng-dường của nàng, cho đến các tội nhơn trong địa-ngục đó, cũng được siêu thoát theo nữa . Liền đó nàng tỉnh dậy, đến trước Phật mà phát nguyện rằng : Tội nguyện cho hết các kiếp vị-lai, hễ có chúng-sanh nào mắc tội khổ, thì tôi sẽ mở rộng đường phương-tiện, khiến cho họ giải-thoát hết. Pháp-lý này chỉ dạy rằng : sau sự phát tâm của nhà từ thiện, là sẽ trở nên nhà cư-sĩ trí-thức. Người cư-sĩ trí thức ấy, cũng như nàng con gái Bà-La-Môn, bởi tâm còn yếu đuối, đối với sự tu hành mới tập, bởi là cư-sĩ nhơn thiên, nên không khác gì giáo-lý Bà-La-Môn cả; nhưng nhờ thiện lành mà phước-đức rất nhiều. Người cư-sĩ trí-thức như cô gái đó, gặp phải lúc chúng-sanh là như bà mẹ, chết mất tinh thần đạo đức lòng nhơn lẽ thiện, họ như là kẻ chết tâm. Chỉ còn xác thân, chôn sâu trong giữa hầm lợi danh ác trược, của đời vật-chất. Tâm hồn của họ bị chôn nhốt trong xác thân địa-ngục vật-chất tứ-đại, để chịu sự hành phạt khổ-sở, của mỗi ngày đêm không gián đoạn.
Bấy giờ người dứt bỏ hết vật-chất của-cải lòng tham, người lo tìm học đạo pháp, để đem đạo lý ấy hồi-hướng giáo-hoá chúng-sanh, cho họ được giác-ngộ pháp trí liên-hoa trong sạch giải-thoát, không ô nhiễm, tâm định như chư Phật. Người rất khẩn cầu mong muốn, ngó ngay nơi pháp giác-ngộ giải-thoát không ô-nhiễm tâm định của chư Phật, mà tìm hiểu coi tại sao chúng-sanh đoạ-lạc và sẽ đi về đâu, mà chẳng đặng như Phật. Thế là cũng như trong lúc ấy, người nhận nghe được tiếng nói của pháp giác-ngộ giải-thoát thanh tịnh, tâm của chư Phật dạy bảo rằng : Ngươi hãy cố gắng quán xét tưởng niệm nơi pháp-lý danh-từ nầy, mà thật hành không giải-đãi, thì sẽ kinh nghiệm thấy rõ ra được.
Người bèn nhận rõ nghĩa-lý, hạp lòng vui chịu, thích hợp hành theo, quả nhiên trong một niệm tinh-tấn tu hành, trong sạch, không tưởng quấy, người thấy người như được bay cao trên hơn thiên-hạ; người thấy ra cõi đời là biển khổ mênh-mông; phiền não là sóng dợn ba đào : sự tà nguỵ, sự cầu xé là cho sắt, rắn sắt ( bởi nơi cái có có), tham sân si ý muốn của con người là quỉ vô độc, nó làm chủ cuốn lôi hành phạt. Tội nghiệp của người đời tích dồn như biển để tự mình chịu khổ phạt, biển ấy là trí-óc tội-lỗi của con người, xác thân nầy là hòn núi Đại Thiết Vi, là tứ đại nhốt vây, là lời nói việc làm chất chứa. Trong giữa nói làm nhốt vây ấy là địa-ngục. Địa-ngục là sự ác trói-buộc. Trong đó có 18 địa-ngục lớn ( là sáu căn, sáu trần, sáu thức), 18 giới ác dục làm địa ngục, lại có 500 địa-ngục nhỏ, là hàng trăm pháp mê muội của ngũ-uẩn nhốt ngăn báo hại. Cùng vô số sự ác khổ, vô số sự chấp vô-minh địa-ngục nhỏ nữa, nói không cùng. Nhưng khi ấy cái ý quỉ vô độc của họ, chỉ bảo cho biết rằng : nhờ phước-đức tu hành vì chúng-sanh để tế-độ, của người cư-sĩ trí thức ấy, đối với pháp giác-ngộ giải-thoát trong sạch, tâm yên lặng như chư Phật, nên chúng-sanh ở trong xứ đó, sẽ được sự cảm hoá, ích lợi, siêu vượt lên cao thiên-đường, ấy là nhờ người giáo-hoá dạy-dỗ và để gương lành cho vậy. Khi ấy người cư-sĩ thấy rõ kết quả việc làm của mình, là chỉ đưa chúng-sanh được lên tới cõi người trời, trên cao, nhưng nơi đó họ cũng còn phải khổ, và không vững chắc yên vui được, nên đối với pháp giác- ngộ giải-thoát trong sạch yên lặng tâm của chư Phật, mà phát nguyện rằng : Tội nghiệp cho hết các kiếp vị-lai, hễ có chúng-sanh nào mắc tội khổ, thì tôi sẽ rộng mở đường phương-tiện, khiến cho họ giải-thoát hết.
III.—LẠI VẦY NỮA : MỘT CÂU CHUYỆN KHÁC VỀ ĐỊA TẠNG 
Tiếp đây sự tích tiền thân thứ ba của Ngài Địa-Tạng. Đức Phật Thích-Ca nói : Thuở trước có hai nhà vua nhân từ, hay làm những việc lợi lớn cho thiên-hạ; bây giờ ở bên xứ láng giềng, dân chúng ác hung me- muội khổ sở. Một ông vua phát nguyện rằng : Nguyện tôi thành Phật cho sớm đặng độ bọn ấy, khiến cho không còn sót một kẻ nào. Ông vua ấy về sau thành Phật, hiệu là Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Còn một ông vua kia lại nguyện : Nếu trước chẳng độ kẻ tội khổ, khiến cho họ được yên vui, được tới cõi bồ-đề, thì tôi chưa muốn thành Phật, vị vua nầy tức là Địa-Tạng Bồ-Tát. —Triết lý này chỉ dạy rằng : từ một người thiện nhơn, phát nguyện độ chúng-sanh, để mong cầu quả Phật, nhờ vậy mà đến được làm cư-sĩ trí-thức, lại thêm phát nguyện độ giải-thoát hết chúng-sanh, nên đến đây người giải-thoát xuất-gia khất-sĩ, tiến bước lên cao, đi trước để dẫn đường cho chúng-sanh. Người giải thoát xuất gia khất-sĩ tức như là ông vua, vua đây là sự tự chủ của bản tâm, là thong-thả rảnh rang nhàn lạc, yên-vui hạnh-phúc trong sạch cao thượng quí báu hơn hết. Nhưng đối với người xuất-gia giải-thoát là như có gặp đến hai sở chấp, hai nẻo đường, hai bổn nguyện, hai ông vua, hai cái tâm, hai pháp để làm Phật ! Một pháp để thành tựu Nhất-thiết-trí, tự độ cho mình trước thành Phật, sau mới độ chúng-sanh, pháp nầy là pháp của tất cả chư Phật đang hành xuôi thuận. Còn một pháp ngược nghịch tương đối là : nguyện độ tất cả chúng-sanh, rồi mới thành Phật; pháp nầy là pháp của chư đại Bồ-Tát, giữ hoài đại nguyện, nên kêu gọi là Địa-Tạng, Tuỳ hai pháp tương-đối, nhưng thật ra không có gì là khác nhau cả, Như-Lai tức là Đại Bồ-Tát, đại Bồ-Tát tức là Như-Lai, đốc học là thầy giáo lão, thầy giáo lão là đốc học, vốn là một; nhưng mà kiến chấp của chúng-sanh chẳng đồng, nên Phật mới bày ra hai tên như vậy, chơn-như tức là trí-huệ, trí-huệ tức là chơn-như, vốn chẳng phải là hai, nó vẫn sẵn có nơi nhau, ai gọi sao cũng được, vả lại muốn thành Phật là phải độ chúng-sanh rồi mới thành Phật, hai câu ấy đâu có gì khác. Hay như có người cố gắng giữ cái Phật của mình, đặng làm gương độ người, còn một người quyết lo độ chúng-sanh, để đặng trau cái Phật của mình, hai pháp ấy cũng như nhau, cả thảy đều có ta có người, có người có ta trong đó cả.
Một phép trau giồi trí-huệ Phật, còn một phép trau giồi hạnh nguyện, pháp nào cũng có đủ nguyện trí, hay trí nguyện để đến được chơn-như. Nhưng một pháp xưng là Như-Lai còn một pháp gọi là Bồ-Tát, hai pháp ấy vốn không hơn kém vậy. Vì pháp nào cũng phải độ hết chúng-sanh trong tâm rồi mới thành Phật, chớ tâm chúng-sanh cứ sanh ra mãi, nhơn-duyên chẳng đầu đuôi, đâu có ai bao giờ độ hết, chư Bồ-Tát độ chúng-sanh như ăn cơm, như việc làm, ăn hoài ăn mãi, no ngủ quên chẳng hay : làm hoài làm mãi, mệt ngủ quên chẳng biết, các Ngài thành Phật, đắc Niết-Bàn chơn-như đại-định cũng y như thế. Nhờ nguyện lực trí-huệ mà đến chơn-như tự-nhiên, như ngủ quên, quên mất, tự lúc nào, đâu còn biết chi trí-huệ và nguyện lực, hay chúng-sanh gì, thế mới biết rằng : trí huệ và nguyện lực là như chiếc bè tạm, tấp đến bờ rồi, là bè không còn có nữa, bè tức là đất, đất tức là bè, các Ngài đâu còn tính chấp sự lấy bỏ chi nó nữa; khi trình-độ con người đã đến Niết-Bàn chơn-như, là nó đến bằng cách tự nhiên, há có ai cấm cản nó đặng sao? Nhưng tuy vị Bồ-Tát đó đã thành Phật nhập Niết-Bàn rồi, chớ nguyện lực và trí huệ, cũng vẫn còn mãi để lại đời sau choo người thay thế, ấy tức như là còn độ mãi mãi đó. Nghĩa là cái danh từ pháp lý đó, nó không bao giờ dứt mất yên nghỉ cả. Về sau những y pháp ấy thật hành, kêu gọi là hoá thân Phật, hoá thân Bồ-Tát. Như thế tức là vị Phật hay Bồ-Tát ấy, sống mãi, làm việc hoài, bằng pháp lý danh từ đó vậy.
Thế mới biết rằng : Pháp bảo của Như-Lai dạy trao phương tiện trí huệ cho Bồ-Tát, là rộng rãi cao siêu lắm. Mỗi một danh từ, mỗi một pháp lý, có thể biến hoá chỉ ra thân hình trước mặt, cho thấy rõ, hằng cả võ trụ, chư Phật, các pháp, chúng sanh thế giới vạn vật, thật là thần thông mầu diệu, Pháp bảo không lường, chúng sanh khó mà hiểu đặng ý pháp của chư Phật. Sự tích thứ ba này, là chỉ rõ rằng : nguyện lực sẽ dắt con người đi tới mãi, từ người thiện nhơn , đến cư sĩ trí thức, đến được xuất-gia, giải-thoát khất-sĩ như vua, ở bờ bến này còn chúng-sanh mê muội tội lỗi là như ở bờ bên kia, xóm láng giềng. Khi đến khất-sĩ, tâm người lại gặp hai nẻo đi, hai sở chấp, hai cái tâm ấy đều tốt đẹp cả, một cái thành Phật trước, là nhứt thiết trí thành tựu, rồi mới độ chúng sanh sau, còn một cái là giữ gìn bổn nguyện của pháp, nên kêu gọi là Bồ-Tát Địa-Tạng. Nhưng thật ra, Pháp bảo là có sẵn nhứt thiết trí thành tựu và bổn nguyện Địa-Tạng tự nhiên nó có sẵn cả hai tên, chớ không có ai cố chấp chi cả. Tên nào cũng là Phật như nhau, nhưng đối với chúng sanh thì phải nói là hai, để được mau tỏ ngộ.
Kế đây là sự tích thứ tư như vầy : Xưa có nàng Quang-Mục, đến ngày vía mẹ,cung-dường cho một vị A-La-Hán và hỏi chỗ thác sanh của mẹ. Vị sư này nhập định, thấy mẹ ở địa-ngục, vì bởi tội giết hại rất nhiều và chửi mắng, lại ăn thịt rùa và trứng có đến số muôn ngàn. Ngài khuyên nàng niệm danh hiệu Phật Thanh-Tịnh Liên-Hoa-Mục, và tô vẽ hình tượng Phật. Nàng làm theo, tối lại chiêm bao thấy Phật phán rằng : Mẹ ngươi sẽ sanh ra ở trong nhà ngươi, vừa lọt lòng biết đói lạnh, và liền nói năng được. Quả nhiên sự thật có y vậy, ba bữa sau mẹ nàng được sanh ra, làm con của đứa tớ gái, nói rằng : tuổi được 13 sẽ chết đoạ địa ngục trở lại, và than cầu cứu với nàng, vì bởi tội khổ địa ngục nói không cùng. Nàng liền bạch lên hư không với Phật xin khỏi tội mẹ, mà phát nguyên rằng : Nếu được mẹ tôi xa lìa ba đường dữ, và thân hèn hạ này, cho chí kiếp kiếp khỏi sanh thân đàn bà con gái nữa, thì tôi xin nguyện từ nay sắp về sau, đối trước Phật, thệ nguyện cứu bạt các chúng sanh tội khổ, tại các nơi có địa ngục và ba nẻo ác, ở các cõi thế giới trong trăn ngàn muôn ức kiếp về sau khiến cho họ lìa khỏi những nẻo ác, là địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ, bọn người mắc tội báo ấy hết rồi, tôi mới thành Phật chánh giác sau. 
Đoạn này chơn lý để chỉ thật rằng : Xưa kia những người có mắt sáng, biết rõ đạo lý là quý báu, mỗi khi nhắc đến cuộc đời tội lỗi của chúng sanh chết ngộp, là rất xót thương cảm động, cho nên những bậc trí huệ có mắt sáng , là nàng Quang-Mục ấy, hết lòng sùng bái , tôn trọng, những bậc giải thóat vô sanh, và mong cầu nghe các Ngài thuyết pháp dạy đạo, để cho được nhớ nghe hiểu pháp lý, mà biết đựơc con đường chỗ ở, của các chúng sanh tội lỗi chết bỏ tinh thần. Vì các bậc A-La-Hán ấy, tâm đã nhập vào yên lặng, nên xét thấy ra đạo lý, mà chỉ giải được, danh từ lý nghĩa hành vi của họ vậy. Các Ngài hằng chỉ ra rằng : cõi đời là địa ngục, và chúng sanh là đang ở trong địa ngục, để chịu tội lỗi khổ phạt vô ích. 
Ấy cũng vì mãi gây tội sát-sanh cừu oán dính dấp với nhau, và hơn thua từ lời nói, danh vọng, lại trở lại áp chế người hiền, nuốt ăn lẽ phải, lấy ác làm hơn, chẳng biết kể đạo-đức, sự phải quấy, thiện ác ra gì, khiến nên khổ mãi không còn đường ra được. Các Ngài hằng khuyên những bậc tri thức ấy, nên hãy hết lòng niệm tưởng quán xét pháp trí-huệ, thanh tịnh để hành theo, để cho tâm đừng xao lãng giải đãi mê vọng, hãy ráng mà trau giồi tô đắp tâm mình cho đúng y pháp danh từ ấy, thì tức nhiên sẽ đắc được pháp trí trong sạch,là thanh-tịnh liên hoa mục, mà thành Phật chính trong pháp đó là tương đối với cõi đời, sẽ chỉ rõ cho sở chấp của chúng sanh tội lỗi, cho hiện ra tất cả. Do nơi pháp lý trí huệ thanh tịnh ấy, chỉ rõ ra rằng : nhờ lòng mến đạo lo tu, của những bậc sáng trí, cho nên cũng cảm hoá được kẻ dữ dội đôi phần, vì đối với trong nhà đạo đức của người lo tu, thì ít lâu sau khi gặp cơn khổ nạn, họ sẽ tìm đến hưởng nhờ nương dựa, mặc dầu kẻ trí thức xem coi, họ như bà mẹ, chớ hành vi tâm ác của họ, là hèn hạ thấp thỏi nô lệ không thế nào hạp chịu cảnh cao trên tốt đẹp, những việc lành phải thân cận theo như các người thiện lành hết được. Họ như những đứa con nhỏ, con của giáo lý nô tì thấp thỏi, đối với lẽ thiện trong nhà đạo. Nhưng mà họ cũng không chắc gì ở yên chỗ thiện mãi được lâu, vì ác tâm của họ đã quen, khó chừa bỏ đặng, tánh hèn hạ ấy lớn lên, thế nào nó cũng sa ngã chết bỏ việc đạo lành, mà sa vào nẻo ác địa-ngục chịu khổ trở lại, khó bề sống yên trong nhà đạo.
Nhưng mà họ cũng không chắc gì ở yên chỗ thiện mãi được lâu, vì ác tâm của họ đã quen, khó chừa bỏ đặng, tánh hèn hạ ấy lớn lên, thế nào nó cũng sa ngã chết bỏ việc đạo lành, mà sa vào nẻo ác địa ngục chịu khổ trở lại, khó bề sống yên trong nhà đạo. Cũng vì thấy sự khó tu đó, nên kẻ có mắt sáng Quang-Mục, thấy vậy không thể cầm lòng, lúc nào cũng hằng phát nguyện, tự nhớ lấy mình rằng : nếu được chúng-sanh xa lìa ba đường dữ, và những việc làm thấp thỏi ác trượt nầy, cho chí kiếp kiếp được tu hành tinh-tấn dõng-mãnh, thì tôi nguyên từ đây sắp về sau, đối với pháp Phật thanh-tịnh trí-huệ, thệ nguyện cứu bạt chúng-sanh tội khổ, tại nơi các chỗ có vật-chất tứ-đại địa-ngục, và những chỗ có tham, sân, si , ở các cõi thế-giới, trong trăm ngàn muôn ức kiếp về sau, khiến cho họ lìa bỏ những nẻo ác địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, bọn người mắc tội báo ấy hết rồi, tôi mới thành Phật chánh-giác sau vậy. Đại nguyện này có sẵn nơi người giác ngộ, là bởi nơi sự than van kêu cứu của chúng sanh đang ở trong địa ngục khổ sở vô cùng, nên lòng từ bi của kẻ trí huệ, bao giờ cũng vẫn sẵn có như thế, chớ chẳng phải có riêng một ai phát nguyện nói ra chi cả.
Bài nầy cũng có thể kiến giải thêm rằng : ý của đức Phật Thích-Ca muốn nói : Sự tầm-sát của ta là nàng Quang-mục, pháp vô-sanh là vị A-La-Hán, trí-huệ là Phật Thanh-Tịnh Liên Hoa-Mục. Địa ngục là sắc thân tứ-đại, bà mẹ là ý ác phàm tục, các chúng-sanh là các pháp quyến thuộc của vọng tâm. Muốn cứu độ ý ác và những vọng tâm, cho dứt được hèn-hạ tội khổ, là sự tầm-sát bao giờ cũng có bổn phận chấp chứa đại nguyện lớn lao, để độ chúng-sanh trong mình cả thảy trước hết, thì mới mong thành Phật đặng. Chớ tự mình chỉ biết tôn sùng pháp vô sanh A-La-Hán, và cung kính trau giồi pháp trí-huệ trong sạch không, cũng là chưa đủ được. Như thế tức là đức Phật có ý bảo chúng ta rằng : hãy tôn sùng qủa vô sanh A-La-Hán, phải cung kính tu hành pháp trí-huệ thanh-tịnh của Phật và phải tầm-sát cho thấy rõ bổn nguyện của pháp, là tế-độ tất cả chúng-sanh của mình, và những chúng-sanh ngoài kia nữa vậy. Ấy là trước phải xuất gia tu thành A-La-Hán đã, và do nhờ pháp trí-huệ thanh-tịnh, mới sẽ trở nên Bồ-Tát, mà thấy ra đại nguyện, tức là thành Địa-Tạng, vì Đia Tạng là nguyện của pháp, nguyện của pháp có ra, do pháp trí-huệ trong sạch, tức là Địa-Tạng có ra, do nhờ đức Phật Thanh-Tịnh Liên Hoa-Mục đó.
Trong kinh Địa-Tạng có nói: Thuở xưa đức Phật thuyết-pháp cho mẹ tại cung Trời Đao Lợi. Khi ấy cả chư Phật và Bồ-Tát khắp nơi đều tán-thán công đức Ngài. Nghĩa là : Ngài thuyết pháp, nơi xứ của những cư sĩ thiện nhơn trí thức, vị thiện nhơn trí thức là bà mẹ sanh ra đạo giải thoát. Trong thời kỳ ấy,các bậc tu hành theo các danh pháp giáo lý khác, ai ai cũng tôn trọng Ngài cả, và hằng sai đệ tử tín đồ cho đến nghe pháp học thêm, tức là sai quyến thuộc đến viếng Ngài. Lúc đó Phật mỉm cười, phóng ra vô lượng hào quang, vô lượng âm thinh, là Ngài hoan hỷ, nói ra vô lượng ánh sáng pháp lý khác nhau, và mỗi lời lẽ đều khác nhau. Cung Trời Đao Lợi ấy tức là xứ thiện-lành Ấn-Độ, trong thời-kỳ đó, có vô số Trời người thần quỉ tựu lại, là có đủ các hạng vua, quan, dân-dã, đủ nghề-nghiệp, thiện ác, chánh tà, thảy đều có lòng mộ đạo, có hiện ở nơi hội thuyết pháp, trong mấy chục năm của Phật. Lại có chư Bồ-Tát hoá thân của địa tạng, hiện đến vô số kể. Phật bảo Văn-Thù đếm thử không được, cho đến Phật cũng không đếm hết, nghĩa là đức Phật chỉ ra rằng : tất cả các bậc phát tu hành, nguyện theo ý pháp cứu độ chúng sanh, thảy đều là do hai chữ Địa-Tạng. Như thế tức họ là hoá thân của Địa-Tạng, tất cả Bồ-Tát đều là hoá thân Địa-Tạng, là bởi đều có giữ nguyện pháp cả, dầu bậc đại-trí Văn-Thù hay viên trí của Phật, cũng không làm sao đến được những con số trội lên mãi ấy. Vì lẽ hai chữ Địa-Tạng, hoá sanh độ thêm ra mãi mãi. Hai chữ ấy là sự tu-hành gồm chứa đủ mười địa Bồ-Tát, mười địa Duyên-Giác, mười địa Thinh-Văn, trải qua lâu đời, ai thọ trì tu theo, là sẽ chứng được hạnh nguyện như vậy, đó là lời phật dạy đạo Bồ-Tát cho bậc đại-trí Văn-Thù. 
Khi ấy Phật xoa đầu các hoá thân Địa-Tạng, tức là lời chỉ giáo để vào trí não chư Bồ-Tát, những lời căn dặn phó chúc. Các hoá thân gom lại một mình, bạch xin Phật đừng lo, là cả thảy chư Bồ-Tát cũng đồng tâm như một, mà bạch xin với Phật đừng lo, bởi nguyện pháp của chúng tôi trì giữ sẽ sanh ra mãi, nối truyền hoài, để tế độ chúng sanh nơi địa ngục cõi đời, quyết không cho họ sa vào nẻo ác khổ, dầu kẻ nào có duyên với Tam-Bảo một lời nói, một ít niệm, một việc làm nhỏ nhặt, chúng tôi cũng sẽ độ cho thoát khỏi tội khổ lần lần, cho đến khi Ngài Di Lặc Từ Thị thành Phật, nối tiếp chánh pháp sau này; vì nếu chúng sanh còn, thì nguyện pháp chưa có bao giờ nghỉ được. Nguyện pháp là mãi ở nơi địa ngục theo sát với chúng-sanh, nên người giữ nguyện pháp là quán xét biết rõ hết các nơi khổ của chúng sanh, các danh từ của địa ngục, ở từ trong núi Đại -Thiết- Vi, thân tứ đại. Cũng vì thế mà đức Phật tán thán ca tụng khen ngợi pháp Địa-Tạng, và ai ai nghe đến danh từ Địa-Tạng, là nguyện pháp độ chúng-sanh, thì kẻ còn người mất, kẻ ác người thiện, thảy đều được phần cảm hoá giác ngộ, lợi ích tinh tấn cả; kẻ nào chết bỏ tinh thần, mà khi nghe được nguyện pháp này, cũng tức liền giải thoát ngay được. (Trang 745). Kẻ nào tinh thần mới chết lúc đầu, còn trong năm, bảy tuần nhựt, mà được nghe danh từ nguyện pháp cùng có ai nhắc nhở đạo lý bố thí pháp cho họ, thì họ cũng hưởng được ít nhiều một phần bảy sự giác ngộ ích lợi, thế nên kẻ nào trì giữ danh từ Địa-Tạng là nguyện của pháp, thì chẳng khác nào trì giữ tu theo cái danh hiệu của tất cả chư Phật, những kẻ ấy sẽ được giải thoát và diệt hết tội nghiệp đặng. Những ai thấu hiểu lý nghĩa này, là như thấy rõ ra có hình người trước mặt, như nghe rõ tên Địa-Tạng nguyện pháp, thì được những sự lợi ích rất lớn về nẻo giải thoát Niết-Bàn vô lậu, cao quí hơn tất cả những sự bố thí hữu lậu tầm thường, chính oai lực công đức của Địa-Tạng nguyện pháp, làm cho ai ai khi nghe đến, niệm tưởng đến, các tai nạn tội nghiệp khổ báo thảy đều tiêu tan hết, mà đặng lần lần giải thoát. Và các chư địa thần, quỉ vương, diêm la vương là các bậc vua, quan, làng xóm, ai ai cũng thảy phò trì ủng hộ cho người tu đó, và khen ngợi ca tụng công đức Địa-Tạng pháp nguyện cả. Vì vậy nên đức Phật mới phổ quảng, Ngài mới đem lời nói ra giảng dạy, chỉ rõ nghĩa lý Địa-Tạngvà những địa ngục khổ sở của chúng sanh, cho chư thiện trí thức thấy nghe rõ rệt, và cũng đối với bậc tâm định giải thoát là sẽ hiểu biết rõ được chỗ yếu lý, vì sao Phật ân cần tán thán Địa-Tạng nguyện pháp. Ngài tán thán và phó chúc nguyện của pháp ấy, tức là dạy đạo Bồ-Tát cho chư đệ tử, tức là nói giữ đạo Phật về sau, mà cũng là sự tế độ cho tất cả chúng sanh mãi mãi, y như lúc có Ngài còn đang sống hiện tại vậy.
TÓM LẠI
Địa-Tạng-Vương cũng tức là danh từ của tấm lòng đại nguyện hoằng pháp, vì tâm nguyện từ bi là chúa tể cao quý hơn hết của chúng ta, của những người tu giác ngộ. Ai ai cũng là có đại nguyện hoằng pháp Địa-Tạng cả, khắp cả võ trụ chúng sanh, ai ai cũng có sẵn tâm hột giống đại nguyện từ bi phổ tế chúng sanh hết.
Cũng vì thế, nên về sau nầy, mới có ra bức tượng Địa-Tạng, do tư tưởng của người Tàu vẽ ra,và ngôn luận ấy như vầy : Địa-Tạng là phó đại sĩ, là các vị đại sĩ Tỳ-Kheo đệ tử lớn của Phật, được nghe lời Phật phó chúc, rờ đầu. Ngài ở tại núi Cửu-Hoa, là ngôi vị cao trên cửu phẩm liên hoa pháp lý, ngài cỡi con thiện thính chó trắng là sự làm chủ thân xác thiện lành trong sạch như cỡi con vật, để giữ gìn đạo pháp đặng cứu độ cho chúng-sanh, và tìm nghe sự khổ chúng-sanh mà tế độ. Ngài cầm tích trượng, là ý nói sự vân du giáo hoá du hành khắp nơi, để dòm ngó cho chúng-sanh, đệ tử Ngài, ông Đạo Minh, là những kẻ xuất gia tinh tấn hùng lực đạo đức sáng láng, như người trẻ tuổi. Và ông già Mẫn-Công, là những người tu-sĩ tại-gia, tu học yếu đuối, cần mẫn ra công, như ông già. Ngài vớt vong ở nơi địa-ngục, là đại nguyện hằng ở mãi với chúng-sanh, trong vật chất tứ đại, để cứu vớt những kẻ chết mất tinh thần đạo lý, những tâm hồn đang bị đoạ phạt trong vật chất tứ đại địa ngục.
Đó là huyền giáo ví dụ.
Như thế thì kinh Địa-Tạng là pháp giác ngộ chúng-sanh và là Phật dạy trí huệ cho chư Bồ-Tát thật quý báu vô cùng.
Triết lý luận giải không cùng. Nhưng tạm hiểu sơ lược thế nầy, chắc là ai ai cũng nhận thấy, gặp đặng. Ngài Địa-Tạng Vương là tâm đại nguyện hoằng pháp, và sẽ hiểu biết được pháp tu lớn lao lợi ích ấy.
Có như vậy là cõi đời sau này, mới ắt sẽ được trở nên xứ Phật, vì ai ai cũng là Địa-Tạng.
Đọc nghe bài nầy, chúng ta sẽ nhận rõ ra được chân thân của pháp. Mỗi danh từ là mỗi pháp lý, mỗi pháp lý là mỗi giáo lý, mỗi vị Phật, chúng-sanh, hay vạn vật, pháp là lẽ chánh, giáo lý, tấn hoá, ích lợi, pháp lý ấy là con đường, giữa hai bờ lề mê tín, nên gọi là pháp chánh giác. Pháp ở giữa sự vật và thần linh. Pháp là chơn lý triết lý, do sự vật và thần linh sanh ra. Nhưng pháp cũng sanh ra sự vật và thần linh, nó sanh ra bằng cách so sánh ví dụ trừu tượng (tr.747)bằng lời nói, để giác ngộ cho hai bờ lề mê tín đó, vì vậy mới kêu gọi là pháp, pháp là chánh giác của chư Phật.
Hơn nữa, chúng ta lại còn nhận rõ được nguyện lực của pháp rộng lớn, sống mãi, sáng suốt, ích lợi quý báu vô cùng, biến hoá vô tận. Mà đối với kẻ tu hành từ đẳng cấp, là nguyện lực cũng tiến lên từng đẳng cấp, từ thấp tới cao, từ nhơ bẩn nhỏ hẹp, đến sạch sẽ lớn lao, tuỳ theo trình độ. Nguyện lực ấy là Địa-Tạng, là ngọn đèn sáng trước mặt, để dẫn con đường đi tới. Còn địa ngục như tấm vách tường cản hậu sau lưng. Có giác ngộ như thế, mới là được hiểu ý muốn lý nghĩa của Phật dạy, mà được tấn hoá lợi ích, siêu độ; rồi thì tự mình sẽ do đại nguyện Địa-Tạng của mình, tiếp dẫn mình, thoát ra được địa-ngục, đến được đắc pháp đại nguyện, biến nhập thành Địa-Tạng.
Vậy nên gọi Địa-Tạng là pháp chúa tể, là vua của chúng-sanh, ở trong vô minh địa ngục, ai ai cũng phải khá nên biết tôn thờ đại nguyện Địa-Tạng hết.
Địa-Tạng cũng tức là nguỵên lực bao gồm chở che khắp hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
"Bấm vào chữ Dịch bên dưới" !  <= (mở trang nầy! trước khi Dịch ! đã có liên kết trang!)
(Hãy bấm  quay trở lại ! Sau khi đã copy bản dịch hoàn chỉnh !) (Copy văn bản dán vào ô Dịch)

Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Pháp
Phát hiện ngôn ngữ
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Trung (Giản Thể)












Tiêu đề của tôi





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét