Thứ Sáu, tháng 11 15, 2013

ROBINSON CRUSOE: CHAPTER I—START IN LIFE

ROBINSON CRUSOE
Rô-bin-xơn Cô-rut-xô 
By Daniel Defoe 
Table Of Contents 
CHAPTER I: START IN LIFE 
CHAPTER II: SLAVERY AND ESCAPE 
CHAPTER III WRECKED ON A DESERT ISLAND 
CHAPTER IV FIRST WEEKS ON THE ISLAND 
CHAPTER V BUILDS A HOUSE THE JOURNAL 
CHAPTER VI ILL AND CONSCIENCE-STRICKEN 
CHAPTER VII AGRICULTURAL EXPERIENCE 
CHAPTER VIII SURVEYS HIS POSITION 
CHAPTER IX A BOAT 
CHAPTER X TAMES GOATS 
CHAPTER XI FINDS PRINT OF MAN’S FOOT ON THE SAND 
CHAPTER XII A CAVE RETREAT 
CHAPTER XIII WRECK OF A SPANISH SHIP 
CHAPTER XIV A DREAM REALISED 
CHAPTER XV FRIDAY’S EDUCATION 
CHAPTER XVI RESCUE OF PRISONERS FROM CANNIBALS 
CHAPTER XVII VISIT OF MUTINEERS 
CHAPTER XVIII THE SHIP RECOVERED 
CHAPTER XIX RETURN TO ENGLAND 
CHAPTER XX FIGHT BETWEEN FRIDAY AND A BEAR  
Tham khảo : Robinson Crusoe @@@


CHAPTER I : START IN LIFE
 CHƯƠNG I: BĐẦU TRONG S SNG
(Luyện Nghe và Hiểu ; Listening and Understanding)


I was born in the year 1632, in the city of York, of a good family, though not of that country, my father being a foreigner of Bremen, who settled first at Hull. He got a good estate by merchandise, and leaving off his trade, lived afterwards at York, from whence he had married my mother, whose relations were named Robinson, a very good family in that country, and from whom I was called Robinson Kreutznaer; but, by the usual corruption of words in England, we are now called nay we call ourselves and write our name Crusoe; and so my companions always called me.
Tôi được sinh ra trong năm 1632, ti thành ph York, trong mt gia đình tt, mc dù không ca quc gia đó, cha tôi là người nước ngoài ca Bremen, nhng người định cư đầu tiên ti Hull. Ông đã nhn mt bt động tt bi hàng hóa, và để li tt thương mi ca mình, sau đó sng York, t đâu ông đã kết hôn vi m ca tôi, có mi quan h được đặt tên là Robinson, mt gia đình rt tt trong quc gia đó, và t người mà tôi đã được gi là Robinson Kreutznaer; nhưng, bi tham nhũng thông thường ca t Anh, chúng tôi đang gi là nay chúng tôi t gi và viết tên ca chúng tôi Crusoe, và như vy đồng hành ca tôi luôn luôn gi tôi.
I had two elder brothers, one of whom was lieutenant-colonel to an English regiment of foot in Flanders, formerly commanded by the famous Colonel Lockhart, and was killed at the battle near Dunkirk against the Spaniards.  What became of my second brother I never knew, any more than my father or mother knew what became of me.
Tôi có hai người anh trai, mt trong s đó là trung tá cho mt trung đoàn tiếng Anh ca chân Flanders, trước đây là s ch huy ca Đại tá Lockhart ni tiếng, và đã b giết chết trong trn chiến gn Dunkirk chng li người Tây Ban Nha. Nhng gì đã tr thành ca anh trai th hai ca tôi, tôi không bao gi biết, nhiu hơn bt k cha m tôi biết chuyn gì đã xy tôi.
Being the third son of the family and not bred to any trade, my head began to be filled very early with rambling thoughts.  My father, who was very ancient, had given me a competent share of learning, as far as house-education and a country free school generally go, and designed me for the law; but I would be satisfied with nothing but going to sea; and my inclination to this led me so strongly against the will, nay, the commands of my father, and against all the entreaties and persuasions of my mother and other friends, that there seemed to be something fatal in that propensity of nature, tending directly to the life of misery which was to befall me.
Là con trai th ba ca gia đình và không ging vi bt k thương mi, đầu ca tôi bt đầu được lp đầy rt sm vi nhng suy nghĩ lan man. Cha tôi, người đã rt c xưa, đã cho tôi mt phn có thm quyn ca hc tp, theo như nhà giáo dc và mt trường hc min phí đất nước nói chung đi, và được thiết kế cho tôi pháp lut, nhưng tôi s hài lòng vi gì, nhưng đi bin; và độ nghiêng ca tôi để điu này đã dn tôi rt mnh m chng li ý chí, không, các lnh ca cha tôi, và chng li tt c nhng li cu xin và thuyết phc ca m tôi và nhng người bn khác, rng dường như có mt cái gì đó gây t vong trong đó xu hướng ca thiên nhiên, chăm sóc trc tiếp đến đời sng ca đau kh mà là để xy tôi.
My father, a wise and grave man, gave me serious and excellent counsel against what he foresaw was my design.  He called me one morning into his chamber, where he was confined by the gout, and expostulated very warmly with me upon this subject.  He asked me what reasons, more than a mere wandering inclination, I had for leaving father’s house and my native country, where I might be well introduced, and had a prospect of raising my fortune by application and industry, with a life of ease and pleasure.  He told me it was men of desperate fortunes on one hand, or of aspiring, superior fortunes on the other, who went abroad upon adventures, to rise by enterprise, and make themselves famous in undertakings of a nature out of the common road; that these things were all either too far above me or too far below me; that mine was the middle state, or what might be called the upper station of low life, which he had found, by long experience, was the best state in the world, the most suited to human happiness, not exposed to the miseries and hardships, the labour and sufferings of the mechanic part of mankind, and not embarrassed with the pride, luxury, ambition, and envy of the upper part of mankind.  He told me I might judge of the happiness of this state by this one thing—viz. that this was the state of life which all other people envied; that kings have frequently lamented the miserable consequence of being born to great things, and wished they had been placed in the middle of the two extremes, between the mean and the great; that the wise man gave his testimony to this, as the standard of felicity, when he prayed to have neither poverty nor riches.
Cha tôi, mt người đàn ông khôn ngoan và nghiêm trng, đã cho tôi tư vn nghiêm trng và tuyt vi chng li nhng gì ông đã nhìn thy trước là thiết kế ca tôi. Ông gi tôi vào mt bui sáng vào phòng ca mình, nơi ông được gii hn bi các bnh gút, và expostulated rt nng nhit vi tôi khi ch đề này. Ông hi tôi lý do gì, hơn mt khuynh hướng lang thang ch, tôi đã cho ri khi nhà ca cha và quê hương ca tôi, nơi tôi có th gii thiu tt, và đã có mt vin cnh tăng tài sn ca mình bng cách ng dng và công nghip, vi mt cuc sng d dàng và nim vui. Ông nói vi tôi đó là nhng người đàn ông ca vn may tuyt vng trên mt bàn tay, hoc tham vng, tài sn cp trên v khác, nhng người đã đi ra nước ngoài khi cuc phiêu lưu, để tăng doanh nghip, và làm cho mình ni tiếng trong ch trương có tính cht ra khi con đường chung, đó nhng điu này là tt c hoc là quá xa trên tôi hoc quá thp hơn nhiu so vi tôi, rng tôi là nhà nước trung bình, hoc nhng gì có th được gi là trm trên ca cuc sng thp, mà ông đã tìm thy bng kinh nghim lâu, đã được trng thái tt nht trên thế gii , phù hp nht vi hnh phúc ca con người, không tiếp xúc vi nhng kh đau và khó khăn, lao động và đau kh ca các phn cơ khí ca nhân loi, và không cm thy xu h vi nim t hào, sang trng, tham vng và ghen t ca phn trên ca nhân loi. Ông nói vi tôi rng tôi có th đánh giá ca hnh phúc ca tình trng này bi mt điu này-tc. rng đây là trng thái ca cuc sng mà tt c mi người khác ghen t, đó v vua này đã thường xuyên phàn nàn v hu qu đau kh được sinh ra vi nhng điu tuyt vi, và chúc h đã được đặt gia hai thái cc, gia trung bình và ln, đó người đàn ông khôn ngoan đã chng mình điu này, như là tiêu chun ca Felicity, khi Chúa cu nguyn để có không nghèo kh, hoc s giàu có.
He bade me observe it, and I should always find that the calamities of life were shared among the upper and lower part of mankind, but that the middle station had the fewest disasters, and was not exposed to so many vicissitudes as the higher or lower part of mankind; nay, they were not subjected to so many distempers and uneasinesses, either of body or mind, as those were who, by vicious living, luxury, and extravagances on the one hand, or by hard labour, want of necessaries, and mean or insufficient diet on the other hand, bring distemper upon themselves by the natural consequences of their way of living; that the middle station of life was calculated for all kind of virtue and all kind of enjoyments; that peace and plenty were the handmaids of a middle fortune; that temperance, moderation, quietness, health, society, all agreeable diversions, and all desirable pleasures, were the blessings attending the middle station of life; that this way men went silently and smoothly through the world, and comfortably out of it, not embarrassed with the labours of the hands or of the head, not sold to a life of slavery for daily bread, nor harassed with perplexed circumstances, which rob the soul of peace and the body of rest, nor enraged with the passion of envy, or the secret burning lust of ambition for great things; but, in easy circumstances, sliding gently through the world, and sensibly tasting the sweets of living, without the bitter; feeling that they are happy, and learning by every day’s experience to know it more sensibly.
Ông nói li tôi quan sát nó, và tôi luôn luôn thy rng nhng tai ha ca cuc sng đã được chia s gia các phn trên và dưới ca nhân loi, nhưng là trm trung có nhng thm ha ít nht, và không tiếp xúc vi rt nhiu thăng trm như cao hơn hoc thp hơn mt phn ca nhân loi; Không, h không chu quá nhiu màu keo và uneasinesses, mt trong hai cơ th hoc tâm trí, như đó là nhng người, bng cách sng xu xa, sang trng, và extravagances trên mt mt, hoc lao động nng, mun các nhu yếu phm, và chế độ ăn ung trung bình hoc không đầy đủ, mt khác, mang li sự đau khi mình bi nhng hu qu t nhiên ca cách sng ca h, đó là trm trung ca cuc sng đã được tính toán cho tt c các loi đạo đức và tt c các loi thú vui, s bình an và rt nhiu là handmaids ca mt tài sn trung bình; mà điu độ, chng mc, yên tĩnh, y tế, xã hi, tt c các chuyn hướng d chu, và tt c nhng thú vui hp dn, là s ban phước tham d các trm trung ca cuc sng, mà theo cách này người đàn ông lng l và nh nhàng thông qua thế gii, và thoi mái ra ca nó, không xu h vi người lao động ca bàn tay hoc ca người đứng đầu, không bán cho mt cuc sng nô l cho lương thc hng ngày, cũng không quy ri vi hoàn cnh lúng túng, mà cướp linh hn ca hòa bình và cơ th ngh ngơi, cũng không tc gin vi nim đam mê ghen t, hoc bí mt cháy ham mun ca tham vng cho nhng điu tuyt vi, nhưng, trong hoàn cnh d dàng, trượt nh nhàng thông qua thế gii, và mt cách hp lý nếm đồ ngt ca cuc sng, mà không có s cay đắng, cm thy rng h đang hnh phúc, và hc thông qua kinh nghim ca mi ngày biết nó mt cách hp lý hơn.
After this he pressed me earnestly, and in the most affectionate manner, not to play the young man, nor to precipitate myself into miseries which nature, and the station of life I was born in, seemed to have provided against; that I was under no necessity of seeking my bread; that he would do well for me, and endeavour to enter me fairly into the station of life which he had just been recommending to me; and that if I was not very easy and happy in the world, it must be my mere fate or fault that must hinder it; and that he should have nothing to answer for, having thus discharged his duty in warning me against measures which he knew would be to my hurt; in a word, that as he would do very kind things for me if I would stay and settle at home as he directed, so he would not have so much hand in my misfortunes as to give me any encouragement to go away; and to close all, he told me I had my elder brother for an example, to whom he had used the same earnest persuasions to keep him from going into the Low Country wars, but could not prevail, his young desires prompting him to run into the army, where he was killed; and though he said he would not cease to pray for me, yet he would venture to say to me, that if I did take this foolish step, God would not bless me, and I should have leisure hereafter to reflect upon having neglected his counsel when there might be none to assist in my recovery.
Sau khi ông này ép tôi tha thiết, và theo cách trìu mến nht, không phi để chơi các chàng trai tr, cũng không phi để đẩy bn thân mình vào nhng đau kh mà bn cht, và các trm ca cuc sng tôi được sinh ra trong, dường như đã cung cp chng li, mà tôi đã theo không cn thiết phi tìm kiếm bánh mì ca tôi, rng ông s làm tt cho tôi, và c gng nhp tôi khá thành trm ca cuc sng mà ông va được gii thiu vi tôi, và nếu tôi không phi là rt d dàng và hnh phúc trên thế gii, nó phi là s phn ca tôi ch hoc li phi cn tr nó, và rng ông nên không có gì để tr li cho, do đó đã thi ra nhim v ca mình trong vic cnh báo tôi chng li các bin pháp mà ông biết s được ni đau ca tôi, trong mt t, có nghĩa là ông s làm điu rt tt cho tôi nếu tôi s li và gii quyết nhà như ông đạo din, vì vy anh s không có quá nhiu tay trong bt hnh ca tôi để cho tôi bt k khuyến khích để đi đi, và đóng ca tt c, ông nói vi tôi, tôi đã ln ca tôi anh cho mt ví d, người mà ông đã s dng thuyết phc mt cách nghiêm túc cùng để gi cho nó khi b sa vào các cuc chiến tranh Quc gia thp, nhưng không th áp dng, mong mun tr ca ông khiến ông phi chy vào quân đội, nơi ông đã b giết chết, và mc dù ông nói ông s không ngng cu nguyn cho tôi, nhưng ông s liên doanh để nói vi tôi, rng nếu tôi đi bước ngu ngc này, Thiên Chúa s không ban phước cho tôi, và tôi cn phi có gii trí sau đây để phn ánh trên đã b qua li khuyên ca mình khi có th có không có gì để h tr phc hi ca tôi.
I observed in this last part of his discourse, which was truly prophetic, though I suppose my father did not know it to be so himself—I say, I observed the tears run down his face very plentifully, especially when he spoke of my brother who was killed: and that when he spoke of my having leisure to repent, and none to assist me, he was so moved that he broke off the discourse, and told me his heart was so full he could say no more to me.
Tôi quan sát thy trong phn cui cùng này ca thuyết ca mình, mà thc s là tiên tri, mc dù tôi cho rng cha tôi không biết nó để được như vy mình-tôi nói, tôi quan sát thy nhng git nước mt chy xung khuôn mt ca mình rt tht nhiu, đặc bit là khi ông nói v người anh ca tôi người đã b giết chết: và đó khi ông nói v vic gii trí ca tôi phi ăn năn, và không có gì để h tr tôi, anh rt xúc động rng ông đã phá v các lun, và nói vi tôi rng trái tim ca anh quá đầy đủ, ông có th nói không vi tôi.
I was sincerely affected with this discourse, and, indeed, who could be otherwise? and I resolved not to think of going abroad any more, but to settle at home according to my father’s desire.  But alas! a few days wore it all off; and, in short, to prevent any of my father’s further importunities, in a few weeks after I resolved to run quite away from him.  However, I did not act quite so hastily as the first heat of my resolution prompted; but I took my mother at a time when I thought her a little more pleasant than ordinary, and told her that my thoughts were so entirely bent upon seeing the world that I should never settle to anything with resolution enough to go through with it, and my father had better give me his consent than force me to go without it; that I was now eighteen years old, which was too late to go apprentice to a trade or clerk to an attorney; that I was sure if I did I should never serve out my time, but I should certainly run away from my master before my time was out, and go to sea; and if she would speak to my father to let me go one voyage abroad, if I came home again, and did not like it, I would go no more; and I would promise, by a double diligence, to recover the time that I had lost. 
Tôi xin chân thành b nh hưởng vi ngôn này, và, thc s, nhng người có th khác được? và tôi quyết tâm không nghĩ rng đi ra nước ngoài na, nhưng để gii quyết nhà theo mong mun ca cha tôi. Nhưng than ôi! mt vài ngày mc nó tt c ra, và, trong ngn hn, để ngăn chn bt k importunities thêm ca cha tôi, trong mt vài tun sau khi tôi gii quyết để chy khá xa anh ta. Tuy nhiên, tôi đã không hành động như vy khá vi vàng như sc nóng đầu tiên có độ phân gii ca tôi nhc nh, nhưng tôi mt m tôi ti mt thi đim khi tôi nghĩy mt chút d chu hơn so vi bình thường, và nói vi cô rng suy nghĩ ca tôi là như vy hoàn toàn b b cong khi nhìn thy các thế gii mà tôi không bao gi gii quyết cho bt c điu gì vi độ phân gii đủ để đi qua vi nó, và cha ca tôi đã tt hơn cho tôi s đồng ý ca hơn buc tôi phi đi mà không có nó, mà tôi bây gi đã mười tám tui, mà đã quá mun để đi hc vic thương mi hoc nhân viên bán hàng vi mt lut sư, mà tôi chc chn rng nếu tôi đã làm tôi không bao gi phc v ra thi gian ca tôi, nhưng tôi chc chn s chy ra khi tng th ca tôi trước khi tôi đi ra ngoài, và đi ra bin, và nếu cô y nói chuyn vi tôi cha để cho tôi đi mt chuyến đi ra nước ngoài, nếu tôi tr v nhà mt ln na, và không thích nó, tôi s đi không nhiu, và tôi s ha hn, bi mt s tích cc đôi, để khôi phc li thi gian đó tôi đã b mt.
This put my mother into a great passion; she told me she knew it would be to no purpose to speak to my father upon any such subject; that he knew too well what was my interest to give his consent to anything so much for my hurt; and that she wondered how I could think of any such thing after the discourse I had had with my father, and such kind and tender expressions as she knew my father had used to me; and that, in short, if I would ruin myself, there was no help for me; but I might depend I should never have their consent to it; that for her part she would not have so much hand in my destruction; and I should never have it to say that my mother was willing when my father was not. 
Này đưa m tôi vào mt nim đam mê rt ln, cô y nói vi tôi rng cô y biết nó s không có mc đích để nói chuyn vi cha tôi trên bt k ch đề như vy, rng ông biết quá rõ quan tâm ca tôi để cung cp cho s đồng ý ca mình để bt c điu gì quá nhiu cho ni đau ca tôi là gì , và cô t hi làm thế nào tôi có th nghĩ ra bt k điu như vy sau khi thuyết tôi đã có vi cha tôi, và loi đó và biu thc đấu thu như cô biết cha tôi đã s dng để tôi, và rng, trong ngn hn, nếu tôi s hy hoi bn thân mình , không có s giúp đỡ cho tôi, nhưng tôi có th ph thuc tôi không bao gi có s đồng ý ca mình vi nó, đó v phn mình, cô y s không có quá nhiu tay hy dit ca tôi, và tôi s không bao gi có th nói được rng m tôi đã sn sàng khi cha tôi là không.
Though my mother refused to move it to my father, yet I heard afterwards that she reported all the discourse to him, and that my father, after showing a great concern at it, said to her, with a sigh, “That boy might be happy if he would stay at home; but if he goes abroad, he will be the most miserable wretch that ever was born: I can give no consent to it.”
Mc dù m tôi không chu di chuyn nó đến cha tôi, nhưng tôi nghe nói sau đó rng cô đã báo cáo tt c các lun vi anh ta, và rng cha ca tôi, sau khi cho thy mt mi quan tâm ln đó, nói vi cô y, vi mt tiếng th dài, "cu bé Đó có th là hnh phúc nếu anh ta s nhà, nhưng nếu anh ta đi ra nước ngoài, anh s là khn kh nht mà bao gi được sinh ra: tôi có th cung cp không đồng ý vi nó ".
It was not till almost a year after this that I broke loose, though, in the meantime, I continued obstinately deaf to all proposals of settling to business, and frequently expostulated with my father and mother about their being so positively determined against what they knew my inclinations prompted me to.  But being one day at Hull, where I went casually, and without any purpose of making an elopement at that time; but, I say, being there, and one of my companions being about to sail to London in his father’s ship, and prompting me to go with them with the common allurement of seafaring men, that it should cost me nothing for my passage, I consulted neither father nor mother any more, nor so much as sent them word of it; but leaving them to hear of it as they might, without asking God’s blessing or my father’s, without any consideration of circumstances or consequences, and in an ill hour, God knows, on the 1st of September 1651, I went on board a ship bound for London.  Never any young adventurer’s misfortunes, I believe, began sooner, or continued longer than mine.  The ship was no sooner out of the Humber than the wind began to blow and the sea to rise in a most frightful manner; and, as I had never been at sea before, I was most inexpressibly sick in body and terrified in mind.  I began now seriously to reflect upon what I had done, and how justly I was overtaken by the judgment of Heaven for my wicked leaving my father’s house, and abandoning my duty.  All the good counsels of my parents, my father’s tears and my mother’s entreaties, came now fresh into my mind; and my conscience, which was not yet come to the pitch of hardness to which it has since, reproached me with the contempt of advice, and the breach of my duty to God and my father.
Đó là không cho đến gn mt năm sau này mà tôi đã phá v lng lo, mc dù, trong thi gian đó, tôi vn tiếp tc ngoan c tai vi mi li đề ngh gii quyết cho doanh nghip, và thường xuyên expostulated vi cha và m tôi v vic b ca h để xác định tích cc chng li nhng gì h biết khuynh hướng ca tôi nhc nh tôi. Nhưng là mt ngày ti Hull, nơi tôi đã đi tình c, và không có bt k mc đích làm cho mt b trn ti thi đim đó, nhưng, tôi nói, đến đây, và mt trong nhng bn đồng hành ca tôi được v để đi thuyn đến London trong tàu ca cha mình, và thúc đẩy tôi đi vi h vi sự dân dụ chung ca nhng người đàn ông đi bin, mà nó phi chi phí cho tôi không có gì cho đon văn ca tôi, tôi tham kho ý kiến ​​không cha không m na, cũng không quá nhiu như gi cho h li ca nó, nhưng để li cho h nghe v nó như h có th, mà không yêu cu phước lành ca Thiên Chúa hay ca cha tôi, mà không có xem xét hoàn cnh hay hu qu, và trong mt gi b bnh, Thiên Chúa biết, vào ngày 01 Tháng 9 năm 1651, tôi đã đi trên mt con tàu b ràng buc đối vi London. Không bao gi bt hnh bt k nhà thám him tr tui, tôi tin rng, bt đầu sm hơn, hoc tiếp tc lâu hơn tôi. Con tàu đã không sm ra khi Humber hơn gió bt đầu thi và bin tăng mt cách khng khiếp nht, và, như tôi đã không bao gi được trên bin trước, tôi đã inexpressibly hu hết bnh trong cơ th và s hãi trong tâm trí. Tôi bt đầu bây gi nghiêm túc để phn ánh nhng gì tôi đã làm, và làm thế nào mt cách công bng tôi đã vượt qua bi s phán xét ca Thiên Đàng để ri khi nhà cha tôi độc ác ca tôi, và t b nhim v ca tôi. Tt c các tt li khuyên ca b m, nước mt ca cha tôi và li cu xin ca m tôi, đến bây gi mi vào tâm trí ca tôi, và lương tâm ca tôi, được chưa đến độ cao ca độ cng mà nó có t, trách c tôi vi s khinh mit ca tư vn , và các hành vi vi phm nghĩa v ca mình vi Thiên Chúa và cha ca tôi.
All this while the storm increased, and the sea went very high, though nothing like what I have seen many times since; no, nor what I saw a few days after; but it was enough to affect me then, who was but a young sailor, and had never known anything of the matter.  I expected every wave would have swallowed us up, and that every time the ship fell down, as I thought it did, in the trough or hollow of the sea, we should never rise more; in this agony of mind, I made many vows and resolutions that if it would please God to spare my life in this one voyage, if ever I got once my foot upon dry land again, I would go directly home to my father, and never set it into a ship again while I lived; that I would take his advice, and never run myself into such miseries as these any more.  Now I saw plainly the goodness of his observations about the middle station of life, how easy, how comfortably he had lived all his days, and never had been exposed to tempests at sea or troubles on shore; and I resolved that I would, like a true repenting prodigal, go home to my father.
Tt c điu này trong khi cơn bão tăng lên, và bin đã rt cao, mc dù không có gì ging như nhng gì tôi đã thy nhiu ln k t khi, không có, cũng không phi nhng gì tôi nhìn thy mt vài ngày sau, nhưng cũng đủ để nh hưởng đến tôi sau đó, là ai nhưng mt tr thy th, và chưa bao gi biết bt c điu gì v vn đề này. Tôi d kiến ​​mi sóng s nut phi chúng ta lên, và rng mi khi con tàu rơi xung, như tôi nghĩ rng nó đã làm, trong máng hoc rng ca bin, chúng ta s không bao gi tăng lên hơn; trong đau đớn này ca tâm trí, tôi đã thc hin nhiu li thđộ phân gii rng nếu nó s xin Thiên Chúa tha cho cuc sng ca tôi trong mt chuyến đi này, nếu bao gi tôi có mt chân ca tôi trên đất khô mt ln na, tôi s đi thng v nhà cho cha tôi, và không bao gi đặt nó vào mt chiếc tàu na trong khi tôi sng; rng tôi sđược li khuyên ca ông, và không bao gi chy bn thân mình vào nhng đau kh như thế này hơn bt k. Bây gi tôi nhìn thy rõ ràng s tt lành ca các quan sát ca mình v trm trung ca cuc sng, làm thế nào d dàng, làm thế nào thoi mái, ông đã sng tt c các ngày ca mình, và không bao gi được tiếp xúc vi bão t trên bin, khó khăn trên b, và tôi gii quyết mà tôi s, như mt ăn năn tht s hoang đàng, v nhà cho cha tôi.
These wise and sober thoughts continued all the while the storm lasted, and indeed some time after; but the next day the wind was abated, and the sea calmer, and I began to be a little inured to it; however, I was very grave for all that day, being also a little sea-sick still; but towards night the weather cleared up, the wind was quite over, and a charming fine evening followed; the sun went down perfectly clear, and rose so the next morning; and having little or no wind, and a smooth sea, the sun shining upon it, the sight was, as I thought, the most delightful that ever I saw. 
Nhng tư tưởng sáng sut và tnh táo tiếp tc tt c các trong khi cơn bão kéo dài, và thc s mt thi gian sau, nhưng ngày hôm sau gió đã du đi, và bin bình tĩnh hơn, và tôi bt đầu có mt chút inured vi nó, tuy nhiên, tôi đã rt nghiêm trng cho tt c các ngày đó, là cũng có mt chút bin bnh vn còn, nhưng đối vi đêm thi tiết sáng t, gió khá hơn, và mt bui ti đẹp quyến rũ sau, khi mt tri ln hoàn toàn rõ ràng, và tăng nên sáng hôm sau, và có ít hoc không có gió và bin mn, mt tri chiếu vào nó, khi nhìn thy là, như tôi nghĩ, thú v nht mà tôi tng thy.
I had slept well in the night, and was now no more sea-sick, but very cheerful, looking with wonder upon the sea that was so rough and terrible the day before, and could be so calm and so pleasant in so little a time after.  And now, lest my good resolutions should continue, my companion, who had enticed me away, comes to me; “Well, Bob,” says he, clapping me upon the shoulder, “how do you do after it?  I warrant you were frighted, wer’n’t you, last night, when it blew but a capful of wind?”  “A capful d’you call it?” said I; “’twas a terrible storm.”  “A storm, you fool you,” replies he; “do you call that a storm? why, it was nothing at all; give us but a good ship and sea-room, and we think nothing of such a squall of wind as that; but you’re but a fresh-water sailor, Bob.  Come, let us make a bowl of punch, and we’ll forget all that; d’ye see what charming weather ’tis now?”  To make short this sad part of my story, we went the way of all sailors; the punch was made and I was made half drunk with it: and in that one night’s wickedness I drowned all my repentance, all my reflections upon my past conduct, all my resolutions for the future.  In a word, as the sea was returned to its smoothness of surface and settled calmness by the abatement of that storm, so the hurry of my thoughts being over, my fears and apprehensions of being swallowed up by the sea being forgotten, and the current of my former desires returned, I entirely forgot the vows and promises that I made in my distress.  I found, indeed, some intervals of reflection; and the serious thoughts did, as it were, endeavour to return again sometimes; but I shook them off, and roused myself from them as it were from a distemper, and applying myself to drinking and company, soon mastered the return of those fits—for so I called them; and I had in five or six days got as complete a victory over conscience as any young fellow that resolved not to be troubled with it could desire.  But I was to have another trial for it still; and Providence, as in such cases generally it does, resolved to leave me entirely without excuse; for if I would not take this for a deliverance, the next was to be such a one as the worst and most hardened wretch among us would confess both the danger and the mercy of.
Tôi đã ng tt trong đêm, và bây gi không hơn mc nước bin b bnh, nhưng rt vui v, tìm kiếm điu k diu trên bin mà rt thô và khng khiếp ngày hôm trước, và có th được như vy bình tĩnh và d chu trong mt thi gian rt ít sau. Và bây gi, vì s rng độ phân gii tt ca tôi nên tiếp tc, đồng hành ca tôi, người đã lôi cun tôi đi, đến vi tôi, "Vâng, Bob," ông nói, v tay tôi trên vai, "làm thế nào để bn làm sau đó? ? "? Mt d'cái kết đầy bn gi nó là" tôi đảm bo bn đã frighted, wer'n't bn, đêm qua, khi nó n nhưng mt cái kết đầy ca gió "cho tôi," 'TWAS mt cơn bão khng khiếp. "" Mt cơn bão , bn đánh la bn, "ông tr li," Anh gi đó là mt cơn bão? lý do ti sao, đó là không có gì c, cho chúng ta nhưng mt con tàu tt và bin phòng, và chúng tôi nghĩ gì v như mt cơn gió ca gió như rng, nhưng bn nhưng mt thy th nước ngt, Bob. Hãy đến, chúng ta hãy thc hin mt bát cú đấm, và chúng tôi s quên tt c nhng gì;? D'anh em xem nhng gì tis thi tiết quyến rũ "ngay bây gi" Để làm ngn này là mt phn ca câu chuyn bun ca tôi, chúng tôi đi theo con đường ca tt c các thy th, nhng cú đấm đã được thc hin và tôi đã được thc hin mt na say vi nó: và trong mt đêm ca s gian ác tôi b chết đui tt c s ăn năn ca tôi, tt c các suy tư ca tôi trên hành vi quá kh ca tôi, tt c các ngh quyết ca tôi cho tương lai. Trong mt t, như bin được tr li cho mn ca b mt và gii quyết bình tĩnh bi s gim cơn bão, vì vy vi vàng suy nghĩ ca tôi là hơn, ni s hãi và nhng hiu biết ca tôi b nut chng bi bin b lãng quên, và hin ti nhng ham mun trước đây ca tôi tr li, tôi hoàn toàn quên mt li th và ha hn rng tôi đã b tai nn ca tôi. Tôi tìm thy, trên thc tế, mt s khong thi gian phn ánh và nhng suy nghĩ nghiêm túc bng, vì nó được, c gng quay tr li mt ln na đôi khi, nhưng tôi bt được chúng, và đánh thc bn thân mình t h vì nó là t mt lộn xộn, và áp dng bn thân mình để ung và công ty, sm làm ch được s tr li ca nhng người phù hp cho cho nên tôi gi h, và tôi đã có trong năm hoc sáu ngày đã như hoàn thành mt chiến thng trước lương tâm như bt k đồng nghip tr mà gii quyết không phi gp rc ri vi nó có th mong mun. Nhưng tôi đã có mt th nghim cho nó vn còn, và Providence, như trong trường hp như vy thường có, gii quyết để li cho tôi hoàn toàn không có lý do gì, vì nếu tôi s không thc hin vic này cho mt s gii thoát, tiếp theo là để được như vy mt như nhng k bt hnh nht và cng nht trong s chúng tôi s thú nhn c nguy him và lòng thương xót ca.
The sixth day of our being at sea we came into Yarmouth Roads; the wind having been contrary and the weather calm, we had made but little way since the storm.  Here we were obliged to come to an anchor, and here we lay, the wind continuing contrary—viz. at south-west—for seven or eight days, during which time a great many ships from Newcastle came into the same Roads, as the common harbour where the ships might wait for a wind for the river. 
Ngày th sáu ca con người chúng ta trên bin, chúng tôi đi vào đường Yarmouth, gió đã được trái và bình tĩnh thi tiết, chúng tôi đã thc hin nhưng cách ít k t khi cơn bão. đây chúng tôi buc phi đi đến mt neo, và đây chúng tôi nm, gió tiếp tc trái-tc. phía nam-tây-cho by hay tám ngày, trong thi gian mt nhiu tàu ln t Newcastle bước vào con đường cùng, cũng là cng chung mà các tàu có th ch đợi mt cơn gió cho dòng sông.
We had not, however, rid here so long but we should have tied* it up the river, but that the wind blew too fresh, and after we had lain four or five days, blew very hard.  However, the Roads being reckoned as good as a harbour, the anchorage good, and our ground-tackle very strong, our men were unconcerned, and not in the least apprehensive of danger, but spent the time in rest and mirth, after the manner of the sea; but the eighth day, in the morning, the wind increased, and we had all hands at work to strike our topmasts, and make everything snug and close, that the ship might ride as easy as possible.  By noon the sea went very high indeed, and our ship rode forecastle in, shipped several seas, and we thought once or twice our anchor had come home; upon which our master ordered out the sheet-anchor, so that we rode with two anchors ahead, and the cables veered out to the bitter end.
Chúng tôi đã không, tuy nhiên, thoát khi đây rt lâu nhưng chúng ta nên đã gn* nó lên dòng sông, nhưng do gió thi quá tươi, và sau khi chúng tôi đã nm bn hoc năm ngày, thi rt khó khăn. Tuy nhiên, con đường được xem thuc như tt như bến cng, các neo tt, và chúng tôi mt đất gii quyết rt mnh m, đàn ông chúng tôi đã không quan tâm, và không phi trong s hãi nht là nguy him, nhưng dành thi gian trong phn còn li và đùa vui, sau khi cách bin, nhưng ngày th tám, vào bui sáng, gió tăng lên, và chúng tôi đã có tt c các tay ti nơi làm vic để tn công topmasts ca chúng tôi, và làm cho mi th m cúng và gn gũi, rng con tàu có th đi d dàng như có th. Đến trưa bin đã đi rt cao thc s, và con tàu ca chúng tôi lái forecastle trong, vn chuyn mt s vùng bin, và chúng tôi nghĩ mt ln hoc hai ln neo ca chúng tôi đã tr v nhà, khi mà ch ca chúng tôi đã ra lnh ra t-neo, do đó chúng tôi đã đi cùng vi hai neo phía trước, và các loi cáp đi lc ra ngoài để kết thúc cay đắng.
Note: sách gõ sai t tie => tied (gn)
By this time it blew a terrible storm indeed; and now I began to see terror and amazement in the faces even of the seamen themselves.  The master, though vigilant in the business of preserving the ship, yet as he went in and out of his cabin by me, I could hear him softly to himself say, several times, “Lord be merciful to us! we shall be all lost! we shall be all undone!” and the like.  During these first hurries I was stupid, lying still in my cabin, which was in the steerage, and cannot describe my temper: I could ill resume the first penitence which I had so apparently trampled upon and hardened myself against: I thought the bitterness of death had been past, and that this would be nothing like the first; but when the master himself came by me, as I said just now, and said we should be all lost, I was dreadfully frighted.  I got up out of my cabin and looked out; but such a dismal sight I never saw: the sea ran mountains high, and broke upon us every three or four minutes; when I could look about, I could see nothing but distress round us; two ships that rode near us, we found, had cut their masts by the board, being deep laden; and our men cried out that a ship which rode about a mile ahead of us was foundered.  Two more ships, being driven from their anchors, were run out of the Roads to sea, at all adventures, and that with not a mast standing.  The light ships fared the best, as not so much labouring in the sea; but two or three of them drove, and came close by us, running away with only their spritsail out before the wind.
Bi thi gian này nó thi mt cơn bão khng khiếp thc s, và bây gi tôi bt đầu thy s hãi và ngc nhiên trong nhng khuôn mt thm chí ca các thy th ca mình. Thuyn trưởng, dù thn trng trong các doanh nghip trong vic bo v con tàu, nhưng khi anh ta vào và ra khi cabin ca mình bi tôi, tôi có th nghe thy anh nh nhàng vi chính mình nói, nhiu ln: "Ly Chúa xin thương xót chúng tôi! chúng ta s được tt c các b mt! chúng ta s có tt c các hoàn tác! "và mun. Trong nhng vi vã đầu tiên tôi đã ngu ngc, nm yên trong cabin ca tôi, mà là trong các lái tàu, và không th din t tính khí ca tôi: tôi b bnh có th tiếp tc sám hi đầu tiên mà tôi đã như vy rõ ràng chà đạp lên và cng bn thân mình chng li: Tôi nghĩ s cay đắng ca cái chết đã qua, và điu này s không có gì như là người đầu tiên, nhưng khi thy mình đi ngang qua tôi, như tôi va nói, và cho biết chúng tôi phi được tt c b mt, tôi đã khiếp frighted. Tôi đứng dy ra khi cabin ca tôi và nhìn ra ngoài, nhưng mt cnh m đạm như vy tôi chưa bao gi thy: bin chy núi cao, và đã phá v khi chúng ta mi ba hoc bn phút, khi tôi có th nhìn v, tôi có th nhìn thy gì, nhưng đau kh vòng chúng tôi , hai tàu đi xe gn chúng tôi, chúng tôi thy, đã ct ct bum ca h bi hi đồng qun tr, là sâu nng trĩu, và người đàn ông ca chúng tôi đã khóc ra rng mt con tàu mà đi xe khong mt dm phía trước chúng ta được chìm. Hơn hai tàu, b đui ra khi các neo, đã chy ra khi đường bin, tt c các cuc phiêu lưu, và vi không mt đứng ct. Tàu ánh sáng tình trng tt nht, như không quá nhiu làm thuê trên bin, nhưng hai hoc ba người trong s h lái xe, và đến gn chúng tôi, chy đi vi ch spritsail ca h ra trước gió.
Towards evening the mate and boatswain begged the master of our ship to let them cut away the fore-mast, which he was very unwilling to do; but the boatswain protesting to him that if he did not the ship would founder, he consented; and when they had cut away the fore-mast, the main-mast stood so loose, and shook the ship so much, they were obliged to cut that away also, and make a clear deck.
V chiu người bn đời và thuyền trưởng xin ch nhân ca con tàu ca chúng tôi để cho h ct đi phía trước, ct, mà ông rt không mun làm, nhưng các thuyền trưởng phn đối vi ông rng nếu anh ta đã không tàu s sáng lp, ông đồng ý, và khi h đã ct đi phía trước, ct bum, các chính ct đứng để lng lo, và bt con tàu rt nhiu, h b buc phi ct gim mà xa cũng có, và làm cho mt c rõ ràng.
Any one may judge what a condition I must be in at all this, who was but a young sailor, and who had been in such a fright before at but a little.  But if I can express at this distance the thoughts I had about me at that time, I was in tenfold more horror of mind upon account of my former convictions, and the having returned from them to the resolutions I had wickedly taken at first, than I was at death itself; and these, added to the terror of the storm, put me into such a condition that I can by no words describe it.  But the worst was not come yet; the storm continued with such fury that the seamen themselves acknowledged they had never seen a worse.  We had a good ship, but she was deep laden, and wallowed in the sea, so that the seamen every now and then cried out she would founder.  It was my advantage in one respect, that I did not know what they meant by founder till I inquired.  However, the storm was so violent that I saw, what is not often seen, the master, the boatswain, and some others more sensible than the rest, at their prayers, and expecting every moment when the ship would go to the bottom.  In the middle of the night, and under all the rest of our distresses, one of the men that had been down to see cried out we had sprung a leak; another said there was four feet water in the hold.  Then all hands were called to the pump.  At that word, my heart, as I thought, died within me: and I fell backwards upon the side of my bed where I sat, into the cabin.  However, the men roused me, and told me that I, that was able to do nothing before, was as well able to pump as another; at which I stirred up and went to the pump, and worked very heartily.  While this was doing the master, seeing some light colliers, who, not able to ride out the storm were obliged to slip and run away to sea, and would come near us, ordered to fire a gun as a signal of distress.  I, who knew nothing what they meant, thought the ship had broken, or some dreadful thing happened.  In a word, I was so surprised that I fell down in a swoon.  As this was a time when everybody had his own life to think of, nobody minded me, or what was become of me; but another man stepped up to the pump, and thrusting me aside with his foot, let me lie, thinking I had been dead; and it was a great while before I came to myself.
Bt k ai có th đánh giá nhng gì mt điu kin tôi phi tt c điu này, là người nhưng mt thy th tr, và nhng người đã trong mt s hãi trước khi vào nhưng mt chút. Nhưng nếu tôi có th th hin khong cách này nhng suy nghĩ ca tôi v tôi ti thi đim đó, tôi đã gp mười ln hơn kinh d tâm khi tài khon ca nim tin trước đây ca tôi, và sau khi tr v t h để các ngh quyết tôi đã ác thc hin ti đầu tiên, hơn Tôi đã cái chết, và này, thêm vào ni kinh hoàng ca cơn bão, đặt tôi vào mt tình trng như vy mà tôi có th không có t này mô t nó. Nhưng điu ti t nht đã không đến được nêu ra, cơn bão tiếp tc vi cơn gin d như vy mà các thy th t tha nhn rng h chưa bao gi thy mt ti t hơn. Chúng tôi đã có mt con tàu tt, nhưng cô y sâu nng trĩu, và wallowed trên bin, do đó, các thy th tt c bây gi và sau đó kêu cô s sáng lp. Đó là li thế ca tôi trong mt s tôn trng, tôi không biết nhng gì h có nghĩa là bi  người sáng lp  cho đến khi tôi hi. Tuy nhiên, cơn bão rt bo lc mà tôi đã nhìn thy, nhng gì không thường thy, các thy, các thuyn trưởng, và mt s người khác hơn na hp lý hơn so vi phn còn li, nhng li cu nguyn ca h, và mong đợi tng giây phút khi con tàu s đi đến phía dưới. Vào gia đêm, và dưới tt c các phn còn li ca distresses ca chúng tôi, mt trong nhng người đàn ông đã được xung để xem kêu lên chúng tôi đã bung mt rò r; khác cho biết có bn chân nước trong các t chc. Sau đó, tt c các tay được gi đến máy bơm. Ti t đó, trái tim tôi, như tôi nghĩ, đã chết trong tôi: và tôi ngã v phía sau khi các bên giường ca tôi, nơi tôi ngi, vào cabin. Tuy nhiên, nhng người đàn ông đánh thc tôi, và nói vi tôi rng tôi, mà đã có th làm gì trước, là cũng có kh năng bơm máu khác; mà tôi khuy động lên và đi đến bơm, và đã làm vic rt chân thành. Trong khi điu này đã được làm thuyn trưởng, nhìn thy mt s th m ánh sáng, người, không th vượt qua cơn bão buc phi trượt và chy đi ra bin, và s đến gn chúng tôi, ra lnh bn súng như mt tín hiu ca đau kh. Tôi, nhng người không biết gì nhng gì h có nghĩa là, nghĩ rng con tàu đã b hng, hoc mt s điu khng khiếp đã xy ra. Trong mt t, tôi đã rt ngc nhiên rng tôi cm thy trong mình ngt đi. Vì đây là thi đim mà tt c mi người đã có cuc sng riêng ca mình để nghĩ đến, không ai phin tôi, hoc nhng gì đã tr thành ca tôi, nhưng mt người đàn ông bước lên máy bơm và đẩy tôi sang mt bên vi chân ca mình, hãy để tôi nói di, tôi đã có suy nghĩ đã chết, và đó là mt thi gian tuyt vi trước khi tôi đến bn thân mình.
We worked on; but the water increasing in the hold, it was apparent that the ship would founder; and though the storm began to abate a little, yet it was not possible she could swim till we might run into any port; so the master continued firing guns for help; and a light ship, who had rid it out just ahead of us, ventured a boat out to help us.  It was with the utmost hazard the boat came near us; but it was impossible for us to get on board, or for the boat to lie near the ship’s side, till at last the men rowing very heartily, and venturing their lives to save ours, our men cast them a rope over the stern with a buoy to it, and then veered it out a great length, which they, after much labour and hazard, took hold of, and we hauled them close under our stern, and got all into their boat.  It was to no purpose for them or us, after we were in the boat, to think of reaching their own ship; so all agreed to let her drive, and only to pull her in towards shore as much as we could; and our master promised them, that if the boat was staved upon shore, he would make it good to their master: so partly rowing and partly driving, our boat went away to the northward, sloping towards the shore almost as far as Winterton Ness.
Chúng tôi làm vic trên, nhưng s gia tăng trong khu vc cha nước, rõ ràng rng con tàu s sáng lp, và mc dù cơn bão đã bt đầu gim đi mt chút, nhưng nó đã không th cô có th bơi cho đến khi chúng tôi có th chy vào bt k cng, vì thế ch bn súng tiếp tc giúp đỡ, và mt con tàu ánh sáng, người đã thoát khi nó ra ngay trước chúng tôi, mo him mt chiếc thuyn ra để giúp chúng tôi. Đó là vi các mi nguy him ti đa thuyn đến gn chúng ta, nhưng nó đã không th cho chúng tôi đểđược trên tàu, hoc thuyn để nm gn mn tàu bin, cho đến khi cui cùng nhng người đàn ông chèo thuyn rt chân thành, và mo him mng sng để cu chúng ta , người đàn ông ca chúng tôi quăng mt si dây thng trên đuôi vi mt cái phao để nó, và sau đó đổi hướng nó ra mt chiu dài ln, mà h, sau khi nhiu lao động và nguy him, nm ly, và chúng tôi kéo chúng gn dưới đuôi ca chúng tôi, và có tt c vào thuyn ca h. Nó là không có mc đích cho h hay chúng ta, sau khi chúng ta trong thuyn, nghĩ v đạt con tàu ca riêng mình, vì thế tt c đồng ý để cho đĩa ca mình, và ch để kéo cô v phía b nhiu như chúng tôi có th, và ch ca chúng tôi ha vi h, rng nếu con tàu được staved trên b, anh s làm cho nó tt để làm ch ca h: mt phn để chèo thuyn và mt phn lái xe, thuyn ca chúng tôi đã đi đến phía bc, dc v phía b gn như xa như Winterton Ness.
We were not much more than a quarter of an hour out of our ship till we saw her sink, and then I understood for the first time what was meant by a ship foundering in the sea.  I must acknowledge I had hardly eyes to look up when the seamen told me she was sinking; for from the moment that they rather put me into the boat than that I might be said to go in, my heart was, as it were, dead within me, partly with fright, partly with horror of mind, and the thoughts of what was yet before me.
Chúng tôi đã không có nhiu hơn mt phn tư ca mt gi ra khi con tàu ca chúng tôi cho đến khi chúng ta đã thy bn ra chén ca mình, và sau đó tôi hiu ln đầu tiên nhng gì có nghĩa là bi mt con tàu chìm trong bin. Tôi phi tha nhn tôi đã hu như không mt nhìn lên khi các thy th nói vi tôi cô y đã chìm, vì t thi đim đó h thay vì quăng tôi xung thuyn hơn là tôi có th nói là đi, trái tim tôi, vì nó được, chết trong tôi, mt phn vì s, mt phn vi kinh d ca tâm trí, và nhng suy nghĩ v nhng gì đã được nêu ra trước mt tôi.
While we were in this condition—the men yet labouring at the oar to bring the boat near the shore—we could see (when, our boat mounting the waves, we were able to see the shore) a great many people running along the strand to assist us when we should come near; but we made but slow way towards the shore; nor were we able to reach the shore till, being past the lighthouse at Winterton, the shore falls off to the westward towards Cromer, and so the land broke off a little the violence of the wind.  Here we got in, and though not without much difficulty, got all safe on shore, and walked afterwards on foot to Yarmouth, where, as unfortunate men, we were used with great humanity, as well by the magistrates of the town, who assigned us good quarters, as by particular merchants and owners of ships, and had money given us sufficient to carry us either to London or back to Hull as we thought fit.
Trong khi chúng tôi đang trong tình trng này-nhng người đàn ông nhưng lao động ti các mái chèo đưa thuyn gn b, chúng ta có th nhìn thy (khi, thuyn ca chúng tôi gn kết nhng con sóng, chúng tôi đã có th nhìn thy b bin) rt nhiu người chy dc theo si để h tr chúng ta khi chúng ta nên đến gn, nhưng chúng tôi thc hin nhưng cách chm chp v phía b, cũng không phi là chúng tôi có th tiếp cn b đến, là quá kh ngn hi đăng ti Winterton, b bin rơi khi để hướng v phía Tây theo hướng Cromer, và do đó đất đã phá v mt chút bo lc ca gió. đây chúng tôi bước vào, và mc dù không phi không có nhiu khó khăn, có tt c an toàn trên b, và sau đó đi b đến Yarmouth, đâu, như nhng người đàn ông không may, chúng tôi đã được s dng vi nhân loi ln, cũng bi các quan tòa ca th trn, người được phân công chúng tôi quý tt, như các thương gia đặc bit, ch s hu tàu, và đã ban cho chúng ta đủ tin để thc hin mt trong hai chúng tôi ti London hoc quay tr li Hull như chúng tôi nghĩ phù hp.
Had I now had the sense to have gone back to Hull, and have gone home, I had been happy, and my father, as in our blessed Saviour’s parable, had even killed the fatted calf for me; for hearing the ship I went away in was cast away in Yarmouth Roads, it was a great while before he had any assurances that I was not drowned.
Đã bây gi tôi có cm giác như đã đi tr li Hull, và đã tr v nhà, tôi đã được hnh phúc, và cha tôi, như trong d ngôn phúc Đấng Cu Độ ca chúng tôi, thm chí còn làm tht con bê fatted cho tôi, vì nghe con tàu tôi ra đi trong đã được b đi trong Yarmouth đường, đó là mt thi gian tuyt vi trước khi có bt k s đảm bo rng tôi đã không b chết đui.
But my ill fate pushed me on now with an obstinacy that nothing could resist; and though I had several times loud calls from my reason and my more composed judgment to go home, yet I had no power to do it.  I know not what to call this, nor will I urge that it is a secret overruling decree, that hurries us on to be the instruments of our own destruction, even though it be before us, and that we rush upon it with our eyes open.  Certainly, nothing but some such decreed unavoidable misery, which it was impossible for me to escape, could have pushed me forward against the calm reasonings and persuasions of my most retired thoughts, and against two such visible instructions as I had met with in my first attempt.
Nhưng s phn b bnh ca tôi đã đẩy tôi vào bây gi vi mt s bướng bnh rng không có gì có th cưỡng li, và mc dù tôi đã nhiu ln ln các cuc gi t lý do ca tôi và đánh giá bao gm hơn tôi v nhà, nhưng tôi không có quyn làm điu đó. Tôi không biết nhng gì để gi này, tôi cũng s thúc gic rng đó là mt ngh định bác b bí mt, mà vi vã chúng tôi vào được các công c hy dit ca riêng ca chúng tôi, mc dù nó là trước khi chúng tôi, và chúng tôi vi vàng vào nó vi đôi mt ca chúng tôi m . Chc chn, không có gì nhưng mt s ví d lnh đau kh không th tránh khi, mà nó đã không th cho tôi để chy trn, có th đã đẩy tôi v phía trước chng li nhng lun bình tĩnh và sc thuyết phc ca nhng tư tưởng v hưu nht ca tôi, và đối vi hai hướng dn có th nhìn thy như tôi đã gp trong ln đầu tiên ca tôi n lc.
My comrade, who had helped to harden me before, and who was the master’s son, was now less forward than I.  The first time he spoke to me after we were at Yarmouth, which was not till two or three days, for we were separated in the town to several quarters; I say, the first time he saw me, it appeared his tone was altered; and, looking very melancholy, and shaking his head, he asked me how I did, and telling his father who I was, and how I had come this voyage only for a trial, in order to go further abroad, his father, turning to me with a very grave and concerned tone “Young man,” says he, “you ought never to go to sea any more; you ought to take this for a plain and visible token that you are not to be a seafaring man.”  “Why, sir,” said I, “will you go to sea no more?”  “That is another case,” said he; “it is my calling, and therefore my duty; but as you made this voyage on trial, you see what a taste Heaven has given you of what you are to expect if you persist.  Perhaps this has all befallen us on your account, like Jonah in the ship of Tarshish.  Pray,” continues he, “what are you; and on what account did you go to sea?”  Upon that I told him some of my story; at the end of which he burst out into a strange kind of passion: “What had I done,” says he, “that such an unhappy wretch should come into my ship?  I would not set my foot in the same ship with thee again for a thousand pounds.”  This indeed was, as I said, an excursion of his spirits, which were yet agitated by the sense of his loss, and was farther than he could have authority to go.  However, he afterwards talked very gravely to me, exhorting me to go back to my father, and not tempt Providence to my ruin, telling me I might see a visible hand of Heaven against me.  “And, young man,” said he, “depend upon it, if you do not go back, wherever you go, you will meet with nothing but disasters and disappointments, till your father’s words are fulfilled upon you.”
Đồng chí ca tôi, nhng người đã giúp tôi cng trước đây, và là người con ca v thy, là hin nay ít hơn v phía trước I. Ln đầu tiên ông đã nói chuyn vi tôi sau khi chúng tôi đã Yarmouth, mà đã không đến hai hoc ba ngày, cho chúng tôi tách ra trong th trn để mt vài quý, tôi nói, ln đầu tiên anh nhìn thy tôi, nó xut hin ging nói ca anh đã b thay đổi, và, trông rt bun, và lc đầu, anh ta hi tôi làm thế nào tôi đã làm, và nói vi cha tôi là ai , và làm thế nào tôi đã đi chuyến đi này ch để dùng th, để đi xa hơn nước ngoài, người cha ca mình, quay sang tôi vi mt ging rt nghiêm trng và có liên quan "Chàng trai tr," ông nói, "bn đáng l không bao gi đi bin nào hơn, bn nên thc hin vic này cho mt mã thông báo đơn gin và có th nhìn thy rng bn không phi là mt người đàn ông đi bin "" Ti sao, thưa ông, "tôi nói," bn s đi ra bin không? "" Đó là mt trường hp khác, ". cho biết ông, "đó là mong mun ca tôi, và do đó nhim v ca tôi, nhưng như bn đã thc hin chuyến đi này v dùng th, bn xem nhng gì mt thiên đường hương v đưa cho bn nhng gì bn mong đợi nếu bn vn tn ti. Có l điu này đã xy ra vi tt c chúng ta trên tài khon ca bn, như Giô-na trong các tàu ca-rê-si. Cu nguyn, "ông tiếp tc," bn là gì, và nhng gì tài khon mà bn đã đi ra bin "Khi đó tôi đã nói vi anh ta mt s câu chuyn ca tôi, vào cui năm đó ông bt ra thành mt loi k l ca nim đam mê:" Cái gì đã có tôi thc hin ", ông nói," rng đó là mt k bt hnh không hài lòng nên đi vào tàu ca tôi? Tôi s không đặt chân ca tôi trong cùng mt tàu vi ngươi mt ln na cho mt ngàn bng. "Đây thc s là, như tôi đã nói, mt chuyến tham quan ca tinh thn ca mình, mà chưa được kích động bi nhng cm giác mt mát ca mình, và là xa hơn so vi nhng gì có th có quyn đi. Tuy nhiên, sau đó ông đã nói chuyn rt nghiêm trng đối vi tôi, c vũ tôi quay tr li cha tôi, và không cám d Providence để hy hoi tôi, nói vi tôi, tôi có th nhìn thy mt bàn tay hu hình ca Thiên Đàng vi tôi. "Và, người đàn ông tr tui," ông nói, "ph thuc vào nó, nếu bn không quay tr li, bt c nơi nào bn đi, bn s đáp ng vi không có gì nhưng thm ha và tht vng, đến t cha ca bn được đáp ng khi bn."
We parted soon after; for I made him little answer, and I saw him no more; which way he went I knew not.  As for me, having some money in my pocket, I travelled to London by land; and there, as well as on the road, had many struggles with myself what course of life I should take, and whether I should go home or to sea.
Chúng tôi chia tay ngay sau khi, vì tôi làm cho anh ít câu tr li, và tôi thy anh ta không, mà cách anh đi tôi biết không. Đối vi tôi, có mt s tin trong túi ca tôi, tôi đi đến London bng đường b, và đó, cũng như trên đường, đã có nhiu cuc đấu tranh vi bn thân mình nhng gì trình ca cuc đời tôi nên dùng, và liu tôi có nên v nhà hoc ra bin .
As to going home, shame opposed the best motions that offered to my thoughts, and it immediately occurred to me how I should be laughed at among the neighbours, and should be ashamed to see, not my father and mother only, but even everybody else; from whence I have since often observed, how incongruous and irrational the common temper of mankind is, especially of youth, to that reason which ought to guide them in such cases—viz. that they are not ashamed to sin, and yet are ashamed to repent; not ashamed of the action for which they ought justly to be esteemed fools, but are ashamed of the returning, which only can make them be esteemed wise men.
Như được v nhà, xu h phn đối chuyn động tt nht mà cung cp cho suy nghĩ ca tôi, và nó ngay lp tc xy ra vi tôi như thế nào tôi nên cười trong nhng người hàng xóm, và nên xu h để xem, không cha và m tôi ch, nhưng ngay c khi tt c mi người khác , t đâu Tôi có k t thường được quan sát, cách phi lý và phi lý tính khí chung ca nhân loi là, đặc bit là thanh niên, vào lý do đó mà phi hướng dn h trong trường hp như vy-tc. rng h không phi xu h vi ti li, nhưng là xu h khi ăn năn, không xu h v hành động mà h nên công bng là k ngu quý, nhưng là xu h v s tr li, mà ch có th làm cho h là nhng người đàn ông khôn ngoan quý.
In this state of life, however, I remained some time, uncertain what measures to take, and what course of life to lead.  An irresistible reluctance continued to going home; and as I stayed away a while, the remembrance of the distress I had been in wore off, and as that abated, the little motion I had in my desires to return wore off with it, till at last I quite laid aside the thoughts of it, and looked out for a voyage. 
Trong trng thái này ca cuc sng, tuy nhiên, tôi vn còn mt thi gian, chc chn nhng bin pháp để thc hin, và nhng gì trình ca cuc đời để lãnh đạo. Mt s min cưỡng không th cưỡng li tiếp tc đi v nhà, và như tôi li đi mt thi gian, vic tưởng nh đến các nn tôi đã mc trong ra, và như du đi, s chuyn động nh tôi đã có trong mong mun ca tôi để tr v mc đi vi nó, cho đến lúc cui cùng tôi hoàn toàn b qua mt bên nhng suy nghĩ ca nó, và nhìn ra ngoài cho mt chuyến đi.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét