Thứ Sáu, tháng 12 06, 2013

52. Phật Pháp Chánh Giác ; Dharma Enlightenment

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 52
Practice self-taught English translation: No. 52
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 
Phật Pháp Chánh Giác
Dharma Enlightenment
(佛法启蒙)

( Trang 779-793 ; Pages 779-793 )
Phật Pháp chánh giác : có ra do tứ diệu đề; Dharma enlightenment: it caused by the Four Noble Truths.
Pháp Phật là giác chánh, là pháp của trong tứ diệu đề, do tứ diệu đề sanh ra. ; Dharma is the primary sense, is the law of the Four Noble Truths, the Four Noble Truths by birth. Chánh giác là pháp, là tiếng trống, tứ diệu đề là dùi trống, mặt đất cõi đời là mặt của cái trống. ; Enlightenment is legal, is drumming, Four Noble Truths is Drumsticks, ground earth's surface is a drum. Bởi có mặt của cái trống, Phật mới chỉ ra : dùi trống, dùi chạm mặt trống, mới sanh tiếng trống, tiếng ấy là Phật pháp chánh giác. ; By presence of the drum, Buddha pointed out: drumstick, drum stick touch, newborn drums, that is Dharma enlightenment. Còn chúng sanh là người nghe. ; And being that the listener.
Tứ diệu đề: khổ, tập, diệt, đạo. 
Four Noble Truths: suffering, set, kill, religion.
Bởi chúng sanh sầu khổ, nên đức Phật, mới nói rằng: Nầy là khổ, vấn đề, đề mục khổ, nầy nguyên nhân: sanh ra khổ, là tập, vấn đề, đề mục: tập. ; By being afflicted, so the Buddha, the new saying: 'This is suffering, the issue of title suffering this causes: born of suffering, is set, the issue of title: collective. Nầy, phép diệt sự khổ, là diệt, vấn đề, đề mục: đạo. ; Behold, lets kill the suffering, the killing, the issue of title: director. Nầy, là đạo diệt luân hồi khổ, là diệt, vấn đề, đề mục: diệt. ; Behold, the suffering of samsara destroy religion, is destroyed, the issue of title: kill. Đạo: là con đường đi, sau khi diệt: luân hồi khổ. ; Religion: is the way to go, after killing: reincarnation suffering. Diệt là: diệt bỏ 12 nhân duyên tập, của luân hồi. ; Removal is: to destroy the collective karmic 12, of reincarnation. Tập là tập: sanh tử luân hồi, để chứa khổ, khổ là khổ bởi tập luân hồi, vì: không diệt  đạo.Volume is set: rebirth, to contain suffering, suffering is suffering by collective reincarnation, because: not destroy religion.
Thế nên: khổ, tập, diệt, và đạo, gọi là tứ diệu đề, bốn vấn đề, đề mục dùi trống, do đó mà sanh ra các pháp, tiếng tăm vang dội, Phật pháp là chánh giác, lý lẽ giác ngộ chân chánh, đối với cõi đời mặt trống, để giảng dạy chúng sanh. Chính đức Phật, là người gióng trống Phật Pháp, tiếng trống là pháp âm, diệu âm, sư tử âm, hải triều âm v.v…Tiếng trống có đủ ba lần chín lượt, tức là ba thừa giáo lý, chín phẩm hạnh, tuyệt vời huyền diệu.
Tứ diệu đề cũng là bốn căm xe của bánh xe pháp, pháp là bánh xe, ba thừa, chín phẩm hạnh là ba vòng chín lớp, từ nhỏ tới lớn, cõi đời là mặt đất, Phật là người lái chuyển xoay, trụ cốt của bánh xe "Chân-Như", chúng sanh là kẻ khách bộ hành. Niết Bàn là thùng xe chở chứa. Phật dùng đó mà đưa độ kẻ khách chúng sanh, gọi là từ Đông sang Tây, đến nơi Cực Lạc. Bởi có bánh mới có lăn, có căm mới có chạy, nên gọi là trụ cốt "Chân-Như" đã phát sanh ra căm Tứ diệu đề, căm của xe sanh bánh xe Phật pháp chánh giác, do đó chúng sanh có thể níu đeo theo bánh xe của Pháp Bảo, bước lên căm trèo lên trụ cốt, mà bước vào thùng xe Niết Bàn, Niết Bàn cứu độ làm thùng xe của Pháp Bảo, chỗ đựng chứa chúng sanh, rước đưa về nơi Cực Lạc, giải thoát khổ não và sinh tử luân hồi, chính Niết Bàn thùng xe là thế giới Cực Lạc bên kia ấy rồi, sự cố gắng của Phật là như con bò, nguyện lực làm dây cương, roi là thúc giục tinh tấn, chăm chỉ là đi tới. 
Vậy thì đây ba vòng chín lớp của bánh xe, pháp chánh giác, từ xưa, ghi dấu trên đường đời để lại… Nầy là BỐN XỨ NIỆM: thân, bịnh, ý, và pháp.
So here's three wheel nine classes, legal enlightenment, from ancient times, to mark the road of life ... This is the groat CELEBRATION: body, disease, attention, and legal.
1. a)Ta hằng có niệm tưởng đến thân, tìm xét thấy ra, thân là không có, thân có ra do nhơn duyên tứ đại tạo thành, chớp bóng huyễn hoặc mơ hồ, thân là vô thường thay đổi. Thân của ta mà chẳng phải thân là chính ta, thân là một món đồ bằng đất, nước, lửa, gió hiệp thành. Kẻ chết nuôi cái sống, món nầy món kia sớt chan dồn qua cái nọ. Thân này là của tất cả, tất cả là của thân nầy, tiếng ta là chung toàn thể, chẳng phải riêng tôi, thân có ra do những chất sống phối hợp, rồi đây nó sẽ rã ra, phối hợp cho những cái khác. Mắt, tai, mũi, lưỡi, tay, chân, mình, bụng, màu sắc, cử động, có sống, có biết, có linh, là do ấm của lửa, lửa tắt đi rồi, trơ lạnh là sẽ chết. Nó như một chiếc xe, trơn láng bên ngoài, trong là bộ máy, máy chạy cho hơi chuyền của trong bụng mẹ, từ đo quen trớn, và có đủ chất nuôi, thì nó chạy mãi, lâu sau nó phải sét mòn tan rã, máy ngừng tắt lạnh. Cái thân là một ổ chúng sanh vi trùng. Kết tụ và đang tranh đấu, mặt trận quân binh là yên ổn, một bên hỗn thắng, các loại khác đã thua, thì bao nhiêu binh tướng kết thâu, sẽ phải rã tan hàng ngũ, thất lạc vô dụng. Cái thân là các pháp hiệp hành, pháp vốn tiếng vô chấp, tương đối, vốn chẳng có ta người, kết tập bởi nhơn duyên, cái này cái kia sanh cái nọ, rồi sẽ từ nhơn duyên, hoại diệt, cái nọ cái kia sanh cái khác. Thân là sắc ấm, là trung đạo, giữa hai pháp nóng lạnh dung hoà, do chất kết hợp, rồi sẽ do chất nóng lạnh bất hoà mà tan hoại. Thân là cái vỏ trái tạm để sanh ruột hột trí tâm, hột tâm còn thân vỏ mất. Thân là một cái cây sanh nhánh, lá, hoa, trái, hột, là nguồn cội sanh giáo lý các pháp, trí huệ, thân tâm kẻ khác. Thân là một cái nhà máy xay. Thân là một lỗ cống. Thân là một đống rác dơ. Thân là cái hũ đất. Thân là con quái vật. Thân là hầm địa ngục. Thân là một cái hang sâu, một cái hố độc. Thân là ngạ quỉ. Thân là kẻ hung thần. Thân cũng là đền vàng, lầu ngọc, núi châu, ao bạc. Nó lớn như biển hư vô, nó nhỏ như cây kim, như trống lỏng. Thân ích lợi như kim cương, thân tai hại thúi độc như phẩn, tiểu v.v...
1. b)Người ta nói nó là cái gì cũng được hết, nó cũng như mặt đất đựng chứa tất cả danh từ pháp lý đồ vật. Ai muốn dùng nó cách sao cũng được. Nhưng phải hiểu tánh nó là không bền, không phải là ta, cũng chẳng phải của ta làm chủ, chúng ta chẳng nên lầm quên, khổ não vô ích vì nó, chúng ta chớ nên cố chấp, thích ham, luyến ái, tự cao, để bảo giữ kế mưu, danh lợi, tốt xấu vì thân. Mà nên phải biết nhận ra cái ta chủ tể ở nơi thân. Cũng như kìa là một đống lửa, ta hãy tìm xét coi cái nguyên nhân, và cái kết quả lửa ấy là gì ? Và hiện tại lửa cháy là cháy cái chi ? Có nhận xét thấy sơ qua như thế, chúng ta sẽ giác ngộ rất nhiều, mà không còn ham mê trìu mến lạc lầm cái thân không bị cái thân, cái sắc, cái có huyễn hoặc che đậy tâm trí, mà tức nhận ra rằng: thân là không có, không có bền, nên gọi là không, thế là ta dứt được cái niệm thân, cái sở chấp thân, tâm ta sẽ trong sạch không không, như không còn biết thân là chi, do đó mà tinh thần của ta, đươc yên ổn mạnh cứng, gom hiệp.
2) Ta hằng có niệm tưởng đến bệnh : tìm xét thấy ra bịnh là không có ! Bởi có thân nên mới có bệnh. Khi ta có việc dùng thì cái thân có tạm, khi hết chẳng có việc dùng, thì cái thân không có. Trong lúc dùng thì ta giữ gìn để dùng, lúc hết chẳng dùng thì ta huỷ bỏ, cho nên có lúc nó cũng quý trọng, còn có lúc nó như thây ma, nó như mụt ghẻ. Nó ở với trẻ nhỏ, nó sẽ bỏ ông già. Các bệnh hoạn của thân là do từ bên trong phát ra, từ bên ngoài nhập vào. Bệnh hoạn là sự thái quá bất cập, cũng tự nơi ta, mà cũng từ nơi người. Người thiện có tu, bịnh ít hơn kẻ ác. Hễ có thân thì phải bệnh, dùng thân phải nuôi bệnh thân bỏ thì không kể bệnh. Bệnh như lỗ nước mội, như máy đồng hồ, người ta nói nuôi giữ bệnh, chứ chẳng ai gọi trừ dứt tuyệt bệnh. Bệnh không có hết. Trong đời chẳng có xác thân không bệnh. Một xác thân ở trong đời, là một nạn nhân trong giữa chiến tranh, là một món ăn của tất cả chúng sanh, là sự một may trong muôn rủi. Trẻ nhỏ dại nào cũng ham chơi tạo bệnh. Các tánh chất trong đời đều sanh bệnh. Các vi trùng đều làm bệnh. Các pháp tương đối thảy tập bệnh. Bệnh tại nhơn duyên, có thân có bệnh, thì không còn chi sung sướng tốt đẹp nên hay; các bịnh vẫn bằng nhau, không ai thương muốn bệnh. Vậy nên bệnh là không thường bền. Bệnh là không có, bệnh là ma biến huyễn thuật. Thân đã không, thì bệnh đâu có, thế là ta dứt được cái niệm bệnh, cái sở chấp bệnh, ta không còn sợ sệt bệnh. Bệnh không làm ta yếu ớt, ta sẽ lướt bệnh mà không coi bịnh là chi, vì ta nghĩ rằng : thân đâu có phải hết bệnh, mà thân là để nuôi tâm trí. Vậy tại sao ta chẳng xét nghĩ đến tâm trí mà lại lo bệnh. Vì tâm trí mà nuôi thân bệnh tạm, chớ phải nào ta có ra để nuôi bệnh nuôi thân. Một ngày kia ta toại nguyện, mục đích đến, trí đầy tâm đủ, thì thân phải bỏ, chừng đó bệnh có lo gì. Niệm tưởng như thế tức là tinh thần của ta sẽ hăng hái, can đảm, lướt lên, thành tựu, và thắng phục, dứt niệm bịnh.
3) Ta hằng có niệm tưởng đến ý: tìm xét thấy ý là không có. Bởi lầm chấp có sống nên sợ chết, có thân nên sợ mất, mà sanh ý. Bởi tưởng lầm thân ta, nên mới sợ già, sợ già do sợ bệnh mà sanh ra ý. Bởi mê vọng theo thân già bệnh chết, nên mới tập nói làm, có nói làm mới tập ý, ý có do mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng, thân. Ý là tham sân si. Ý là thái quá bất cập tương đối, không bền, không định, không chừng. Ý là tham sân si tam độc, mà cũng là giới định huệ, ba món quý. Ý có tốt, có xấu, có sạch, có dơ, có lớn, có nhỏ, ý là cái sở chấp, cái tư tưởng, cái thọ cảm điên đảo theo tình vọng. Ý là không có. Ý là tên gọi. Ý là huyễn ma. Trước hết nơi đứa bé ý phát sinh ra do bệnh. Vậy thì thân bệnh đã không, thì ý đâu gọi có. Thân bệnh chẳng ở mãi với đời, thì đời đâu có chỗ nào giữ ý, như thế thì còn ý là còn khổ, hết ý là hết khổ. Cái khổ là vô lý, thì cái ý ấy tức là bậy. Ý là ma, ý là giặc, ý là bệnh của tâm, là vi trùng chất độc pháp ác của tâm, nhưng ý cũng là ông thầy hướng đạo dắt dẫn chúng sanh đến nơi cao quý, hoặc đến chốn địa ngục a tỳ. Ý là cảm giác tưởng tượng, chẳng có xét suy, vốn không thông sáng, ý do tương đối, tương đối là bệnh, nên gọi ý do bệnh. Vậy thì thân không, bệnh không, là ý cũng vốn không, trước đã không có ý, sau đây cũng đâu còn ý. Ý là trình độ tạm, khi đến trí giác thì ý không còn, ý phát sanh nơi tư tưởng của thú, ý tập hành vi loài người, đến trời thức trí thì ý chết co, đến Phật thì mất tích. Như thế thì đối với lẽ tấn hoá; ý sẽ không tồn tại, nên chẳng gọi là có.
Trẻ nhỏ là sanh ý, người lớn là còn ý. Ông già thì hết ý. Vậy nên kẻ muốn tấn hoá giải thoát vượt lên, là không còn bảo thủ ý, người ta sẽ bỏ quên dứt mất luôn, ví như ăn cơm vào bụng rồi hoá thành phân, và sẽ bỏ luôn, không còn nhớ nó. Nhờ niệm tưởng như thế, tức là tinh thần của ta sẽ được tự nhiên dõng mãnh, nghị lực cứng cõi im lặng, dứt được niệm ý tiêu tan, không còn chấp ý.
4) Ta hằng có niệm tưởng đến pháp : pháp là phép, phương pháp, phương tiện. Phương pháp là cái thuật, mà pháp cũng là chánh giác, thiện xảo, pháp có ác có thiện. Có pháp trong sạch chơn như : pháp là giáo lý ánh sáng trí tuệ, của thức trí, của trí si, pháp là kinh nghiệm, là lý luận, luận thuyết, chỉ giải, hướng dẫn, pháp là luật pháp, điều luật, qui tắc, lễ phép, phép tắc pháp có ra do ý, còn ý còn pháp, hết ý hết pháp, không ý là im lặng tự nhiên vắng lặng, đâu còn pháp, pháp là huyễn là dối, là danh từ tạm, ví như đồ xài, ngón tay chỉ, chiếc bè đưa, chiếc xe chạy hết việc rồi là sẽ bỏ, nhờ pháp mà trí huệ sẽ đủ đầy, thì chơn như trơ sựng tự nhiên, hết học hết pháp. Pháp là cái học, học qua rồi thì bỏ, chỉ được cho người cái giác biết. Bởi có thân, có bịnh, có ý, mới có pháp. Mà thân là trước sau chẳng có, thì đâu có cái bịnh, không bệnh thì làm sao có ý, không ý thì lấy gì làm pháp. Thế thì pháp là huyễn ma. Cả thảy thân, bệnh, ý, pháp, là huyễn ma. Các cái ấy nó tạo lần cái ta, khi cái ta đã thành tựu, thì bốn cái ấy tiêu hình, cũng giống như tứ đại đất, nước, lửa, gió, kết hợp thành thân, sau này người ta chỉ biết thân. Chớ không biết đến đất, nước, lửa, gió. Ta đây là chân như, là định, là vũ trụ, chân thật như nhiên, không vọng động, là cái lẽ sống biết linh tự nhiên, chớ không phải có cái chi làm ta. Cái ta ấy là cái thật, cái thưòng bền. Cái mà tất cả chúng sanh là có một. Còn thân bệnh ý pháp là giả dối, láo xược.
Vậy thì thân, bệnh ý, sanh pháp, còn pháp là còn thân, bệnh, ý ; hết pháp là hết ý, bệnh, thân. Còn thì còn khổ não, hết, là hết khổ não rối loạn, pháp là cái chấp, pháp là tương đối, pháp là tiến hóa, pháp là vô thường, pháp là không có ta nhứt định, không của ta cái có, chẳng của người ở đâu.
Pháp tà là pháp khổ, pháp chánh là pháp vui. Pháp chánh là trung đạo giải thoát, pháp tà là biên kiến bên lề, ứ nê té sụp. Nên gọi pháp chánh là pháp sống, pháp thông lưu, pháp bình yên ích lợi báu quý hơn tà pháp, nhưng cũng thảy đều là tạm. Pháp vốn không gốc tánh, không sở trụ, không căn bổn, vì nó là biến thuật, ẩn hiện không lường, không bờ bến, mỗi lúc tự nhiên, bình thường thì không có, khi gặp việc nó mới xuất lộ ra, nên gọi là không có pháp, và pháp không có chỗ ở, chỗ chứa giữ. Nhờ niệm tưởng như thế mà tâm định, lấy định làm tâm, không còn chấp lầm nơi pháp phải khổ, không còn bị pháp mê hoặc, che đậy, làm mất cái tánh chân vũ trụ bình thường. Thì con người mới tự chủ, sẽ thấy đặng cái ta, cái sống, biết, linh, thành tựu, ấy mới gọi là bản lãnh, là vô năng sở, thì không cái chi hơn. Giải thoát đến cái pháp tức là giải thoát hoàn toàn. Cái tâm như thế mới phải thật gọi là kim cương, thời gian không làm núng, chúng sanh, vạn vật, các pháp, chẳng chuyển lay. Ấy mới gọi đúng là tinh thần siêu việt. Thế là dứt đặng niệm pháp, không còn chấp pháp.
Vậy thì niệm thân, niệm bệnh, niệm ý, niệm pháp, là bốn cái niệm, bốn sứ sở bên lề, bốn phía, bốn cõi đọa lạc, như bốn tay chân, không phải là chỗ ở của cái ta, nó là bốn cảnh huyễn ma mà ta phải tránh xa, phải thấy ra, để đặng dứt trừ tiêu diệt, không nên quyến luyến, nhớ tưởng, cố chấp, thì tâm mới lớn yên, trí mới rông sáng.
Sự dứt đoạn niệm thân, dứt đoạn niệm bệnh, dứt đoạn niệm ý, dứt đoạn niệm pháp, tức là BỔN DỨT ĐOẠN. Dứt đoạn bốn vách nhốt ngăn, dứt đoạn bốn dây trăn trói, dứt đoạn địa ngục hắc ám phủ che, dứt đoạn sự hành hà tâm trí, do đó con người hoàn toàn giải thoát, sống trong cõi chơn như đại định, vũ trụ bao la, không chi ngăn ngại. Nhờ vậy mà phát sanh ra BỐN THẦN THÔNG:
1.— Bởi không còn cái sắc, cái thân, cái có, che đậy, nên mắt trí của tâm ta thấy xa thông suốt, cõi đời, chúng sanh, vạn vật các pháp. Và nhờ đứt đoạn bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được mắt trời, mắt thần, mắt pháp, mắt huệ, mắt đạo, chứng tại nơi mắt thịt là chánh tín.
2.—Bởi dứt đoạn bệnh tương đối, thái hóa bất cập không còn bị sự chuyền níu bên lề bệnh cản ngăn, nên tai trí của tâm ta, nghe xa thông suốt cõi đời, chúng sanhh vạn vật các pháp. Và nhờ dứt được bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được tại trời, tai thần, tai pháp, tai huệ, tai đạo, chứng tại nơi tai thịt là chánh niệm.
3.—Bởi dứt đoạn ý, chuyền leo phiền não, không còn bị sự hành phạt dắt dẫn, xa khác hẳn với thế gian, nên trí phân biệt của tâm ta nhận ra hiểu rõ tâm lý của chúng sanh, muôn loài vạn vật, các pháp; hiểu rõ chỗ thấy hiểu của tất cả, do nhờ trong chỗ định, mà thấy ra nơi ngoài chỗ loạn; ở trong chỗ kín, trong chỗ khuất bóng tối, mà thấy ra ngoài chỗ trống hở, chỗ ánh sáng. Và sự kín đáo của tâm ấy tức là dứt đoạn được bốn niệm, thì con người sẽ trở nên kỳ bí siêu hình, vô vi huyền diệu, ẩn mật kín đáo, chân như che chở, ấm khuất diệu mầu, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được cái mũi hửi, biết hết tâm ý của muôn loài, không chi ngăn ngại ! Đó là mũi trời, mũi thần, mũi pháp, mũi huệ, mũi đạo, chứng tại mũi thịt là chánh tinh tấn, mùi chi trong ngoài hết thảy cái chi cũng biết.
4.—Bởi dứt đoạn pháp ngăn che nghi hoặc, cố chấp, không còn bị sự níu kéo nặng nề dính buộc, khác với phàm phu tríu lụy : nên trí được huệ, cắt đứt mạnh mẽ, phủi dứt nhẹ nhàng, cao thượng không không, xa bay theo nhân duyên mây gió, vượt hẳn các pháp chúng sanh vạn vật. Và nhờ đứt đoạn được trọn bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc lưỡi trời, lưỡi thần, lưỡi pháp, lưỡi huệ, lưỡi đạo, chứng tại nơi lưỡi thịt, là trì giới, đem thân mạng bay cao, bay xa biến mau, do lời nói thần lực bên trong kín đáo sức mạnh.
Bốn thần thông nầy : thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông (hay thiên tỷ thông), thần túc thông (hay thiên thiệt thông) có ra là do bốn cái dứt đoạn, trừ được bốn xứ niệm, mà tâm định yên trụ chính giữa, gom thần góp điện, hiệp sức của bốn phương mà thành.
Người được tâm định, có đủ bốn thần thông, là sanh ra NĂM CĂN BỐN:
1) Mắt căn thanh tịnh, sanh ra chánh tín, là nhờ sự thấy rõ mới tín tin.
2) Tai căn thanh tịnh, sanh ra chánh niệm là nhờ sự nghe rõ mới niệm ghi nhớ.
3) Mũi căn thanh tịnh sanh ra chánh tinh tấn, là biết rõ mùi đạo, mới tinh tấn cố gắng.
4) Lưỡi căn thanh tịnh, sanh ra trì giới, là nếm rõ vị đạo, mới biết giữ gìn ngăn che trì giới.
5) Thân căn thanh thịnh, sanh thiền định, là xác thân không còn dơ bẩn sái quấy của việc làm, thì tâm ý sẽ lặng ngừng. Và việc làm của thân trong sạch không không, được có ra, là do mắt, tai mũi lưỡi, bốn căn trong sạch, và bốn thần thông ủng hộ.
Vậy nên gọi nhãn căn là tín, nhĩ căn là niệm, tỷ căn là tinh tấn, thiệt căn là trì giới, thân căn là thiền định, đó là năm kết quả, năm chứng đắc, của bốn xứ niệm, bốn dứt đoạn, và bốn thần thông. Mắt tai mũi lưỡi thân ấy, mới tạm gọi là cái có của ta được. Năm căn ấy có ra cũng là do chân như tự nhiên giác ngộ, của trí huệ quả linh, nên gọi căn ấy là thánh căn. Vì mắt ấy đã không còn ngó xem việc phàm trần. Tai ấy đã không còn nghe ngóng việc tục trần. Lưỡi ấy đã không còn nếm chác việc nhiễm trần. Thân ấy đã không còn rờ chạm việc ô trần. Vì bởi là mắt tai mũi lưỡi thân trong sạch sanh ra tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định. Năm căn thánh nên gọi bậc tu, đã đến đây, chỉ còn có năm căn: tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định, do mắt tai mũi lưỡi thân trong sạch kia sanh ra, chớ không còn mắt tai mũi lưỡi thân phàm. Thế mới gọi rằng: Bậc siêu phàm nhập thánh, lấy tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định, làm mắt tai mũi lưỡi thân thanh tịnh, chớ chẳng có mắt tai mũi lưỡi thân như người phàm. Vậy nên người sẽ đắc đặng NĂM SỨC LỰC:
1) Tín lực, sức lực mạnh mẽ của chánh tín.
2) Niệm lực, sức lực mạnh mẽ của chánh niệm.
3) Tinh tấn lực, sức lực mạnh mẽ của chánh tinh tấn.
4) Trì giới lực, sức lực mạnh mẽ của trì giới. 
5) Thiền định lực, sức lực mạnh mẽ của thiền định.
Nhờ đắc được năm sức lực đó, nên quả linh và đạo lý lại mạnh mẽ thêm lên, lớn to rộng nhiều mãi, không lui sụt, lu lờ, phai lợt. Và cái chi cũng do năm sức lực ấy mà thành tựu. Năm sức lực thần nầy, cũng kêu gọi là: sức lực của mắc căn trong sạch, sức lực của tai căn trong sạch, sức lực của mũi căn trong sạch, sức lực của lưỡi căn trong sạch, sức lực của thân căn trong sạch, của bậc thánh nhân, do đó mà thắng phục tất cả ma vương, ngoại đạo, trở nên toàn năng. Thiền định lực, là sẽ kết quả toàn năng, hay sức lực của thân căn trong sạch, là mạnh mẽ nhứt. Vì trong đời, khó ai làm chủ xác thân, khó ai dạy độ được xác thân, khó ai kềm chế phục trị cảm hoá tự chủ được xác thân; thế mà nơi đây xác thân đã thành tựu, đã được gọi có thân; có cái thân trong sạch tốt đẹp, còn mãi, là thiền định, đổi thân phàm thành thân thánh, không còn phải khổ luân hồi sanh tử, thay đổi. Thân căn tốt đẹp trong sạch ấy có ra là do lưỡi căn trong sạch tốt đẹp. Lưỡi căn có ra là do mũi căn trong sạch tốt đẹp. Mũi căn ấy có ra là do tai căn trong sạch tốt đẹp. Mắt căn ấy có ra là do bốn thần thông, bốn dứt đoạn, bốn xứ niệm. Như thế tức là bốn xứ niệm đọa lạc, sanh ra bốn giác ngộ dứt đoạn, mà chứng bốn thần thông, của bốn căn, nên sanh ra được căn thân thứ năm, là thân thể của thánh đã trọn thành hình, và có được năm sức lực là sống cử động, do đó sẽ sanh ra cái giác là Phật làm chủ, ấy cũng nghĩa là: từ bốn xứ niệm đọa lạc, sanh ra được bốn giác ngộ dứt đoạn, kêu là trí huệ mà chứng bốn thần thông của bốn căn: tín, niệm, tinh tấn, trì giới ; chánh tín là thiên nhãn thông, mắt trời thông suốt, chánh niệm là thiên nhĩ thông, tai trời thông suốt, chánh tinh tấn là tha tâm thông, mũi trời thông suốt, (hiểu tâm người khác), chánh trì giới là thần túc thông, lưỡi trời thông suốt (chân thần bay mau). Do bốn căn ấy sanh ra thiền định căn, là tượng đủ thân hình thánh (thiền định là thân thánh). Và nhờ sức lực của thân thiền định, mà phát sanh ý giác là pháp chánh giác Phật.
Chánh giác Phật tức là ý giác của năm căn lực, cũng gọi là cái chủ tể của năm căn lực, hay tâm hồn của thân thiền định, do cái sống sức lực của thân căn thiền định. Gọi là thất giác ý, thất bồ đề, bảy chánh giác, làm thất phách đều đủ, của thân thiền định, sống bằng sức lực. Trong thất giác ý, bảy phách của Phật là có gồm chứa đủ cả (Sống biết linh nên gọi tam hồn, hay gọi là giới, định, huệ đều đủ).
BẢY Ý GIÁC: Ấy mới thật gọi là ý Phật, ý chơn, ý chánh, ý của ta, ý nên hay ích lợi quý báu, mà người ta hằng gọi là cây bồ đề báu, chỗ gốc đó chơn tâm giải thoát của chư Bồ Tát, ngồi tu sẽ thành Phật. Cây bồ đề, ý giác bảy nhánh ấy là: ; Bodhi Tree, the feeling was seven branches:
1. Một là, phân biệt sự lành với sự dữ.
1. First, distinguish the good and the evil.
2. Hai là, tinh tấn mà lướt lên.
2. Secondly, be diligent that glide up.
3. Ba là, an lạc trong vòng đạo đức.
3. Thirdly, peace within ethically.
4. Bốn là, thắng phục tâm ý mình, đặng làm lành.
4. Fourthly, won for his mind, to do good.
5. Năm là, nhớ tưởng đạo lý.
5. Fifth, remember the moral ideal.
6. Sáu là, nhất tâm đại "định thiền".
6. Sixth, most great interest "to meditate".
7. Bảy là, vui chịu với mọi cảnh ngộ. 
7. Seventh, happy to be with all the circumstances.
(MÔ PHẬT !) ; (NAMO AMITABUD !)
Bảy ý giác cũng tức là bảy phần trí huệ đầy đủ, bảy ý chánh chơn giác ngộ, hay là ý Phật. Bảy ý giác cũng là trí huệ đầy đủ, nêu kêu là định sanh huệ, hay thiền định lực sanh chánh giác. Ý giác là cây, bảy ý giác là bảy nhánh cây, năm căn bổn là rễ cây, thân thiền định căn là rễ cái. Năm sức lực là sự sống. Bốn phép thần là vượt mọc lên cao, cái ta là hột giống, bốn dứt đoạn là sự cuốc đất, bốn xứ niệm là mặt đất tứ đại còn bát chánh đạo tức là quả, trái. Bảy ý giác cũng là bảy lớp trí huệ :
1.) Phân biệt sự lành với sự dữ, là nhân bố thí sẽ kết quả nhập lưu, bỏ tất cả, xuất gia giải thoát khất sĩ, đi lên tới nhập vào nguồn đạo.
2.) Tinh tấn mà lướt lên, là nhân nhẫn nhục, sẽ kết quả nhứt vãng lai, chỉ còn một lần trở lại.
3.) An lạc trong vòng đạo đức, là nhân tinh tấn sẽ kết quả bất lai, không còn trở lại.
4.) Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành, là nhân trì giới, sẽ kết quả vô sanh, dứt luân hồi, đắc Niết Bàn giải thoát trong sạch.
5.) Nhớ tưởng đạo lý, là nhân thiền định, sẽ kết quả Duyên Giác, hưởng Niết Bàn yên lặng.
6.) Nhứt tâm đại định, là nhân trí huệ, sẽ kết quả Bồ Tát giác tha.
7.) Vui chịu với mọi cảnh ngộ, là nhân chân như, sẽ kết quả Như Lai thành Phật.
Vậy nên bảy ý giác, cũng gọi là bảy nấc thang, bảy lớp tu, bảy trình độ hạng bậc; tức là cây bồ đề cao bảy trượng bảy tầng. Hay nói là bảy hột mè, mà đức Bồ Tát, thường ăn mỗi ngày, để nuôi chân mạng thành Phật. Cũng có thể nói là, ngồi tòa thất bửu của chư Phật, mà khi xưa Tăng chúng Tỳ Kheo, đem mình làm cái ghế tòa sen ấy cho Phật ngự. Hoặc nói là bảy món ăn chư khất sĩ thường ngày, không thiếu sót, mà trong đó, cái giác thứ nhất phân biệt sự lành với sự dữ, là làm cơm trắng. Bảy ý giác cũng là một con đường, từ đầu đến đuôi kết quả, từ thiện lành bỏ ác quấy đến được với chân như giác ngộ. Cũng như từ mới sanh, tới khi già chết sẽ nghỉ yên. Chính cái giác chót, vui chịu với mọi cảnh ngộ, là nghỉ yên, tròn trịa, vô chấp, chân như đắc quả. Cũng nói đó là cái chót ngọn nóc đầu, cao hơn hết của các cái giác kia, là chỗ rốt ráo của sự giác ngộ, sự hết khổ toàn vui, sự tròn lăn như quả trái, như bánh xe, không còn vuông méo góc cạnh tai nạn. Cái ta mà ngồi nghỉ yên nơi cội chánh giác, tòa bồ đề nầy thì sẽ đắc đạo. Người tu đến đó sẽ là thành đạo. Sẽ đắc thêm được hai phép thần thông sau:
5.— Túc mạng thông, thông hiểu mạng số của chúng sanh cả thảy, vì nhân duyên, là do nơi cái giác nhứt tâm đại định, là điều chúng sanh không làm được, bởi những trở lực mạng số. Mà người đã tu thật hành được, nên mới biết hiểu.
6.— Lậu tận thông, thông hiểu tất cả gốc nguồn phiền não, do nhờ cái giác, vui chịu với mọi cảnh ngộ, mà được lậu tận hoà, là hòa vui diệt tận gốc khổ, nên đắc Niết Bàn vô sanh, thành A La Hán, ứng cúng trong sạch giải thoát xứng đáng cho người đời thờ phượng lễ bái, cúng dường, qui y theo, cũng như con cá đã nhảy khỏi ao, như học trò đi thi được đậu, là điều mà trong thế gian rất báu quý, nhưng ít ai làm đặng. Nên ai ai cũng lấy đó làm mục đích chỗ đến.
Bậc đắc xong bảy ý giác là sẽ thấy mình, như đứa con nhỏ của Phật mới sanh ra, gọi là Phật tử, được sống bằng mạng Phật chánh giác, mạng bồ đề, đã có đủ linh hồn xác thịt thành, ở trong nhà Phật, mà đắc đạo. Từ đây mới sẽ lớn lần lên, trong cái mạng sống Phật chánh giác ấy, cho đến lớn, đến già, đến nghỉ ngơi thiệt thọ, là từ bậc A La Hán, sẽ tới Bích Chi, tới Bồ Tát, và Như Lai, hoàn toàn tròn vẹn.
Bấy giờ con đàng sống tiến bên kia của các Ngài, sẽ là bát chánh đạo, tám pháp thánh, tám cách hành đạo. Các Ngài ở yên nơi đó, ở ăn làm việc sống nơi đó, rất an ổn vững vàng, là bởi cõi pháp giới riêng, không còn biết thế sự ra gì, ở đâu đâu; thế là các Ngài đã sống bằng ý giác, đi trên chánh đạo, sẽ đến chơn như rốt ráo; bỏ lại trần thế, những kẻ chúng sanh nối dấu theo sau, còn vướng phải biết bao những sự thảm sầu tai họa.
Tám pháp chánh đạo đây, là con đàng đi của các bậc thánh nhơn đã tròn xong ý giác, để tới quả Phật, cũng là tám pháp hành đạo của bậc thánh nhân, đã tròn xong ý tự độ, bấy giờ tới lúc phải đi hành đạo, cứu vớt tế độ cho đời. Vừa cứu độ chúng sanh, vừa tu thêm cho mình, để vừa đi tới, vừa dắt lần chúng sanh đến nơi quả Phật. Trên khoảng con đưòng đi lúc ấy là các Ngài đã không còn thân tâm trí cảnh giới giống như chúng sanh. Các Ngài đã đến cõi bằng thẳng vô tận, của tinh thần mênh mông, bao quát, thật khỏe khoắn, sung sướng quá, chúng sanh tội lỗi nào phải ít kiếp tu, mà được.
TÁM CHÁNH ĐẠO: Cõi Thánh ấy là thần chánh, suy gẫm chánh, nói chánh, làm chánh, sống chánh, siêng năng chánh, niệm tưởng chánh, yên định chánh. Với tám pháp này, thì cõi đời đối với các Ngài là Niết Bàn, là xứ an lạc rồi, thế nhưng trái lại: chúng ta, cũng đang ở tại cảnh đời đây, mà lại luân hồi khổ não vô ích, thật là đáng phiền tủi cho thân phận.
TÁM CHÁNH ĐẠO: Đã có giải kỹ ra nơi quyển “ BÁT CHÁNH ĐẠO” chơn lý số 5, rất mầu nhiệm, mà nơi đây thiếu giấy, không thể viết thêm
Vậy muốn biết, chúng ta hãy tìm xem lại quyển số 5 thì rõ.
NÓI TÓM LẠI: Quyển “ PHÁP CHÁNH GIÁC” nầy là gồm cả 37 pháp chánh giác Bồ Đề: (4 xứ niệm, 4 dứt đoạn, 4 thần thông, 5 căn bổn, 5 sức lực, 7 ý giác, 8 chánh đạo; cộng là 37 pháp chánh giác). Cách tu thành đạo của Phật cùng chư Bồ Tát. Tuy giải sơ lược nhưng quý báu vô cùng. Chính đó là phép tu thành đạo, đắc đủ lục thông, A LA HÁN, vốn không sai chạy, chúng ta nên thường phải lặp đi lặp lại, mới nhận thấy rõ kết quả. Vì chưa đắc quả lục thông A LA HÁn thì đâu được đến Bích Chi, Bồ Tát và Như Lai. Những ai có thật hành, mới thấy rõ rộng xa thêm, những chỗ diệu mầu khó tả. Những ai uống nước, thì ắt nóng lạnh tự người hay. Đã là pháp chánh giác thì chẳng có điêu ngoa. Nhưng có thật tu hành hay không, là tự ai phải cố gắng lấy, không ai giúp nên cho mình. Quyển “ PHÁP CHÁNH GIÁC” đến đây tạm ngưng. Vì chẳng khá viết thêm nhiều. Vậy xin kính chúc cho ai tất cả hữu tình vô tình, hãy đặng tiến lên, y theo con đàng Pháp Chánh Giác hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang; Patriarch Minh Dang Quang
***
Phụ chú thêm: Trang 613, Chơn Lý số 39. XỨ THIÊN ĐƯỜNG, Tổ sư đã nói : Phép thần thông là lời nói pháp lý thông thái có hiệu nghiệm ! Mô Phật !
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
@@@

Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
Phật Pháp Chánh Giác
Trang 779-793 (Chơn lý số 52)
Phật pháp chánh giác: có ra do tứ diệu đề.
Pháp Phật là giác chánh, là pháp của trong tứ diệu đề, do tứ diệu đề sanh ra. Chánh giác là pháp, là tiếng trống, tứ diệu đề là dùi trống, mặt đất cõi đời là mặt của cái trống. Bởi có mặt của cái trống, Phật mới chỉ ra : dùi trống, dùi chạm mặt trống, mới sanh tiếng trống, tiếng ấy là Phật pháp chánh giác. Còn chúng sanh là người nghe.
Tứ diệu đề: khổ, tập, diệt, đạo. 
Bởi chúng sanh sầu khổ, nên đức Phật, mới nói rằng: Nầy là khổ, vấn đề, đề mục khổ, nầy nguyên nhân: sanh ra khổ, là tập, vấn đề, đề mục: tập. Nầy, phép diệt sự khổ, là diệt, vấn đề, đề mục: đạo. Nầy, là đạo diệt luân hồi khổ, là diệt, vấn đề, đề mục: diệt. Đạo: là con đường đi, sau khi diệt: luân hồi khổ. Diệt là: diệt bỏ 12 nhân duyên tập, của luân hồi. Tập là tập: sanh tử luân hồi, để chứa khổ, khổ là khổ bởi tập luân hồi, vì: không diệt  đạo. 
Thế nên: khổ, tập, diệt, và đạo, gọi là tứ diệu đề, bốn vấn đề, đề mục dùi trống, do đó mà sanh ra các pháp, tiếng tăm vang dội, Phật pháp là chánh giác, lý lẽ giác ngộ chân chánh, đối với cõi đời mặt trống, để giảng dạy chúng sanh. Chính đức Phật, là người gióng trống Phật Pháp, tiếng trống là pháp âm, diệu âm, sư tử âm, hải triều âm v.v…Tiếng trống có đủ ba lần chín lượt, tức là ba thừa giáo lý, chín phẩm hạnh, tuyệt vời huyền diệu.
Tứ diệu đề cũng là bốn căm xe của bánh xe pháp, pháp là bánh xe, ba thừa, chín phẩm hạnh là ba vòng chín lớp, từ nhỏ tới lớn, cõi đời là mặt đất, Phật là người lái chuyển xoay, trụ cốt của bánh xe "Chân-Như", chúng sanh là kẻ khách bộ hành. Niết Bàn là thùng xe chở chứa. Phật dùng đó mà đưa độ kẻ khách chúng sanh, gọi là từ Đông sang Tây, đến nơi Cực Lạc. Bởi có bánh mới có lăn, có căm mới có chạy, nên gọi là trụ cốt "Chân-Như" đã phát sanh ra căm Tứ diệu đề, căm của xe sanh bánh xe Phật pháp chánh giác, do đó chúng sanh có thể níu đeo theo bánh xe của Pháp Bảo, bước lên căm trèo lên trụ cốt, mà bước vào thùng xe Niết Bàn, Niết Bàn cứu độ làm thùng xe của Pháp Bảo, chỗ đựng chứa chúng sanh, rước đưa về nơi Cực Lạc, giải thoát khổ não và sinh tử luân hồi, chính Niết Bàn thùng xe là thế giới Cực Lạc bên kia ấy rồi, sự cố gắng của Phật là như con bò, nguyện lực làm dây cương, roi là thúc giục tinh tấn, chăm chỉ là đi tới. 
Vậy thì đây ba vòng chín lớp của bánh xe, pháp chánh giác, từ xưa, ghi dấu trên đường đời để lại… Nầy là BỐN XỨ NIỆM: thân, bịnh, ý, và pháp.
1. a)Ta hằng có niệm tưởng đến thân, tìm xét thấy ra, thân là không có, thân có ra do nhơn duyên tứ đại tạo thành, chớp bóng huyễn hoặc mơ hồ, thân là vô thường thay đổi. Thân của ta mà chẳng phải thân là chính ta, thân là một món đồ bằng đất, nước, lửa, gió hiệp thành. Kẻ chết nuôi cái sống, món nầy món kia sớt chan dồn qua cái nọ. Thân này là của tất cả, tất cả là của thân nầy, tiếng ta là chung toàn thể, chẳng phải riêng tôi, thân có ra do những chất sống phối hợp, rồi đây nó sẽ rã ra, phối hợp cho những cái khác. Mắt, tai, mũi, lưỡi, tay, chân, mình, bụng, màu sắc, cử động, có sống, có biết, có linh, là do ấm của lửa, lửa tắt đi rồi, trơ lạnh là sẽ chết. Nó như một chiếc xe, trơn láng bên ngoài, trong là bộ máy, máy chạy cho hơi chuyền của trong bụng mẹ, từ đo quen trớn, và có đủ chất nuôi, thì nó chạy mãi, lâu sau nó phải sét mòn tan rã, máy ngừng tắt lạnh. Cái thân là một ổ chúng sanh vi trùng. Kết tụ và đang tranh đấu, mặt trận quân binh là yên ổn, một bên hỗn thắng, các loại khác đã thua, thì bao nhiêu binh tướng kết thâu, sẽ phải rã tan hàng ngũ, thất lạc vô dụng. Cái thân là các pháp hiệp hành, pháp vốn tiếng vô chấp, tương đối, vốn chẳng có ta người, kết tập bởi nhơn duyên, cái này cái kia sanh cái nọ, rồi sẽ từ nhơn duyên, hoại diệt, cái nọ cái kia sanh cái khác. Thân là sắc ấm, là trung đạo, giữa hai pháp nóng lạnh dung hoà, do chất kết hợp, rồi sẽ do chất nóng lạnh bất hoà mà tan hoại. Thân là cái vỏ trái tạm để sanh ruột hột trí tâm, hột tâm còn thân vỏ mất. Thân là một cái cây sanh nhánh, lá, hoa, trái, hột, là nguồn cội sanh giáo lý các pháp, trí huệ, thân tâm kẻ khác. Thân là một cái nhà máy xay. Thân là một lỗ cống. Thân là một đống rác dơ. Thân là cái hũ đất. Thân là con quái vật. Thân là hầm địa ngục. Thân là một cái hang sâu, một cái hố độc. Thân là ngạ quỉ. Thân là kẻ hung thần. Thân cũng là đền vàng, lầu ngọc, núi châu, ao bạc. Nó lớn như biển hư vô, nó nhỏ như cây kim, như trống lỏng. Thân ích lợi như kim cương, thân tai hại thúi độc như phẩn, tiểu v.v...
1. b)Người ta nói nó là cái gì cũng được hết, nó cũng như mặt đất đựng chứa tất cả danh từ pháp lý đồ vật. Ai muốn dùng nó cách sao cũng được. Nhưng phải hiểu tánh nó là không bền, không phải là ta, cũng chẳng phải của ta làm chủ, chúng ta chẳng nên lầm quên, khổ não vô ích vì nó, chúng ta chớ nên cố chấp, thích ham, luyến ái, tự cao, để bảo giữ kế mưu, danh lợi, tốt xấu vì thân. Mà nên phải biết nhận ra cái ta chủ tể ở nơi thân. Cũng như kìa là một đống lửa, ta hãy tìm xét coi cái nguyên nhân, và cái kết quả lửa ấy là gì ? Và hiện tại lửa cháy là cháy cái chi ? Có nhận xét thấy sơ qua như thế, chúng ta sẽ giác ngộ rất nhiều, mà không còn ham mê trìu mến lạc lầm cái thân không bị cái thân, cái sắc, cái có huyễn hoặc che đậy tâm trí, mà tức nhận ra rằng: thân là không có, không có bền, nên gọi là không, thế là ta dứt được cái niệm thân, cái sở chấp thân, tâm ta sẽ trong sạch không không, như không còn biết thân là chi, do đó mà tinh thần của ta, đươc yên ổn mạnh cứng, gom hiệp.
2) Ta hằng có niệm tưởng đến bệnh : tìm xét thấy ra bịnh là không có ! Bởi có thân nên mới có bệnh. Khi ta có việc dùng thì cái thân có tạm, khi hết chẳng có việc dùng, thì cái thân không có. Trong lúc dùng thì ta giữ gìn để dùng, lúc hết chẳng dùng thì ta huỷ bỏ, cho nên có lúc nó cũng quý trọng, còn có lúc nó như thây ma, nó như mụt ghẻ. Nó ở với trẻ nhỏ, nó sẽ bỏ ông già. Các bệnh hoạn của thân là do từ bên trong phát ra, từ bên ngoài nhập vào. Bệnh hoạn là sự thái quá bất cập, cũng tự nơi ta, mà cũng từ nơi người. Người thiện có tu, bịnh ít hơn kẻ ác. Hễ có thân thì phải bệnh, dùng thân phải nuôi bệnh thân bỏ thì không kể bệnh. Bệnh như lỗ nước mội, như máy đồng hồ, người ta nói nuôi giữ bệnh, chứ chẳng ai gọi trừ dứt tuyệt bệnh. Bệnh không có hết. Trong đời chẳng có xác thân không bệnh. Một xác thân ở trong đời, là một nạn nhân trong giữa chiến tranh, là một món ăn của tất cả chúng sanh, là sự một may trong muôn rủi. Trẻ nhỏ dại nào cũng ham chơi tạo bệnh. Các tánh chất trong đời đều sanh bệnh. Các vi trùng đều làm bệnh. Các pháp tương đối thảy tập bệnh. Bệnh tại nhơn duyên, có thân có bệnh, thì không còn chi sung sướng tốt đẹp nên hay; các bịnh vẫn bằng nhau, không ai thương muốn bệnh. Vậy nên bệnh là không thường bền. Bệnh là không có, bệnh là ma biến huyễn thuật. Thân đã không, thì bệnh đâu có, thế là ta dứt được cái niệm bệnh, cái sở chấp bệnh, ta không còn sợ sệt bệnh. Bệnh không làm ta yếu ớt, ta sẽ lướt bệnh mà không coi bịnh là chi, vì ta nghĩ rằng : thân đâu có phải hết bệnh, mà thân là để nuôi tâm trí. Vậy tại sao ta chẳng xét nghĩ đến tâm trí mà lại lo bệnh. Vì tâm trí mà nuôi thân bệnh tạm, chớ phải nào ta có ra để nuôi bệnh nuôi thân. Một ngày kia ta toại nguyện, mục đích đến, trí đầy tâm đủ, thì thân phải bỏ, chừng đó bệnh có lo gì. Niệm tưởng như thế tức là tinh thần của ta sẽ hăng hái, can đảm, lướt lên, thành tựu, và thắng phục, dứt niệm bịnh.
3) Ta hằng có niệm tưởng đến ý: tìm xét thấy ý là không có. Bởi lầm chấp có sống nên sợ chết, có thân nên sợ mất, mà sanh ý. Bởi tưởng lầm thân ta, nên mới sợ già, sợ già do sợ bệnh mà sanh ra ý. Bởi mê vọng theo thân già bệnh chết, nên mới tập nói làm, có nói làm mới tập ý, ý có do mắt, tai, mũi, lưỡi, miệng, thân. Ý là tham sân si. Ý là thái quá bất cập tương đối, không bền, không định, không chừng. Ý là tham sân si tam độc, mà cũng là giới định huệ, ba món quý. Ý có tốt, có xấu, có sạch, có dơ, có lớn, có nhỏ, ý là cái sở chấp, cái tư tưởng, cái thọ cảm điên đảo theo tình vọng. Ý là không có. Ý là tên gọi. Ý là huyễn ma. Trước hết nơi đứa bé ý phát sinh ra do bệnh. Vậy thì thân bệnh đã không, thì ý đâu gọi có. Thân bệnh chẳng ở mãi với đời, thì đời đâu có chỗ nào giữ ý, như thế thì còn ý là còn khổ, hết ý là hết khổ. Cái khổ là vô lý, thì cái ý ấy tức là bậy. Ý là ma, ý là giặc, ý là bệnh của tâm, là vi trùng chất độc pháp ác của tâm, nhưng ý cũng là ông thầy hướng đạo dắt dẫn chúng sanh đến nơi cao quý, hoặc đến chốn địa ngục a tỳ. Ý là cảm giác tưởng tượng, chẳng có xét suy, vốn không thông sáng, ý do tương đối, tương đối là bệnh, nên gọi ý do bệnh. Vậy thì thân không, bệnh không, là ý cũng vốn không, trước đã không có ý, sau đây cũng đâu còn ý. Ý là trình độ tạm, khi đến trí giác thì ý không còn, ý phát sanh nơi tư tưởng của thú, ý tập hành vi loài người, đến trời thức trí thì ý chết co, đến Phật thì mất tích. Như thế thì đối với lẽ tấn hoá; ý sẽ không tồn tại, nên chẳng gọi là có.
Trẻ nhỏ là sanh ý, người lớn là còn ý. Ông già thì hết ý. Vậy nên kẻ muốn tấn hoá giải thoát vượt lên, là không còn bảo thủ ý, người ta sẽ bỏ quên dứt mất luôn, ví như ăn cơm vào bụng rồi hoá thành phân, và sẽ bỏ luôn, không còn nhớ nó. Nhờ niệm tưởng như thế, tức là tinh thần của ta sẽ được tự nhiên dõng mãnh, nghị lực cứng cõi im lặng, dứt được niệm ý tiêu tan, không còn chấp ý.
4) Ta hằng có niệm tưởng đến pháp : pháp là phép, phương pháp, phương tiện. Phương pháp là cái thuật, mà pháp cũng là chánh giác, thiện xảo, pháp có ác có thiện. Có pháp trong sạch chơn như : pháp là giáo lý ánh sáng trí tuệ, của thức trí, của trí si, pháp là kinh nghiệm, là lý luận, luận thuyết, chỉ giải, hướng dẫn, pháp là luật pháp, điều luật, qui tắc, lễ phép, phép tắc pháp có ra do ý, còn ý còn pháp, hết ý hết pháp, không ý là im lặng tự nhiên vắng lặng, đâu còn pháp, pháp là huyễn là dối, là danh từ tạm, ví như đồ xài, ngón tay chỉ, chiếc bè đưa, chiếc xe chạy hết việc rồi là sẽ bỏ, nhờ pháp mà trí huệ sẽ đủ đầy, thì chơn như trơ sựng tự nhiên, hết học hết pháp. Pháp là cái học, học qua rồi thì bỏ, chỉ được cho người cái giác biết. Bởi có thân, có bịnh, có ý, mới có pháp. Mà thân là trước sau chẳng có, thì đâu có cái bịnh, không bệnh thì làm sao có ý, không ý thì lấy gì làm pháp. Thế thì pháp là huyễn ma. Cả thảy thân, bệnh, ý, pháp, là huyễn ma. Các cái ấy nó tạo lần cái ta, khi cái ta đã thành tựu, thì bốn cái ấy tiêu hình, cũng giống như tứ đại đất, nước, lửa, gió, kết hợp thành thân, sau này người ta chỉ biết thân. Chớ không biết đến đất, nước, lửa, gió. Ta đây là chân như, là định, là vũ trụ, chân thật như nhiên, không vọng động, là cái lẽ sống biết linh tự nhiên, chớ không phải có cái chi làm ta. Cái ta ấy là cái thật, cái thưòng bền. Cái mà tất cả chúng sanh là có một. Còn thân bệnh ý pháp là giả dối, láo xược.
Vậy thì thân, bệnh ý, sanh pháp, còn pháp là còn thân, bệnh, ý ; hết pháp là hết ý, bệnh, thân. Còn thì còn khổ não, hết, là hết khổ não rối loạn, pháp là cái chấp, pháp là tương đối, pháp là tiến hóa, pháp là vô thường, pháp là không có ta nhứt định, không của ta cái có, chẳng của người ở đâu.
Pháp tà là pháp khổ, pháp chánh là pháp vui. Pháp chánh là trung đạo giải thoát, pháp tà là biên kiến bên lề, ứ nê té sụp. Nên gọi pháp chánh là pháp sống, pháp thông lưu, pháp bình yên ích lợi báu quý hơn tà pháp, nhưng cũng thảy đều là tạm. Pháp vốn không gốc tánh, không sở trụ, không căn bổn, vì nó là biến thuật, ẩn hiện không lường, không bờ bến, mỗi lúc tự nhiên, bình thường thì không có, khi gặp việc nó mới xuất lộ ra, nên gọi là không có pháp, và pháp không có chỗ ở, chỗ chứa giữ. Nhờ niệm tưởng như thế mà tâm định, lấy định làm tâm, không còn chấp lầm nơi pháp phải khổ, không còn bị pháp mê hoặc, che đậy, làm mất cái tánh chân vũ trụ bình thường. Thì con người mới tự chủ, sẽ thấy đặng cái ta, cái sống, biết, linh, thành tựu, ấy mới gọi là bản lãnh, là vô năng sở, thì không cái chi hơn. Giải thoát đến cái pháp tức là giải thoát hoàn toàn. Cái tâm như thế mới phải thật gọi là kim cương, thời gian không làm núng, chúng sanh, vạn vật, các pháp, chẳng chuyển lay. Ấy mới gọi đúng là tinh thần siêu việt. Thế là dứt đặng niệm pháp, không còn chấp pháp.
Vậy thì niệm thân, niệm bệnh, niệm ý, niệm pháp, là bốn cái niệm, bốn sứ sở bên lề, bốn phía, bốn cõi đọa lạc, như bốn tay chân, không phải là chỗ ở của cái ta, nó là bốn cảnh huyễn ma mà ta phải tránh xa, phải thấy ra, để đặng dứt trừ tiêu diệt, không nên quyến luyến, nhớ tưởng, cố chấp, thì tâm mới lớn yên, trí mới rông sáng.
Sự dứt đoạn niệm thân, dứt đoạn niệm bệnh, dứt đoạn niệm ý, dứt đoạn niệm pháp, tức là BỔN DỨT ĐOẠN. Dứt đoạn bốn vách nhốt ngăn, dứt đoạn bốn dây trăn trói, dứt đoạn địa ngục hắc ám phủ che, dứt đoạn sự hành hà tâm trí, do đó con người hoàn toàn giải thoát, sống trong cõi chơn như đại định, vũ trụ bao la, không chi ngăn ngại. Nhờ vậy mà phát sanh ra BỐN THẦN THÔNG:
1.— Bởi không còn cái sắc, cái thân, cái có, che đậy, nên mắt trí của tâm ta thấy xa thông suốt, cõi đời, chúng sanh, vạn vật các pháp. Và nhờ đứt đoạn bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được mắt trời, mắt thần, mắt pháp, mắt huệ, mắt đạo, chứng tại nơi mắt thịt là chánh tín.
2.—Bởi dứt đoạn bệnh tương đối, thái hóa bất cập không còn bị sự chuyền níu bên lề bệnh cản ngăn, nên tai trí của tâm ta, nghe xa thông suốt cõi đời, chúng sanhh vạn vật các pháp. Và nhờ dứt được bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được tại trời, tai thần, tai pháp, tai huệ, tai đạo, chứng tại nơi tai thịt là chánh niệm.
3.—Bởi dứt đoạn ý, chuyền leo phiền não, không còn bị sự hành phạt dắt dẫn, xa khác hẳn với thế gian, nên trí phân biệt của tâm ta nhận ra hiểu rõ tâm lý của chúng sanh, muôn loài vạn vật, các pháp; hiểu rõ chỗ thấy hiểu của tất cả, do nhờ trong chỗ định, mà thấy ra nơi ngoài chỗ loạn; ở trong chỗ kín, trong chỗ khuất bóng tối, mà thấy ra ngoài chỗ trống hở, chỗ ánh sáng. Và sự kín đáo của tâm ấy tức là dứt đoạn được bốn niệm, thì con người sẽ trở nên kỳ bí siêu hình, vô vi huyền diệu, ẩn mật kín đáo, chân như che chở, ấm khuất diệu mầu, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc được cái mũi hửi, biết hết tâm ý của muôn loài, không chi ngăn ngại ! Đó là mũi trời, mũi thần, mũi pháp, mũi huệ, mũi đạo, chứng tại mũi thịt là chánh tinh tấn, mùi chi trong ngoài hết thảy cái chi cũng biết.
4.—Bởi dứt đoạn pháp ngăn che nghi hoặc, cố chấp, không còn bị sự níu kéo nặng nề dính buộc, khác với phàm phu tríu lụy : nên trí được huệ, cắt đứt mạnh mẽ, phủi dứt nhẹ nhàng, cao thượng không không, xa bay theo nhân duyên mây gió, vượt hẳn các pháp chúng sanh vạn vật. Và nhờ đứt đoạn được trọn bốn niệm, tâm hằng định, tinh thần đầy đủ, sức linh thành tựu, điện lực càng thâu, nên đắc lưỡi trời, lưỡi thần, lưỡi pháp, lưỡi huệ, lưỡi đạo, chứng tại nơi lưỡi thịt, là trì giới, đem thân mạng bay cao, bay xa biến mau, do lời nói thần lực bên trong kín đáo sức mạnh.
Bốn thần thông nầy : thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông (hay thiên tỷ thông), thần túc thông (hay thiên thiệt thông) có ra là do bốn cái dứt đoạn, trừ được bốn xứ niệm, mà tâm định yên trụ chính giữa, gom thần góp điện, hiệp sức của bốn phương mà thành.
Người được tâm định, có đủ bốn thần thông, là sanh ra NĂM CĂN BỐN:
1) Mắt căn thanh tịnh, sanh ra chánh tín, là nhờ sự thấy rõ mới tín tin.
2) Tai căn thanh tịnh, sanh ra chánh niệm là nhờ sự nghe rõ mới niệm ghi nhớ.
3) Mũi căn thanh tịnh sanh ra chánh tinh tấn, là biết rõ mùi đạo, mới tinh tấn cố gắng.
4) Lưỡi căn thanh tịnh, sanh ra trì giới, là nếm rõ vị đạo, mới biết giữ gìn ngăn che trì giới.
5) Thân căn thanh thịnh, sanh thiền định, là xác thân không còn dơ bẩn sái quấy của việc làm, thì tâm ý sẽ lặng ngừng. Và việc làm của thân trong sạch không không, được có ra, là do mắt, tai mũi lưỡi, bốn căn trong sạch, và bốn thần thông ủng hộ.
Vậy nên gọi nhãn căn là tín, nhĩ căn là niệm, tỷ căn là tinh tấn, thiệt căn là trì giới, thân căn là thiền định, đó là năm kết quả, năm chứng đắc, của bốn xứ niệm, bốn dứt đoạn, và bốn thần thông. Mắt tai mũi lưỡi thân ấy, mới tạm gọi là cái có của ta được. Năm căn ấy có ra cũng là do chân như tự nhiên giác ngộ, của trí huệ quả linh, nên gọi căn ấy là thánh căn. Vì mắt ấy đã không còn ngó xem việc phàm trần. Tai ấy đã không còn nghe ngóng việc tục trần. Lưỡi ấy đã không còn nếm chác việc nhiễm trần. Thân ấy đã không còn rờ chạm việc ô trần. Vì bởi là mắt tai mũi lưỡi thân trong sạch sanh ra tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định. Năm căn thánh nên gọi bậc tu, đã đến đây, chỉ còn có năm căn: tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định, do mắt tai mũi lưỡi thân trong sạch kia sanh ra, chớ không còn mắt tai mũi lưỡi thân phàm. Thế mới gọi rằng: Bậc siêu phàm nhập thánh, lấy tín, niệm, tinh tấn, trì giới, thiền định, làm mắt tai mũi lưỡi thân thanh tịnh, chớ chẳng có mắt tai mũi lưỡi thân như người phàm. Vậy nên người sẽ đắc đặng NĂM SỨC LỰC:
1) Tín lực, sức lực mạnh mẽ của chánh tín.
2) Niệm lực, sức lực mạnh mẽ của chánh niệm.
3) Tinh tấn lực, sức lực mạnh mẽ của chánh tinh tấn.
4) Trì giới lực, sức lực mạnh mẽ của trì giới. 
5) Thiền định lực, sức lực mạnh mẽ của thiền định.
Nhờ đắc được năm sức lực đó, nên quả linh và đạo lý lại mạnh mẽ thêm lên, lớn to rộng nhiều mãi, không lui sụt, lu lờ, phai lợt. Và cái chi cũng do năm sức lực ấy mà thành tựu. Năm sức lực thần nầy, cũng kêu gọi là: sức lực của mắc căn trong sạch, sức lực của tai căn trong sạch, sức lực của mũi căn trong sạch, sức lực của lưỡi căn trong sạch, sức lực của thân căn trong sạch, của bậc thánh nhân, do đó mà thắng phục tất cả ma vương, ngoại đạo, trở nên toàn năng. Thiền định lực, là sẽ kết quả toàn năng, hay sức lực của thân căn trong sạch, là mạnh mẽ nhứt. Vì trong đời, khó ai làm chủ xác thân, khó ai dạy độ được xác thân, khó ai kềm chế phục trị cảm hoá tự chủ được xác thân; thế mà nơi đây xác thân đã thành tựu, đã được gọi có thân; có cái thân trong sạch tốt đẹp, còn mãi, là thiền định, đổi thân phàm thành thân thánh, không còn phải khổ luân hồi sanh tử, thay đổi. Thân căn tốt đẹp trong sạch ấy có ra là do lưỡi căn trong sạch tốt đẹp. Lưỡi căn có ra là do mũi căn trong sạch tốt đẹp. Mũi căn ấy có ra là do tai căn trong sạch tốt đẹp. Mắt căn ấy có ra là do bốn thần thông, bốn dứt đoạn, bốn xứ niệm. Như thế tức là bốn xứ niệm đọa lạc, sanh ra bốn giác ngộ dứt đoạn, mà chứng bốn thần thông, của bốn căn, nên sanh ra được căn thân thứ năm, là thân thể của thánh đã trọn thành hình, và có được năm sức lực là sống cử động, do đó sẽ sanh ra cái giác là Phật làm chủ, ấy cũng nghĩa là: từ bốn xứ niệm đọa lạc, sanh ra được bốn giác ngộ dứt đoạn, kêu là trí huệ mà chứng bốn thần thông của bốn căn: tín, niệm, tinh tấn, trì giới ; chánh tín là thiên nhãn thông, mắt trời thông suốt, chánh niệm là thiên nhĩ thông, tai trời thông suốt, chánh tinh tấn là tha tâm thông, mũi trời thông suốt, (hiểu tâm người khác), chánh trì giới là thần túc thông, lưỡi trời thông suốt (chân thần bay mau). Do bốn căn ấy sanh ra thiền định căn, là tượng đủ thân hình thánh (thiền định là thân thánh). Và nhờ sức lực của thân thiền định, mà phát sanh ý giác là pháp chánh giác Phật.
Chánh giác Phật tức là ý giác của năm căn lực, cũng gọi là cái chủ tể của năm căn lực, hay tâm hồn của thân thiền định, do cái sống sức lực của thân căn thiền định. Gọi là thất giác ý, thất bồ đề, bảy chánh giác, làm thất phách đều đủ, của thân thiền định, sống bằng sức lực. Trong thất giác ý, bảy phách của Phật là có gồm chứa đủ cả (Sống biết linh nên gọi tam hồn, hay gọi là giới, định, huệ đều đủ).
BẢY Ý GIÁC: Ấy mới thật gọi là ý Phật, ý chơn, ý chánh, ý của ta, ý nên hay ích lợi quý báu, mà người ta hằng gọi là cây bồ đề báu, chỗ gốc đó chơn tâm giải thoát của chư Bồ Tát, ngồi tu sẽ thành Phật. Cây bồ đề, ý giác bảy nhánh ấy là: ; Bodhi Tree, the feeling was seven branches:
1. Một là, phân biệt sự lành với sự dữ.
2. Hai là, tinh tấn mà lướt lên.
3. Ba là, an lạc trong vòng đạo đức.
4. Bốn là, thắng phục tâm ý mình, đặng làm lành.
5. Năm là, nhớ tưởng đạo lý.
6. Sáu là, nhất tâm đại "định thiền".
7. Bảy là, vui chịu với mọi cảnh ngộ. 
(MÔ PHẬT !) 
Bảy ý giác cũng tức là bảy phần trí huệ đầy đủ, bảy ý chánh chơn giác ngộ, hay là ý Phật. Bảy ý giác cũng là trí huệ đầy đủ, nêu kêu là định sanh huệ, hay thiền định lực sanh chánh giác. Ý giác là cây, bảy ý giác là bảy nhánh cây, năm căn bổn là rễ cây, thân thiền định căn là rễ cái. Năm sức lực là sự sống. Bốn phép thần là vượt mọc lên cao, cái ta là hột giống, bốn dứt đoạn là sự cuốc đất, bốn xứ niệm là mặt đất tứ đại còn bát chánh đạo tức là quả, trái. Bảy ý giác cũng là bảy lớp trí huệ :
1.) Phân biệt sự lành với sự dữ, là nhân bố thí sẽ kết quả nhập lưu, bỏ tất cả, xuất gia giải thoát khất sĩ, đi lên tới nhập vào nguồn đạo.
2.) Tinh tấn mà lướt lên, là nhân nhẫn nhục, sẽ kết quả nhứt vãng lai, chỉ còn một lần trở lại.
3.) An lạc trong vòng đạo đức, là nhân tinh tấn sẽ kết quả bất lai, không còn trở lại.
4.) Thắng phục tâm ý mình đặng làm lành, là nhân trì giới, sẽ kết quả vô sanh, dứt luân hồi, đắc Niết Bàn giải thoát trong sạch.
5.) Nhớ tưởng đạo lý, là nhân thiền định, sẽ kết quả Duyên Giác, hưởng Niết Bàn yên lặng.
6.) Nhứt tâm đại định, là nhân trí huệ, sẽ kết quả Bồ Tát giác tha.
7.) Vui chịu với mọi cảnh ngộ, là nhân chân như, sẽ kết quả Như Lai thành Phật.
Vậy nên bảy ý giác, cũng gọi là bảy nấc thang, bảy lớp tu, bảy trình độ hạng bậc; tức là cây bồ đề cao bảy trượng bảy tầng. Hay nói là bảy hột mè, mà đức Bồ Tát, thường ăn mỗi ngày, để nuôi chân mạng thành Phật. Cũng có thể nói là, ngồi tòa thất bửu của chư Phật, mà khi xưa Tăng chúng Tỳ Kheo, đem mình làm cái ghế tòa sen ấy cho Phật ngự. Hoặc nói là bảy món ăn chư khất sĩ thường ngày, không thiếu sót, mà trong đó, cái giác thứ nhất phân biệt sự lành với sự dữ, là làm cơm trắng. Bảy ý giác cũng là một con đường, từ đầu đến đuôi kết quả, từ thiện lành bỏ ác quấy đến được với chân như giác ngộ. Cũng như từ mới sanh, tới khi già chết sẽ nghỉ yên. Chính cái giác chót, vui chịu với mọi cảnh ngộ, là nghỉ yên, tròn trịa, vô chấp, chân như đắc quả. Cũng nói đó là cái chót ngọn nóc đầu, cao hơn hết của các cái giác kia, là chỗ rốt ráo của sự giác ngộ, sự hết khổ toàn vui, sự tròn lăn như quả trái, như bánh xe, không còn vuông méo góc cạnh tai nạn. Cái ta mà ngồi nghỉ yên nơi cội chánh giác, tòa bồ đề nầy thì sẽ đắc đạo. Người tu đến đó sẽ là thành đạo. Sẽ đắc thêm được hai phép thần thông sau:
5.— Túc mạng thông, thông hiểu mạng số của chúng sanh cả thảy, vì nhân duyên, là do nơi cái giác nhứt tâm đại định, là điều chúng sanh không làm được, bởi những trở lực mạng số. Mà người đã tu thật hành được, nên mới biết hiểu.
6.— Lậu tận thông, thông hiểu tất cả gốc nguồn phiền não, do nhờ cái giác, vui chịu với mọi cảnh ngộ, mà được lậu tận hoà, là hòa vui diệt tận gốc khổ, nên đắc Niết Bàn vô sanh, thành A La Hán, ứng cúng trong sạch giải thoát xứng đáng cho người đời thờ phượng lễ bái, cúng dường, qui y theo, cũng như con cá đã nhảy khỏi ao, như học trò đi thi được đậu, là điều mà trong thế gian rất báu quý, nhưng ít ai làm đặng. Nên ai ai cũng lấy đó làm mục đích chỗ đến.
Bậc đắc xong bảy ý giác là sẽ thấy mình, như đứa con nhỏ của Phật mới sanh ra, gọi là Phật tử, được sống bằng mạng Phật chánh giác, mạng bồ đề, đã có đủ linh hồn xác thịt thành, ở trong nhà Phật, mà đắc đạo. Từ đây mới sẽ lớn lần lên, trong cái mạng sống Phật chánh giác ấy, cho đến lớn, đến già, đến nghỉ ngơi thiệt thọ, là từ bậc A La Hán, sẽ tới Bích Chi, tới Bồ Tát, và Như Lai, hoàn toàn tròn vẹn.
Bấy giờ con đàng sống tiến bên kia của các Ngài, sẽ là bát chánh đạo, tám pháp thánh, tám cách hành đạo. Các Ngài ở yên nơi đó, ở ăn làm việc sống nơi đó, rất an ổn vững vàng, là bởi cõi pháp giới riêng, không còn biết thế sự ra gì, ở đâu đâu; thế là các Ngài đã sống bằng ý giác, đi trên chánh đạo, sẽ đến chơn như rốt ráo; bỏ lại trần thế, những kẻ chúng sanh nối dấu theo sau, còn vướng phải biết bao những sự thảm sầu tai họa.
Tám pháp chánh đạo đây, là con đàng đi của các bậc thánh nhơn đã tròn xong ý giác, để tới quả Phật, cũng là tám pháp hành đạo của bậc thánh nhân, đã tròn xong ý tự độ, bấy giờ tới lúc phải đi hành đạo, cứu vớt tế độ cho đời. Vừa cứu độ chúng sanh, vừa tu thêm cho mình, để vừa đi tới, vừa dắt lần chúng sanh đến nơi quả Phật. Trên khoảng con đưòng đi lúc ấy là các Ngài đã không còn thân tâm trí cảnh giới giống như chúng sanh. Các Ngài đã đến cõi bằng thẳng vô tận, của tinh thần mênh mông, bao quát, thật khỏe khoắn, sung sướng quá, chúng sanh tội lỗi nào phải ít kiếp tu, mà được.
TÁM CHÁNH ĐẠO: Cõi Thánh ấy là thần chánh, suy gẫm chánh, nói chánh, làm chánh, sống chánh, siêng năng chánh, niệm tưởng chánh, yên định chánh. Với tám pháp này, thì cõi đời đối với các Ngài là Niết Bàn, là xứ an lạc rồi, thế nhưng trái lại: chúng ta, cũng đang ở tại cảnh đời đây, mà lại luân hồi khổ não vô ích, thật là đáng phiền tủi cho thân phận.
TÁM CHÁNH ĐẠO: Đã có giải kỹ ra nơi quyển “ BÁT CHÁNH ĐẠO” chơn lý số 5, rất mầu nhiệm, mà nơi đây thiếu giấy, không thể viết thêm
Vậy muốn biết, chúng ta hãy tìm xem lại quyển số 5 thì rõ.
NÓI TÓM LẠI: Quyển “ PHÁP CHÁNH GIÁC” nầy là gồm cả 37 pháp chánh giác Bồ Đề: (4 xứ niệm, 4 dứt đoạn, 4 thần thông, 5 căn bổn, 5 sức lực, 7 ý giác, 8 chánh đạo; cộng là 37 pháp chánh giác). Cách tu thành đạo của Phật cùng chư Bồ Tát. Tuy giải sơ lược nhưng quý báu vô cùng. Chính đó là phép tu thành đạo, đắc đủ lục thông, A LA HÁN, vốn không sai chạy, chúng ta nên thường phải lặp đi lặp lại, mới nhận thấy rõ kết quả. Vì chưa đắc quả lục thông A LA HÁn thì đâu được đến Bích Chi, Bồ Tát và Như Lai. Những ai có thật hành, mới thấy rõ rộng xa thêm, những chỗ diệu mầu khó tả. Những ai uống nước, thì ắt nóng lạnh tự người hay. Đã là pháp chánh giác thì chẳng có điêu ngoa. Nhưng có thật tu hành hay không, là tự ai phải cố gắng lấy, không ai giúp nên cho mình. Quyển “ PHÁP CHÁNH GIÁC” đến đây tạm ngưng. Vì chẳng khá viết thêm nhiều. Vậy xin kính chúc cho ai tất cả hữu tình vô tình, hãy đặng tiến lên, y theo con đàng Pháp Chánh Giác hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang; Patriarch Minh Dang Quang
***
Phụ chú thêm: Trang 613, Chơn Lý số 39. XỨ THIÊN ĐƯỜNG, Tổ sư đã nói : Phép thần thông là lời nói pháp lý thông thái có hiệu nghiệm ! Mô Phật !
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
"Bấm vào chữ Dịch bên dưới" !  <= (mở trang nầy! trước khi Dịch ! đã có liên kết trang!)
(Hãy bấm  quay trở lại ! Sau khi đã copy bản dịch hoàn chỉnh !) (Copy văn bản dán vào ô Dịch)

Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Pháp
Phát hiện ngôn ngữ
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Trung (Giản Thể)












Tiêu đề của tôi





Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét