Thứ Tư, tháng 12 25, 2013

55. Chân-Như ; Truth-As

Thực hành dịch sang Anh ngữ tự học: số 55
Practice self-taught English translation: No. 55
( Hiệu chỉnh và dịch thuật : Lê Đức Huyến ; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
***
* Dịch sang Anh ngữ ; Translations into English: Học hành phải biết "chỗ sai"...Tầm cầu học hỏi, miệt mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body!
Thực hành đọc Chơn lý ; Practice reading Truth
Chân-Như
Truth-As
(眞如) 

( Trang 819-830 ; Pages 819-830 )
1.- Trong kinh Kim Cang, vị trưởng lão tu Bồ Đề, đã thưa với Phật, rằng: Như Đức Thế Tôn, thật là ít có ! ; In the Diamond Sutra, religious elders Bodhi, was said to the Buddha, saying, As the Blessed One, it is little! Đức Như Lai vẫn thường hay ủng hộ chư Bồ Tát, bằng tư tưởng thiện lành, vẫn hay thường đem điều lành, mà phó thác lại cho chư Bồ Tát ; Tathagata has often supported Bodhisattvas, with wholesome thoughts, and still often bring good, which entrusts to the Bodhisattvas. " Bạch đức Thế Tôn ! " Như là có hạng, bậc: trai lành và gái tín nhiệm, quyết phát tâm cầu quả: Vô Thượng "Chánh Đẳng Chánh Giác", thì nên trụ vào đâu? Vậy nên hàng phục cái tâm như thế nào ? ; "O Blessed One!" As if there were classes, grade: good boys and girls of confidence, determination rise to demand results: Supreme "Awakened One", should be head-to? So subdued the mind like? Đức Phật, bèn phán với Ngài trưởng lão, tu Bồ Đề , rằng; Buddha, he spoke to him elders, religious Bodhi, that:
“Chư Bồ Tát, nên hàng phục cái tâm như thế nầy: Đối với tất cả các loại chúng sanh dẫu là loài sanh từ trong trứng, dẫu là loài sanh từ trong thai, dẫu là loài sanh dưới nước, dẫu là loài sanh hoá, dẫu là loài có tư tưởng, dẫu là loài không tư tưởng, dẫu là loài chẳng phải có tư tưởng, mà cũng chẳng phải không tư tưởng, thời ta cũng diệt độ cho tất cả đều đắc nhập cảnh Niết Bàn trọn vẹn. Như vậy là diệt độ cho vô lượng, vô số và vô biên chúng sanh nhưng thật ra không có chúng sanh nào được diệt độ cả. Tại làm sao? Nầy, tu Bồ Đề ! Nếu Bồ Tát mà có tính cách của mình, tính cách của người, tính cách của chúng sanh, tính cách của số phận, thì chẳng phải là Bồ Tát.
"Bodhisattvas should surrender the mind like this: For all kinds of human beings despite being born from the egg, albeit the species born of Pregnancy, albeit the species is born under water, albeit the birth of species, albeit the species is thought, albeit the species are not thought, even though the species is not thought, nor have no idea, while also passing for all attained nirvana full entry. So is nirvana for countless, countless and boundless beings, but actually no living being was passing at all. Why do? This, cultivation of "Bodhi"! If the Bodhisattva that his character, persona, the character of being, the way of fate, is not it a Bodhisattva."
Như thế nghĩa là: bậc Bồ Tát mà thay thế cho Phật đoạn diệt và cứu độ chúng sanh, là phải thệ nguyện độ cho tất cả chúng sanh bình đẳng, nhưng mà tâm hằng giữ: "Chân-Như" và "đại định" , như "Kim Cang" bất hoại, như vũ trụ và chân không, mà đạo đức là bao trùm tất cả, nhưng mà cái thể của nó, lúc nào cũng tự nhiên vắng lặng không không, không vọng động, không ranh mé và mê tín vào khoa toán số chi hết. Cái tâm của con người phải là vũ trụ chân như như vậy, chớ đừng chấp nơi cái có có của sự việc gì cả. Tâm linh mà như vậy, thì mới thực được gọi là to lớn; phước đức như vậy, thì gọi là vô cùng tận, ấy gọi là Kim Cang.
Thus meaning: Bodhisattvas which replaces Buddha eradicated and saving sentient beings, is the vow to give all beings equally, but that constant attention to keep: "Truthfulness-like" and "samadhi" , as "Diamond" indestructible, and the universe as a vacuum that is moral cover all, but that something of it, always tranquil nature no no, do not expect action, not boundary edge and numerical superstition into science at all. The mind of man is universal truth as such, do not accept the place of the incident can be anything. Such spiritual, actually called the new big; such merit, it is endless calls, that called the Diamond.
Chú thích : Vajra : Kim Cương. => Tham khảo: Chơn lý số 6 "CÓ và KHÔNG"
Sau đó Phật giải thêm, rằng : Bậc Bồ Tát có theo "cái pháp" mà làm việc bố thí, thì không còn nên nương dựa vào đâu hết, không nên nương dựa vào "hình tướng" của sáu "căn trần": là hình sắc, tiếng tăm, mùi vị, xúc động và pháp ý mà bố thí, thì phước đức không thể suy tính đo lường nơi cõi hư không về phương Đông, phương tây, phương Nam, phương Bắc, hoặc bốn phương kế cận, phương "Thượng" và phương "Hạ"; Then the Buddha added, that Bodhisattvas are in "the law" that work for charity, it should no longer rely on nowhere, should not rely on the "form" of six "bare base": the the identity, reputation, tastes, emotions and mind that legal alms, the merit can not measure where contemplating nothingness of the East, the West, the South, the North, or four adjacent the "Upper" and the "Lower".
Tâm bố thí mà "không không", không trụ vào "hình tướng", không cố chấp, thì phước đức cũng không ranh mé, khoa bói toán số, y như vậy ; Mind giving the "no no" , not based on "form" , not bigotry , it does not merit boundary edge , science of divination , likewise. Đức Phật lại dạy, rằng: Phật là cái "chân như" Như Lai, là chẳng vọng động "bổn lai", chớ không phải thân của "hình tướng" là Phật ; The Buddha taught that Buddhism is the "truth as" Tathagata , is no expectation of "future responsibility" , not the body of the "form" is the Buddha ; Cũng như Ngài không có cố chấp cái quả chi là Vô Thượng "Chánh Đẳng Chánh Giác", và cái pháp chi là cần phải thuyết và Ngài không cố chấp bốn "hình tướng" của tâm. ; Just as he did not have the results more bigotry is Supreme "supreme Buddha" , and the legal expenses and his theory that should not bigotry four "appearance" of the mind .  Chỉ bằng "Chân Như" và "đại định" thôi ! ; Only in "One True" and "samadhi" only!...Ngài không cố chấp chứng đắc đạo quả chi hết, là vì tâm của Ngài đã thật giải thoát trọn vẹn, không còn dính mắc vào đâu cả ; He is not bigotry attainment results at all, because his mind was so completely liberated, no longer attached to nowhere ; Nên Ngài gọi rằng: dứt bốn "hình tướng" ấy tức là thành Phật, phước đức lớn hơn hết; So he calls that terminate four "forms" that that is the Buddha, the greatest merit; Cũng như "cái thật" là cái không có hình tướng, "cái nhiều" là cái chẳng suy lường, "cái lớn" là cái không xem thấy, "cái có" là cái không giữ gìn, "cái không" hư hoại là "chân-như" vũ trụ, cái ấy mới gọi là cái của bậc giác ngộ, Phật, là tâm của Phật, chân tâm , không vọng; Just as "the truth" is the formless, "a lot" does not infer that the "big one" is not the view that, "what is" is not the preserve, "that does not" decay are "vacuum-like" universe, so it's something new called enlightened Buddha, the Buddha's mind, the true mind, no expectations.
Ghi chú : tính chất của "Chân Như" cũng chính là "Nhất Như" (" One True")
2. Kìa như trong "Tâm Kinh", bài học kinh nghiệm của tâm, trong cái "chân không", không có cái mực trung, không "vọng-động", thì đâu có chi là "cái có" hay "cái không" cái sắc thân, thọ cảm, tư tưởng, hành vi, "thức trí hiểu biết" của ngũ uẩn; cái tâm đã nhập định trong "Chân-Như", thì trong đó đâu có "cố chấp" biết gì: sanh, già, bịnh, chết, sáu "lục căn", sáu "trần lao", sáu "cái thức", khổ, tập, diệt, "đạo"; như vậy thì đâu còn cái pháp gì vô minh! Đâu có cái trí, cái đắc mà mong muốn Niết Bàn.
2. Behold as the "Heart Sutra" lessons of the heart, in a "vacuum", not a high level, not "hope-the" what could be more as "what is" or "is not" the excellent body, sensed, thought, behavior, "place of knowledge" of the five aggregates, have entered the mind of the "Truth-As", then that did not "bigotry" know what: birth, aging, sick, dead, six "senses", six "bare employees," six "the way", suffering, training, kill, "religion", so what, what is the legal ignorance! Where is the mind, but the desire to attain Nirvana.
Vì bởi tâm nhập định "Chân-Như" tức là: Niết Bàn Phật rồi ! Giác ngộ như thế, nên không còn chi tìm cầu mong muốn cả; ba đời chư Phật cái tâm đều y như vậy, nên mới thành Phật. Ấy là cái trung tâm, trụ cốt, chỗ đến, đặc điểm của tất cả chúng sanh đó; So by entering the mind of "Truthfulness-like" means: Buddha and Nirvana! Enlightenment such, should not seek just wish the whole, three Buddhas of the mind are the same, so the new Buddha. This is the central pillar, place the characteristics of all living beings there.
3. Lại như trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã giảng dạy cho ông A Nan, rằng: "đèn" chẳng qua là cái phô bày sắc tướng ra được, mà không phải thấy được ; Again as in the Shurangama Buddha taught his Ananda, that "lights" is nothing less than a show appearances to be, which is not visible. Cái thấy được "sắc tướng" ấy là mắt vậy. Cũng như con mắt là cái phô bày "sắc tướng" ra được nhưng thấy được sắc tướng ấy là "LÒNG", chớ không phải con mắt thấy được. The shows are "appearances" that is so eye. Just as the eye is the display of "appearances" are but the visible appearances he is "HEART", do not have eyes to see. Ngài gọi rằng hết thảy chúng sanh không thành được chánh giác, và cũng không thành được A La Hán, đều bởi "khách quan" của "trần gian" nầy, làm cho lầm lạc; He called that all living beings are not to enlightenment, and also not to be Arhat, both by "objective" of "the world", making misleading. Vì "khách quan" của "trần gian" ví như người đi đường, đói ghé quán cơm, đêm tối đến vào tiệm ngủ, ăn và ngủ nghỉ xong rồi lại ra đi nữa. Nếu không đi đâu cứ ở tại nhà mãi, ấy là chủ nhà ("chơn"), mà bởi không ở lại, mới kêu là khách (vọng); Because the "objective" of "the world" such as pedestrians, hunger had Meal, come into the shop at night to sleep, eat and sleep well done go back. If not go anywhere just stay at home forever, he is the host ("true"), but by not staying, call the new customer (prospect). Còn "trần gian" nghĩa là bụi. Như ban mai mặt trời mọc, ánh sáng rọi vào những lỗ trống trong nhà, thấy bụi bay xao xuyến, đầy giữa không. Nhưng hư không vẫn lặng im (chơn), còn bụi cứ xao xuyến (vọng). Bởi nó "xao xuyến" mới kêu là "bụi"; But "the world" means dust. As the morning sun rises, the light shines into the hole in the house and saw dust flying anxiety, full of mid-air. But nowhere is silent (true), while dust on anxiety (Hope). Because it's "anxiety" is a new call "dust".
***
Chú ý, rằng: nơi trang 29 của "chơn lý": NGŨ UẨN, Tổ sư Minh Đăng Quang đã nói đến hai chữ "khách quan" và "chủ quan" ! Note that on page 29 of "Truth": the five aggregates, Patriarch Minh Dang Quang said the word "objective" and "subjective"!
Khi ấy Phật bèn giơ tay, rồi nắm lại, xòe ra, Ngài hỏi với A Nan, rằng: "Ngươi thấy gì không ?"
Then the Buddha went hands, then clenched, spread out, with Ananda asked him, saying, "You see that?"
Xin thưa: thấy Phật giơ tay lên, rồi xòe ra, nắm lại.
Please answer: that Buddha held up his hand, then spread out, hold back.

Tại bàn tay (khách) của ta xòe ra, nắm lại, hay tại cái thấy (chủ) của ngươi có xòe ra nắm lại?
At hand (guest) our outstretched, holding back, or at the show (master) of you have spread out holding back?
Tại bàn tay Phật ! ; At Buddha hand!
Cái nào "vọng động" và cái nào "thanh tịnh" ?
Which "real prospects" and which "pure"?
Bàn tay của Phật là động (vọng). Cái thấy của con là tự nhiên (chơn), không có cái tên : thanh tịnh thay ! huống chi lại có cái tên: hành động.

Buddha's hand is up (hope). What is the nature of the see (true), with no name: pure instead! alone has the name: action.
Phật khen rằng: phải.
Buddha compliment that: right.
Bấy giờ Phật lại giơ tay chỉ về phía hữu. A Nan quay đầy ngó phí hữu, Phật lại chỉ qua phía tả. A Nan quay đầu ngó phía tả. Phật bèn hỏi rằng:

A Nan, đầu người tại sao day động?
Tại thấy Phật chỉ hai bên, tôi ngó qua ngó lại, cho nên đầu mới day động.
Tại cái đầu của ngươi động, hay tại cái thấy của ngươi động?
Cái thấy CHỦ vẫn tự nhiên (chơn) , tại cái đầu KHÁCH nó day động (vọng).
Phật khen rằng: phải.
Bấy giờ Phật bảo hết thảy tăng chúng rằng:
“Cũng có người biết cái xao xuyến ấy là bụi, mà chưa hiểu cái hư không đựng chứa bụi ấy nó vẫn yên lặng tự nhiên; biết kẻ không ở lại ấy là khách, nhưng không biết người dung nạp khách, ấy là chủ nhà, không dời không đổi.
Vậy các người hãy xem cái đầu của A Nan, tại nó day động, và bàn tay của ta nắm lại, xòe ra, những cái THẤY nó vẫn tự nhiên, không có chút gì thay đổi.
Cái tự nhiên yên tịnh không đổi không dời ấy, chính là cái chơn tâm của các người vậy. Cớ sao các ngươi quên mất cái đó, lại nhận cái sống chết làm mình, cái biến đổi làm cảnh, mà phải luân hồi mãi trong vòng sanh diệt vô thường? Ấy cũng bởi các ngươi tự mình chuốc lấy mà thôi ".
Như thế tức là đức Phật dạy bảo chúng ta nên hãy nhận ra cái chơn như võ trụ đạo đức không vọng động, không không vắng lặng, tự nhiên chơn thật, làm tâm, làm trung tâm trụ cốt chỗ đến; kìa như cái biết của ta nó cũng vốn là tự nhiên không vọng động, và từ nơi tự nhiên không vọng động, có sẵn từ lâu, tự hồi nào, chớ nào phải mới có hiện tại đây. Vì nếu không có trước kia, thì bây giờ đâu có. Sỡ dĩ trước kia nó chưa xuất lộ ra, chưa tập thành tướng, là chính nó đang ở ẩn trong các pháp chúng sanh vạn vật đó thôi, nên gọi là cái sống biết linh, có sẵn nơi chúng sanh vạn vật các pháp, vốn là tự nhiên ở trong võ trụ, thế nghĩa là cái biết của chúng sanh đã có, đang có, sẽ có, chớ chẳng phải không. Nó là cái có sanh ra, có sẵn, ở trong võ trụ hư vô chơn như đạo đức. Và cũng là chơn như đạo đức võ trụ hư vô, đang có sẵn ở trong mỗi cái.

***
(Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn !)
(Meditation, be still is, looking at the swastika!)
Bởi đó nên lắm kẻ gọi chơn như là chúa tể các pháp, là tâm của chúng sanh, là chỗ đến của tất cả, là cái Phật của bậc giác ngộ. Người ta cũng nói chơn như là ngọc đế, là cao thượng đế, nghĩa là chơn như là pháp qúy báo như viên ngọc, là pháp cao thượng hơn hết, đế nghĩa là thẩm xét: cao thượng đế nghĩa là pháp thẩm xét cao thượng hay ngọc đế là pháp thẩm xét quý báo như châu ngọc, pháp ấy là chơn như. Đế cũng nghĩa là đề, đề là nắm lấy dẫn lên. Ngọc đế Thượng đế là pháp chơn như, qúi báo cao thượng, làm chủ nắm lấy chúng sanh dắt dẫn đem lân. Đế cũng nghĩa là bình luận, đề mục, nêu lên, đề là cái trán, đầu đề, nên gọi Ngọc đế, Thượng đế là cái chơn như qúi báu cao thượng, như cái trán trên cao, như cái pháp để nêu lên, là vấn đề bình luận, cũng là đầu đề, đề mục, của chúng sanh câu chuyện. Thế nên gọi chơn như là pháp tạo tâm hoá trí cho chúng sanh, tạo hoá của chúng sanh. Tất cả chúng sanh mà được tiến lên, là nhớ ngó ngay nhìn nó. Nên gọi chơn như là thầy, là cha mẹ, là vua chuá, chúa tể, Phật hay Ngọc hoàng, thượng đế là nó, nó là pháp lý, danh từ, chớ không phải riêng ai cả.
Người ta cũng gọi võ trụ, là chơn như không không im lặng tự nhiên, tự nhiên là Phật, còn không không ấy là trời, cái trời chắc thật, còn vạn vật, chúng sanh, các pháp có có, xao động là đất, cái đất thay đổi. Ấy là lý ông trời, bà Đất của nhơn loại chớ không phải người nào.
Như thế nghĩa là trời đất đây là giáo lý. Còn ông Tiên, ông Phật là bậc ở núi không không, và bậc giác ngộ, chơn như tự nhiên, cũng ở trong trời đất võ trụ, chớ không phải ở ngoài chỗ nào nữa.
Trong cái tự nhiên chơn như là gồm cả có và không, trời, đất nuối sống sanh sản, tạo hóa đủ cả sống, biết, linh, chúng sanh vạn vật các pháp, vậy nên những ai lấy nó làm tâm, giữ đúng tâm chơn như, thì sẽ tức mình là vũ trụ, Phật, Ngọc hoàng, Thượng đế, chúa tể, tạo tâm, hoá trí cho cả chúng sanh.
Thế mới biết rằng: chơn như vũ trụ là đạo vĩnh viễn bền dài, và dung chứa tất cả, kêu là đức. Nghĩa là giáo lý của nó là tích chớ không phải tiêu, tức là chứa chớ không phải chấp không, không làm. Khác nào, trong thế gian, không có vật gì bỏ cả. Các pháp tốt xấu đều dùng được theo mỗi việc. Các chúng sanh tội lỗi cách nào cũng có chỗ hay. Giáo lý nào cũng ích lợi v.v...
Ví như có kẻ kia nói rằng: Ta không tin một ông Thượng đế, một ông Phật giúp nên ta, ta không tin được khoa học vật chất làm ta được hạnh phúc, nghĩa là ta phải tự tin lấy ta, tự thành công ở nơi ta, tự ta tạo thời thế! Kẻ ấy hiểu như thế mà cho là đạo Phật thì kém hẹp, thiếu sót chăng? Vì tự mình, cái tự mình không làm sao được. 
Kià ! nào ai thấy bụi bám "đóng" sau lưng chính mình, nào ai vói tay tới sau lưng, nào tự mình sống và biết, mà không phải là đang nhờ nơi tất cả cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, tứ đại, vũ trụ ? (trang 824); Behold! does anyone see dust "close" behind myself, no one reached out to the back, to take himself and knows, that is because the place is not all grass, trees, animals, people, God, Buddha, the four elements, universe? (page 824).Thế ấy, mới hay và biết, rằng: tự mình là chưa đủ, vì tự đắc, tự tôn, tự đại, tự kỷ, tự ái, tự cao, cái tự tôn, tự lập ấy, khác với "Phật lý" là "Thế Tôn", chúng sanh, trần thế tôn vinh Ngài: "Người ta tôn mình, tốt hơn là mình tự tôn, tự đại". Vả lại, cái “tự mình” tiếng ấy là một phần tử nhỏ, chiết ra từ trong cái tiếng “ta”, ta là chúng ta, là toàn thể tất cả trong vũ trụ; Likewise, new and knows, that itself is not enough, as vain, self-esteem, narcissism, autism, self-love, pride, the pride, independence was, other than the "Buddha of" the "Bhagavan", beings, earthly honor him: "it is my honor, my better self-esteem, narcissism". Furthermore, the "own" language was a small element, derived from the word "we", it is us, all in all the universe.
Thế thì người ấy phải nên dùng chữ ta mới đúng, vì cũng có tự mình, cũng có Phật, Thượng đế, cũng có khoa học vật chất, cũng có tất cả chúng sanh vạn vật các pháp võ trụ hiệp lại giúp nên mới được cái ta chứ!
Kìa như một câu nói khiêm nhượng nghe như êm ái làm sao!
Người nọ nói rằng: Việc mình thì quáng, việc người thì sáng, nhiều người giúp mình hơn một mình mình! Hay là câu nói: có mình mà cũng có người. Chính câu ấy mới đúng sự thật mỗi ngày. Vì thế nên gọi chơn như là tích. Nhưng tích mà không chấp, và bởi tích mà không chấp, đều có kẻ tạm gọi là tiêu. Cũng như giáo lý của Phật là xin học, tài thí pháp thí trao đổi, sống chung cho nhau, ai cũng đang sống cho nhau mới được, ai ai cũng là đang xin và học của nhau. Ngài gọi rằng: không có cái gì là tiêu bỏ cả. Chỉ tiến tới, qua khỏi, lên lớp, giải thoát, vượt ra, không cố chấp bảo thủ ích kỷ một mực cho mình, khi mình qua khỏi là để lại cho tới phiên kẻ khác nữa đi sau, sự không cố chấp ấy, tạm gọi là tiêu vậy, tiêu của mình, mình dùng rồi bỏ qua một bên, là để cho kẻ khác dùng, chớ không phải đi qua rồi cuốc lộ phía sau, hay ăn dư liệng bỏ, làm đói kẻ khác để phải mang tội hủy hoại. Như thế nghiã là trong trần thế không có cái chi tiêu hủy cả, chỉ có cái thay đổi đi từng lớp tiếp nhau thôi. Cũng như con đường đời, bàn chân ta trãi qua rồi, là người khác sẽ bước đến! Đối với mình là tiêu bỏ đi qua, đối với kẻ khác là tích dùng sẽ đến. Đó tức là chấp cùng vô chấp.
Nhưng đối với giáo lý hoàn toàn thì dung hòa gồm cả, biết dùng hết, tùy theo duyên, có lấy có bỏ, chớ không thiên vị, lấy cáo nào, bỏ cái nào, ấy mới gọi là pháp tánh bình đẳng vô tranh; pháp ấy mới gọi là pháp Phật của bậc giác ngộ cho.
Thật vậy, pháp nào cũng ở trong chơn như võ trụ nuôi chứa, ta đâu có lấy hay bỏ pháp nào mà đặng. Bởi không lấy hay bỏ ấy, mới gọi là giác ngộ đó, thế nên chơn như là vạn pháp, ở trong vạn pháp sanh ra; hay gọi vạn pháp là chơn như, ở trong chơn như, chơn như sanh ra. Nó vẫn nướng sanh lấy nhau, để đem lại sự giác ngộ cho chúng sanh; nó như viên đe và cái búa, đập nhau, sanh ra tiếng tăm, ánh sáng, hình tượng để cho chúng sanh nhìn nhận.
Vậy thì chơn như là tích, các pháp là tiêu, có hai bên bờ sông có cao có thấp, có có, có không, có trời đất, có chơn, có vọng. Mới có sự giác ngộ của con người. Do đó mà chúng sanh trước hết phải bỏ cái nầy, lấy cái kia, sau khi được kia rồi, là sẽ đến mực giữa để dắt dẫn lại kẻ sau cho đi tới. Cái giữa ấy mới đúng là chơn như đạo đức, qua khỏi cái chơn, không còn chấp chơn mới thật là chơn. Cũng như cái trí qua khỏi cái Phật, thì tâm mới là Phật, bởi con mắt phải đi trước xa hơn bàn chân một bước.
Như thế thì Phật là tâm chơn. Đạo Phật là con đàng đi đến tâm chơn. Phật độ chúng sanh là chỉ tâm chơn cho mọi người, dìu dắt tâm người đến chơn như, khuyên mọi người lấy chơn như làm tâm, và chơn như mới thật là tâm, của tất cả chúng ta y như một, có một. Chính nó sẽ là hột giống vĩnh viễn trường tồn, của sống, biết, linh đó.
Vậy thì chơn như võ trụ là vẫn đang tự nhiên, khi nào những pháp trí vọng động của thế gian, không có xao xuyến, thì cả thảy là chơn như. Pháp trí của thế gian không vọng động xao xuyến, là do sự đứng ngừng tất cả sự vật, tất cả sự đứng ngừng là do không tà ác. Vậy muốn không tà ác, thì trong đời phải chánh thiện là trì giới, trì giới là đứng ngừng mọi việc, đứng ngừng, nhập định thì các pháp không xao xuyến vọng động, gọi là đã diệt trừ trí huệ, thì cả võ trụ là chơn như mà thôi. Sự thật đúng như vậy, tánh của ác tà là thiện chánh trì giới, tánh của thiện chánh trì giới là thanh tịnh nhập định, tánh của nhập định thanh tịnh là diệt độ trí huệ, tánh của diệt độ trí huệ là chơn như. Chơn lý đã sẵn như thế! Cũng như thân ta vốn chẳng chịu dơ bẩn.
Khi trong sạch, không ưa xao xuyến, không xao xuyến, thì trí chẳng chấp chứa cái gì, bởi nhờ không chứa chấp, nên tâm không vọng động, đồng thời với võ trụ chơn như là một. Đó là phép tu học của chúng ta, hay sự giác ngộ con đường sanh tử của chúng sanh tất cả. Ngoài lẽ thật chơn lý, chánh lý ấy ra, tức là chúng sanh đi lạc nẻo đến rất xa, còn phải biết bao nhiêu khổ sầu tai họa bởi nơi các lối yêu ma giỏi thân hay trí, đọa phạt, tâm chơn vô lý.
Vậy thì sau khi giác ngộ chơn như, chúng ta phải cố thật hành những pháp nào để bảo giữ chơn như ấy. Vả chăng chơn như có ra là do trí huệ đoạn diệt, trước phải đoạn diệt các sự chấp lầm của pháp bên ngoài và nên biết rằng: các pháp ấy là mượn tạm, các pháp có ra như chiếc bè, để đưa ta tới bến bờ chơn như thôi, vậy không nên chấp pháp! Ví như bố thí là để đến chơn như, nhẫn nhục cũng đến chơn như, tinh tấn đệ đến chơn như, trì giới cũng đến chơn như, thiền định để đến chơn như, trí huệ cũng đến chơn như; hết thảy các pháp là để giữ gìn chơn như, giác ngộ chơn như, tập tâm chơn như cả, thế nên muốn đến chơn như, là phải đủ đầy trí huệ, đoạn diệt lầm mê cám dỗ che đậy, như vậy là trước hết phải đoạn diệt cái sở chấp thân, phải không màng sợ bịnh, dứt ngăn ý dục, và không lưu luyến các pháp. Hoặc là trước phải tập làm việc bố thí, tập nói lời dịu dàng, năng tìm những sự ích lợi, để cho chúng sanh mau tấn hóa đến nẻo chơn như, phải thường cộng với người, đặng diệt trừ ý dục, tư kỷ v.v...
Hoặc phát nguyện độ đời, hoặc phát lòng từ bi hỷ xả, hay giữ chánh pháp thiệt lớn tròn, đủ cả các pháp lớn nhỏ chậm mau, việc gì cũng là để hồi hướng đến ngay chơn như, cũng là của trong chơn như, ta người đều phải đến ngay chơn như cả thảy, đó mới gọi là pháp Phật. Phật pháp là chơn như, pháp giải thoát, trong sạch, không ô nhiễm, là pháp giác ngộ, không sai lạc, chẳng đắm trần. Kìa như vị Kim Cang đại sư, chơn như đại định dưới cội bồ đề chánh giác, ngó tranh xoi lủng gối, quạ làm ổ trên đầu, mà Ngài cũng không lay động, do đó mà giải thoát đác đạo. Ngó tranh tức là dòm ngó tranh đua của kẻ thế gian, khi thấy các nhà tu yên định tự nhiên theo lẽ chánh giác, thì chỉ trích xoi xỉa, khiêu khích, làm cho người tức tối đớn đau mà đứng lên đi chạy theo thế tục với họ. Còn quạ làm ổ trên đầu, là trong khi để tâm yên định, thì tự nhiên xét thấy ra tai họa xảy đến, người dữ gieo vào, nhưng người cũng không núng nao lo sợ, loạn tâm thôi tu bỏ đạo, do đó mà gọi là Kim Cang đại sư vậy. Kìa như đức Phật có những tên: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, Sĩ Trung Thắng, Thiên Thượng Tôn, v.v... Cả thảy các danh pháp, có ra cũng đều do chơn như bổn gốc.
Lại như kinh luật luận, hay Tam thừa giáo lý, phương tiện thiện xảo, từ thấp tới cao, cũng là để đem lại chơn như cho từng bực.
Nầy là bồ Tát Thánh, Bích Chi Thánh, A La Hán Thánh, hay Bồ Tát, Duyên Giác, Thinh Văn Thánh đã đắc lục thông ba bậc trên. Bồ Tát, Duyên Giác, Thinh Văn, xuất gia khất sĩ lớp giữa Bồ Tát, Duyên Giác, Thinh Văn, tại gia cư sĩ, ba hạnh dưới chín phẩm ấy cũng đang tu học giáo lý chơn như có một.
Cũng như trẻ nhỏ đến người lớn, tới ông già, ông già sẽ hưu trí nín nghỉ, chết lần không nói làm vọng động, ấy tức là chơn như.
Còn thú, cái cây, cọng cỏ, đồ vật, cái chi cũng có ba thời kỳ, sau chót là đến chơn như, ai cũng sẽ gặp chơn như, những kẻ nào sớm giác ngộ và vui hạp, không cố cưỡng, là sẽ sớm được yên vui, kết qủa, tránh khỏi qua những thất bại khổ đau. Vì vậy nên gọi là chơn như tế độ, chơn như là bà mẹ lành, là bàn tay cứu vớt ủng hộ cho tất cả chúng sanh, những ai dễ dạy, hiếu thảo, biết ngó nhìn thương yêu mẹ, không lãng quên, ố nghịch, là sẽ toại ý vui lòng, hạnh phúc cao trên hết, thật vậy, những kẻ chúng sanh nào, dù mắt phải ở trong địa ngục, ngạ qủi, súc sanh, mà khi giác ngộ gặp biết chơn như, hết lòng cung kính, lễ bái trì niệm, khác nào cúng dường trì niệm hầu hạ tất cả chư Phật ba đời, nhờ phước đức ấy mà thoát khỏi các nạn khổ, và sẽ đắt Niết Bàn trọn vẹn. Thế nên gọi chơn như là bửu pháp vô giá, qúi báu thần thông, oai lực rất nhiệm mầu. Chơn như ví như mặt trời cao, đối với chúng sanh cát bụi thấp dưới, ai ai nhô đầu ngước mắt, thọ hưởng ánh sáng của chơn như, là sẽ được cái sống, biết, linh hoàn toàn cử động, trở nên lợi ích, qúy báo vô cùng, sáng rỡ vô lượng.
Lại người ta cũng gọi rằng: chơn như là khí thở, vì không khí thở, thì ai ai cũng sẽ chết, chơn như cũng ví như mặt đất, kêu là Phật địa, Phật tâm. Nó sẽ dung chứa sanh sản tất cả, tất cả đều đang ở nơi nó nên gọi chơn như là xứ Cực Lạc, là chổ đến tột vui, là miếng đất trong sạch trang nghiêm, là ngôi nhà ấm kín, nó như áo mặc của người như cơm ăn nước uống như bà con quyến thuộc v.v...


NÓI TÓM LẠI: Không một ai thiếu sót "Chân-Như" được ! Vì giờ phút nào ta lãng quên nó, ấy là phút khổ loạn, mà khi nhớ lại, thì sẽ định vui liền.
IN SHORT: No one shortcoming "Truth-Like" it! Since that moment we forget it, he is suffering disorders minutes, but the recall, it will set the instant fun.
Bởi thế nên kẻ đã giác ngộ, không còn ai dám lãng quên, xa lìa với "Chân-Như", vì nó là sự thành tựu của tất cả.
That's why those who have enlightened, no one dared to oblivion, away from the "Truthfulness-like", because it is the achievement of all.
"Chân-Như" là phương pháp an ủi, cứu độ tất cả chúng sanh.
"Truth-As" method is comforting, save all beings.

"Chân-Như" là phương pháp rốt ráo không ở trên không trung. Cũng như khi xưa Phật đã hỏi với các vị "Tiên" tu ở trong rừng: Pháp tu nào mới diệt được cái ta phàm tục, để dứt luân hồi sanh tử, khổ?... Thì các ông ấy không ai trả lời được. Sau đó đức Phật mới giác ngộ "Chân-Như", trong khi nhập định dưới cội bồ đề chánh giác, Ngài thấy rõ được "Chân-Như" là vô ngã, không ta ! Hay có thể nói rằng: "Chân-Như" chính thật là: "Chân-Ngã"; mang ý nghĩa "bản ngã" của sự "chân thật" ! Vì thế mà Ngài dạy rằng: "Chân-Như" là chánh pháp, chánh lý, đạo tâm của chúng sanh, hay đạo tâm ấy là đạo Phật. Vậy thì những ai tu học "Chân-Như", tức là tu học với tất cả vạn pháp rồi...! Bởi vạn pháp là "Chân-Như" ánh sáng, túa ra, mà người đã đến được với "Chân-Như", ấy là vạn pháp đã ở nơi mình, tự mình túa ra, chớ không còn nương theo vạn pháp. Phải hiểu rằng: "Chân-Như" là của sự tự nhiên và thiên nhiên, chớ không phải có hoặc không, hay trung.
" Truth- As " method is ultimately not in the air . Just as the ancient Buddha has asked for the " Fairy" in the forest practice : new practice is to destroy the secular one , to end samsara , suffering ? ... So he's not the one to answer . Then the new Buddha enlightenment " Truth- As " , while those under the Tree Bodhi enlightenment , he saw clearly the " Truth- Like " is selfless , not us ! Or it can be said that : " Truth- As" the truth is : " Truth- Self " , meaning " self " of the " truth " ! Therefore He says: " Truth- As" the Chief Justice, district justice , spirituality of being, or is that Buddhist spirituality . So those who practice "Truthfulness - like" , ie the study of all things , then ... ! Because things are "truth - like " light , poured out , that person has to be the " Truth- Like " things that are already in their places , pouring ourselves out , do not rely on things . Understand that : " Truth- Like " is the natural and natural , not yes or no , or medium .
Hiểu như vậy, "Chân-Như" rất quý báu, vì đi theo bao nhiêu ánh sáng, là cũng chỉ đến một mặt trời "Chân-Như" đây thôi.
Understand that, "Truth-As" very valuable, because come on how much light is also a sun just to "Truth-As" here.
Ai ai cũng đang có "Chân-Như", có trong mỗi niệm và cả thảy đều sống trong "Chân-Như".

Everyone is "Truth-Like" in every concept and are all living in "Truthfulness-like".
Vậy chúng ta nên phải đến với mục đích của đạo đức đại đồng, vũ trụ Chân-như.
So we should have come with the purpose of universal morality, like the universe-Truthfulness.
T sư Minh Đăng QuangPatriarch Minh Dang Quang
(Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn !)
(Meditation, be still is, looking at the swastika!)
Văn bản gốc (đang điều chỉnh)
Chân-Như
Trang 819-830
1.- Trong kinh Kim Cang, vị trưởng lão tu Bồ Đề, đã thưa với Phật, rằng: Như Đức Thế Tôn, thật là ít có ! Đức Như Lai vẫn thường hay ủng hộ chư Bồ Tát, bằng tư tưởng thiện lành, vẫn hay thường đem điều lành, mà phó thác lại cho chư Bồ Tát. "Bạch đức Thế Tôn ! " Như là có hạng, bậc: trai lành và gái tín nhiệm, quyết phát tâm cầu quả: Vô Thượng "Chánh Đẳng Chánh Giác", thì nên trụ vào đâu? Vậy nên hàng phục cái tâm như thế nào. Đức Phật, bèn phán với Ngài trưởng lão, tu Bồ Đề , rằng. “Chư Bồ Tát, nên hàng phục cái tâm như thế nầy: Đối với tất cả các loại chúng sanh dẫu là loài sanh từ trong trứng, dẫu là loài sanh từ trong thai, dẫu là loài sanh dưới nước, dẫu là loài sanh hoá, dẫu là loài có tư tưởng, dẫu là loài không tư tưởng, dẫu là loài chẳng phải có tư tưởng, mà cũng chẳng phải không tư tưởng, thời ta cũng diệt độ cho tất cả đều đắc nhập cảnh Niết Bàn trọn vẹn. Như vậy là diệt độ cho vô lượng, vô số và vô biên chúng sanh nhưng thật ra không có chúng sanh nào được diệt độ cả. Tại làm sao? Nầy, tu Bồ Đề ! Nếu Bồ Tát mà có tính cách của mình, tính cách của người, tính cách của chúng sanh, tính cách của số phận, thì chẳng phải là Bồ Tát.
Như thế nghĩa là: bậc Bồ Tát mà thay thế cho Phật đoạn diệt và cứu độ chúng sanh, là phải thệ nguyện độ cho tất cả chúng sanh bình đẳng, nhưng mà tâm hằng giữ: "Chân-Như" và "đại định" , như "Kim Cang" bất hoại, như vũ trụ và chân không, mà đạo đức là bao trùm tất cả, nhưng mà cái thể của nó, lúc nào cũng tự nhiên vắng lặng không không, không vọng động, không ranh mé và mê tín vào khoa toán số chi hết. Cái tâm của con người phải là vũ trụ chân như như vậy, chớ đừng chấp nơi cái có có của sự việc gì cả. Tâm linh mà như vậy, thì mới thực được gọi là to lớn; phước đức như vậy, thì gọi là vô cùng tận, ấy gọi là Kim Cang.
Chú thích : Vajra : Kim Cương. => Tham khảo: Chơn lý số 6 "CÓ và KHÔNG"
Sau đó Phật giải thêm, rằng : Bậc Bồ Tát có theo "cái pháp" mà làm việc bố thí, thì không còn nên nương dựa vào đâu hết, không nên nương dựa vào "hình tướng" của sáu "căn trần": là hình sắc, tiếng tăm, mùi vị, xúc động và pháp ý mà bố thí, thì phước đức không thể suy tính đo lường nơi cõi hư không về phương Đông, phương tây, phương Nam, phương Bắc, hoặc bốn phương kế cận, phương "Thượng" và phương "Hạ".



Tâm bố thí mà "không không", không trụ vào "hình tướng", không cố chấp, thì phước đức cũng không ranh mé, khoa bói toán số, y như vậy. Đức Phật lại dạy, rằng: Phật là cái "chân như" Như Lai, là chẳng vọng động "bổn lai", chớ không phải thân của "hình tướng" là Phật. Cũng như Ngài không có cố chấp cái quả chi là Vô Thượng "Chánh Đẳng Chánh Giác", và cái pháp chi là cần phải thuyết và Ngài không cố chấp bốn "hình tướng" của tâm. Chỉ bằng "Chân Như" và "đại định" thôi Ngài không cố chấp chứng đắc đạo quả chi hết, là vì tâm của Ngài đã thật giải thoát trọn vẹn, không còn dính mắc vào đâu cả. Nên Ngài gọi rằng: dứt bốn "hình tướng" ấy tức là thành Phật, phước đức lớn hơn hết. Cũng như "cái thật" là cái không có hình tướng, "cái nhiều" là cái chẳng suy lường, "cái lớn" là cái không xem thấy, "cái có" là cái không giữ gìn, "cái không" hư hoại là "chân-như" vũ trụ, cái ấy mới gọi là cái của bậc giác ngộ, Phật, là tâm của Phật, chân tâm , không vọng.
2. Kìa như trong "Tâm Kinh", bài học kinh nghiệm của tâm, trong cái "chân không", không có cái mực trung, không "vọng-động", thì đâu có chi là "cái có" hay "cái không" cái sắc thân, thọ cảm, tư tưởng, hành vi, "thức trí hiểu biết" của ngũ uẩn; cái tâm đã nhập định trong "Chân-Như", thì trong đó đâu có "cố chấp" biết gì: sanh, già, bịnh, chết, sáu "lục căn", sáu "trần lao", sáu "cái thức", khổ, tập, diệt, "đạo"; như vậy thì đâu còn cái pháp gì vô minh! Đâu có cái trí, cái đắc mà mong muốn Niết Bàn.
Vì bởi tâm nhập định "Chân-Như" tức là: Niết Bàn Phật rồi ! Giác ngộ như thế, nên không còn chi tìm cầu mong muốn cả; ba đời chư Phật cái tâm đều y như vậy, nên mới thành Phật. Ấy là cái trung tâm, trụ cốt, chỗ đến, đặc điểm của tất cả chúng sanh đó.
3. Lại như trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đã giảng dạy cho ông A Nan, rằng: "đèn" chẳng qua là cái phô bày sắc tướng ra được, mà không phải thấy được. Cái thấy được "sắc tướng" ấy là mắt vậy. Cũng như con mắt là cái phô bày "sắc tướng" ra được nhưng thấy được sắc tướng ấy là "LÒNG", chớ không phải con mắt thấy được. Ngài gọi rằng hết thảy chúng sanh không thành được chánh giác, và cũng không thành được A La Hán, đều bởi "khách quan" của "trần gian" nầy, làm cho lầm lạc. Vì "khách quan" của "trần gian" ví như người đi đường, đói ghé quán cơm, đêm tối đến vào tiệm ngủ, ăn và ngủ nghỉ xong rồi lại ra đi nữa. Nếu không đi đâu cứ ở tại nhà mãi, ấy là chủ nhà ("chơn"), mà bởi không ở lại, mới kêu là khách (vọng). Còn "trần gian" nghĩa là bụi. Như ban mai mặt trời mọc, ánh sáng rọi vào những lỗ trống trong nhà, thấy bụi bay xao xuyến, đầy giữa không. Nhưng hư không vẫn lặng im (chơn), còn bụi cứ xao xuyến (vọng). Bởi nó "xao xuyến" mới kêu là "bụi".
***
Chú ý, rằng: nơi trang 29 của "chơn lý": NGŨ UẨN, Tổ sư Minh Đăng Quang đã nói đến hai chữ "khách quan" và "chủ quan" !
Khi ấy Phật bèn giơ tay, rồi nắm lại, xòe ra, Ngài hỏi với A Nan, rằng: "Ngươi thấy gì không ?"
Xin thưa: thấy Phật giơ tay lên, rồi xòe ra, nắm lại.
Tại bàn tay (khách) của ta xòe ra, nắm lại, hay tại cái thấy (chủ) của ngươi có xòe ra nắm lại?
Cái nào "vọng động" và cái nào "thanh tịnh" ?
Bàn tay của Phật là động (vọng). Cái thấy của con là tự nhiên (chơn), không có cái tên : thanh tịnh thay ! huống chi lại có cái tên: hành động.
Phật khen rằng: phải.
Bấy giờ Phật lại giơ tay chỉ về phía hữu. A Nan quay đầy ngó phí hữu, Phật lại chỉ qua phía tả. A Nan quay đầu ngó phía tả. Phật bèn hỏi rằng:
A Nan, đầu người tại sao day động?
Tại thấy Phật chỉ hai bên, tôi ngó qua ngó lại, cho nên đầu mới day động.
Tại cái đầu của ngươi động, hay tại cái thấy của ngươi động?
Cái thấy CHỦ vẫn tự nhiên (chơn) , tại cái đầu KHÁCH nó day động (vọng).
Phật khen rằng: phải.
Bấy giờ Phật bảo hết thảy tăng chúng rằng:
“Cũng có người biết cái xao xuyến ấy là bụi, mà chưa hiểu cái hư không đựng chứa bụi ấy nó vẫn yên lặng tự nhiên; biết kẻ không ở lại ấy là khách, nhưng không biết người dung nạp khách, ấy là chủ nhà, không dời không đổi.
Vậy các người hãy xem cái đầu của A Nan, tại nó day động, và bàn tay của ta nắm lại, xòe ra, những cái THẤY nó vẫn tự nhiên, không có chút gì thay đổi.
Cái tự nhiên yên tịnh không đổi không dời ấy, chính là cái chơn tâm của các người vậy. Cớ sao các ngươi quên mất cái đó, lại nhận cái sống chết làm mình, cái biến đổi làm cảnh, mà phải luân hồi mãi trong vòng sanh diệt vô thường? Ấy cũng bởi các ngươi tự mình chuốc lấy mà thôi ".
Như thế tức là đức Phật dạy bảo chúng ta nên hãy nhận ra cái chơn như võ trụ đạo đức không vọng động, không không vắng lặng, tự nhiên chơn thật, làm tâm, làm trung tâm trụ cốt chỗ đến; kìa như cái biết của ta nó cũng vốn là tự nhiên không vọng động, và từ nơi tự nhiên không vọng động, có sẵn từ lâu, tự hồi nào, chớ nào phải mới có hiện tại đây. Vì nếu không có trước kia, thì bây giờ đâu có. Sỡ dĩ trước kia nó chưa xuất lộ ra, chưa tập thành tướng, là chính nó đang ở ẩn trong các pháp chúng sanh vạn vật đó thôi, nên gọi là cái sống biết linh, có sẵn nơi chúng sanh vạn vật các pháp, vốn là tự nhiên ở trong võ trụ, thế nghĩa là cái biết của chúng sanh đã có, đang có, sẽ có, chớ chẳng phải không. Nó là cái có sanh ra, có sẵn, ở trong võ trụ hư vô chơn như đạo đức. Và cũng là chơn như đạo đức võ trụ hư vô, đang có sẵn ở trong mỗi cái.
***
Bởi đó nên lắm kẻ gọi chơn như là chúa tể các pháp, là tâm của chúng sanh, là chỗ đến của tất cả, là cái Phật của bậc giác ngộ. Người ta cũng nói chơn như là ngọc đế, là cao thượng đế, nghĩa là chơn như là pháp qúy báo như viên ngọc, là pháp cao thượng hơn hết, đế nghĩa là thẩm xét: cao thượng đế nghĩa là pháp thẩm xét cao thượng hay ngọc đế là pháp thẩm xét quý báo như châu ngọc, pháp ấy là chơn như. Đế cũng nghĩa là đề, đề là nắm lấy dẫn lên. Ngọc đế Thượng đế là pháp chơn như, qúi báo cao thượng, làm chủ nắm lấy chúng sanh dắt dẫn đem lân. Đế cũng nghĩa là bình luận, đề mục, nêu lên, đề là cái trán, đầu đề, nên gọi Ngọc đế, Thượng đế là cái chơn như qúi báu cao thượng, như cái trán trên cao, như cái pháp để nêu lên, là vấn đề bình luận, cũng là đầu đề, đề mục, của chúng sanh câu chuyện. Thế nên gọi chơn như là pháp tạo tâm hoá trí cho chúng sanh, tạo hoá của chúng sanh. Tất cả chúng sanh mà được tiến lên, là nhớ ngó ngay nhìn nó. Nên gọi chơn như là thầy, là cha mẹ, là vua chuá, chúa tể, Phật hay Ngọc hoàng, thượng đế là nó, nó là pháp lý, danh từ, chớ không phải riêng ai cả.
Người ta cũng gọi võ trụ, là chơn như không không im lặng tự nhiên, tự nhiên là Phật, còn không không ấy là trời, cái trời chắc thật, còn vạn vật, chúng sanh, các pháp có có, xao động là đất, cái đất thay đổi. Ấy là lý ông trời, bà Đất của nhơn loại chớ không phải người nào.
Như thế nghĩa là trời đất đây là giáo lý. Còn ông Tiên, ông Phật là bậc ở núi không không, và bậc giác ngộ, chơn như tự nhiên, cũng ở trong trời đất võ trụ, chớ không phải ở ngoài chỗ nào nữa.
Trong cái tự nhiên chơn như là gồm cả có và không, trời, đất nuối sống sanh sản, tạo hóa đủ cả sống, biết, linh, chúng sanh vạn vật các pháp, vậy nên những ai lấy nó làm tâm, giữ đúng tâm chơn như, thì sẽ tức mình là vũ trụ, Phật, Ngọc hoàng, Thượng đế, chúa tể, tạo tâm, hoá trí cho cả chúng sanh.
Thế mới biết rằng: chơn như vũ trụ là đạo vĩnh viễn bền dài, và dung chứa tất cả, kêu là đức. Nghĩa là giáo lý của nó là tích chớ không phải tiêu, tức là chứa chớ không phải chấp không, không làm. Khác nào, trong thế gian, không có vật gì bỏ cả. Các pháp tốt xấu đều dùng được theo mỗi việc. Các chúng sanh tội lỗi cách nào cũng có chỗ hay. Giáo lý nào cũng ích lợi v.v...
Ví như có kẻ kia nói rằng: Ta không tin một ông Thượng đế, một ông Phật giúp nên ta, ta không tin được khoa học vật chất làm ta được hạnh phúc, nghĩa là ta phải tự tin lấy ta, tự thành công ở nơi ta, tự ta tạo thời thế! Kẻ ấy hiểu như thế mà cho là đạo Phật thì kém hẹp, thiếu sót chăng? Vì tự mình, cái tự mình không làm sao được. Kià ! nào ai thấy bụi bám "đóng" sau lưng chính mình, nào ai vói tay tới sau lưng, nào tự mình sống và biết, mà không phải là đang nhờ nơi tất cả cỏ, cây, thú, người, Trời, Phật, tứ đại, vũ trụ ? (trang 824) .Thế ấy, mới hay và biết, rằng: tự mình là chưa đủ, vì tự đắc, tự tôn, tự đại, tự kỷ, tự ái, tự cao, cái tự tôn, tự lập ấy, khác với "Phật lý" là "Thế Tôn", chúng sanh, trần thế tôn vinh Ngài: "Người ta tôn mình, tốt hơn là mình tự tôn, tự đại". Vả lại, cái “tự mình” tiếng ấy là một phần tử nhỏ, chiết ra từ trong cái tiếng “ta”, ta là chúng ta, là toàn thể tất cả trong vũ trụ. Thế thì người ấy phải nên dùng chữ ta mới đúng, vì cũng có tự mình, cũng có Phật, Thượng đế, cũng có khoa học vật chất, cũng có tất cả chúng sanh vạn vật các pháp võ trụ hiệp lại giúp nên mới được cái ta chứ!
Kìa như một câu nói khiêm nhượng nghe như êm ái làm sao!
Người nọ nói rằng: Việc mình thì quáng, việc người thì sáng, nhiều người giúp mình hơn một mình mình! Hay là câu nói: có mình mà cũng có người. Chính câu ấy mới đúng sự thật mỗi ngày. Vì thế nên gọi chơn như là tích. Nhưng tích mà không chấp, và bởi tích mà không chấp, đều có kẻ tạm gọi là tiêu. Cũng như giáo lý của Phật là xin học, tài thí pháp thí trao đổi, sống chung cho nhau, ai cũng đang sống cho nhau mới được, ai ai cũng là đang xin và học của nhau. Ngài gọi rằng: không có cái gì là tiêu bỏ cả. Chỉ tiến tới, qua khỏi, lên lớp, giải thoát, vượt ra, không cố chấp bảo thủ ích kỷ một mực cho mình, khi mình qua khỏi là để lại cho tới phiên kẻ khác nữa đi sau, sự không cố chấp ấy, tạm gọi là tiêu vậy, tiêu của mình, mình dùng rồi bỏ qua một bên, là để cho kẻ khác dùng, chớ không phải đi qua rồi cuốc lộ phía sau, hay ăn dư liệng bỏ, làm đói kẻ khác để phải mang tội hủy hoại. Như thế nghiã là trong trần thế không có cái chi tiêu hủy cả, chỉ có cái thay đổi đi từng lớp tiếp nhau thôi. Cũng như con đường đời, bàn chân ta trãi qua rồi, là người khác sẽ bước đến! Đối với mình là tiêu bỏ đi qua, đối với kẻ khác là tích dùng sẽ đến. Đó tức là chấp cùng vô chấp.
Nhưng đối với giáo lý hoàn toàn thì dung hòa gồm cả, biết dùng hết, tùy theo duyên, có lấy có bỏ, chớ không thiên vị, lấy cáo nào, bỏ cái nào, ấy mới gọi là pháp tánh bình đẳng vô tranh; pháp ấy mới gọi là pháp Phật của bậc giác ngộ cho.
Thật vậy, pháp nào cũng ở trong chơn như võ trụ nuôi chứa, ta đâu có lấy hay bỏ pháp nào mà đặng. Bởi không lấy hay bỏ ấy, mới gọi là giác ngộ đó, thế nên chơn như là vạn pháp, ở trong vạn pháp sanh ra; hay gọi vạn pháp là chơn như, ở trong chơn như, chơn như sanh ra. Nó vẫn nướng sanh lấy nhau, để đem lại sự giác ngộ cho chúng sanh; nó như viên đe và cái búa, đập nhau, sanh ra tiếng tăm, ánh sáng, hình tượng để cho chúng sanh nhìn nhận.
Vậy thì chơn như là tích, các pháp là tiêu, có hai bên bờ sông có cao có thấp, có có, có không, có trời đất, có chơn, có vọng. Mới có sự giác ngộ của con người. Do đó mà chúng sanh trước hết phải bỏ cái nầy, lấy cái kia, sau khi được kia rồi, là sẽ đến mực giữa để dắt dẫn lại kẻ sau cho đi tới. Cái giữa ấy mới đúng là chơn như đạo đức, qua khỏi cái chơn, không còn chấp chơn mới thật là chơn. Cũng như cái trí qua khỏi cái Phật, thì tâm mới là Phật, bởi con mắt phải đi trước xa hơn bàn chân một bước.
Như thế thì Phật là tâm chơn. Đạo Phật là con đàng đi đến tâm chơn. Phật độ chúng sanh là chỉ tâm chơn cho mọi người, dìu dắt tâm người đến chơn như, khuyên mọi người lấy chơn như làm tâm, và chơn như mới thật là tâm, của tất cả chúng ta y như một, có một. Chính nó sẽ là hột giống vĩnh viễn trường tồn, của sống, biết, linh đó.
Vậy thì chơn như võ trụ là vẫn đang tự nhiên, khi nào những pháp trí vọng động của thế gian, không có xao xuyến, thì cả thảy là chơn như. Pháp trí của thế gian không vọng động xao xuyến, là do sự đứng ngừng tất cả sự vật, tất cả sự đứng ngừng là do không tà ác. Vậy muốn không tà ác, thì trong đời phải chánh thiện là trì giới, trì giới là đứng ngừng mọi việc, đứng ngừng, nhập định thì các pháp không xao xuyến vọng động, gọi là đã diệt trừ trí huệ, thì cả võ trụ là chơn như mà thôi. Sự thật đúng như vậy, tánh của ác tà là thiện chánh trì giới, tánh của thiện chánh trì giới là thanh tịnh nhập định, tánh của nhập định thanh tịnh là diệt độ trí huệ, tánh của diệt độ trí huệ là chơn như. Chơn lý đã sẵn như thế! Cũng như thân ta vốn chẳng chịu dơ bẩn.
Khi trong sạch, không ưa xao xuyến, không xao xuyến, thì trí chẳng chấp chứa cái gì, bởi nhờ không chứa chấp, nên tâm không vọng động, đồng thời với võ trụ chơn như là một. Đó là phép tu học của chúng ta, hay sự giác ngộ con đường sanh tử của chúng sanh tất cả. Ngoài lẽ thật chơn lý, chánh lý ấy ra, tức là chúng sanh đi lạc nẻo đến rất xa, còn phải biết bao nhiêu khổ sầu tai họa bởi nơi các lối yêu ma giỏi thân hay trí, đọa phạt, tâm chơn vô lý.
Vậy thì sau khi giác ngộ chơn như, chúng ta phải cố thật hành những pháp nào để bảo giữ chơn như ấy. Vả chăng chơn như có ra là do trí huệ đoạn diệt, trước phải đoạn diệt các sự chấp lầm của pháp bên ngoài và nên biết rằng: các pháp ấy là mượn tạm, các pháp có ra như chiếc bè, để đưa ta tới bến bờ chơn như thôi, vậy không nên chấp pháp! Ví như bố thí là để đến chơn như, nhẫn nhục cũng đến chơn như, tinh tấn đệ đến chơn như, trì giới cũng đến chơn như, thiền định để đến chơn như, trí huệ cũng đến chơn như; hết thảy các pháp là để giữ gìn chơn như, giác ngộ chơn như, tập tâm chơn như cả, thế nên muốn đến chơn như, là phải đủ đầy trí huệ, đoạn diệt lầm mê cám dỗ che đậy, như vậy là trước hết phải đoạn diệt cái sở chấp thân, phải không màng sợ bịnh, dứt ngăn ý dục, và không lưu luyến các pháp. Hoặc là trước phải tập làm việc bố thí, tập nói lời dịu dàng, năng tìm những sự ích lợi, để cho chúng sanh mau tấn hóa đến nẻo chơn như, phải thường cộng với người, đặng diệt trừ ý dục, tư kỷ v.v...
Hoặc phát nguyện độ đời, hoặc phát lòng từ bi hỷ xả, hay giữ chánh pháp thiệt lớn tròn, đủ cả các pháp lớn nhỏ chậm mau, việc gì cũng là để hồi hướng đến ngay chơn như, cũng là của trong chơn như, ta người đều phải đến ngay chơn như cả thảy, đó mới gọi là pháp Phật. Phật pháp là chơn như, pháp giải thoát, trong sạch, không ô nhiễm, là pháp giác ngộ, không sai lạc, chẳng đắm trần. Kìa như vị Kim Cang đại sư, chơn như đại định dưới cội bồ đề chánh giác, ngó tranh xoi lủng gối, quạ làm ổ trên đầu, mà Ngài cũng không lay động, do đó mà giải thoát đác đạo. Ngó tranh tức là dòm ngó tranh đua của kẻ thế gian, khi thấy các nhà tu yên định tự nhiên theo lẽ chánh giác, thì chỉ trích xoi xỉa, khiêu khích, làm cho người tức tối đớn đau mà đứng lên đi chạy theo thế tục với họ. Còn quạ làm ổ trên đầu, là trong khi để tâm yên định, thì tự nhiên xét thấy ra tai họa xảy đến, người dữ gieo vào, nhưng người cũng không núng nao lo sợ, loạn tâm thôi tu bỏ đạo, do đó mà gọi là Kim Cang đại sư vậy. Kìa như đức Phật có những tên: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn, Sĩ Trung Thắng, Thiên Thượng Tôn, v.v... Cả thảy các danh pháp, có ra cũng đều do chơn như bổn gốc.
Lại như kinh luật luận, hay Tam thừa giáo lý, phương tiện thiện xảo, từ thấp tới cao, cũng là để đem lại chơn như cho từng bực.
Nầy là bồ Tát Thánh, Bích Chi Thánh, A La Hán Thánh, hay Bồ Tát, Duyên Giác, Thinh Văn Thánh đã đắc lục thông ba bậc trên. Bồ Tát, Duyên Giác, Thinh Văn, xuất gia khất sĩ lớp giữa Bồ Tát, Duyên Giác, Thinh Văn, tại gia cư sĩ, ba hạnh dưới chín phẩm ấy cũng đang tu học giáo lý chơn như có một.
Cũng như trẻ nhỏ đến người lớn, tới ông già, ông già sẽ hưu trí nín nghỉ, chết lần không nói làm vọng động, ấy tức là chơn như.
Còn thú, cái cây, cọng cỏ, đồ vật, cái chi cũng có ba thời kỳ, sau chót là đến chơn như, ai cũng sẽ gặp chơn như, những kẻ nào sớm giác ngộ và vui hạp, không cố cưỡng, là sẽ sớm được yên vui, kết qủa, tránh khỏi qua những thất bại khổ đau. Vì vậy nên gọi là chơn như tế độ, chơn như là bà mẹ lành, là bàn tay cứu vớt ủng hộ cho tất cả chúng sanh, những ai dễ dạy, hiếu thảo, biết ngó nhìn thương yêu mẹ, không lãng quên, ố nghịch, là sẽ toại ý vui lòng, hạnh phúc cao trên hết, thật vậy, những kẻ chúng sanh nào, dù mắt phải ở trong địa ngục, ngạ qủi, súc sanh, mà khi giác ngộ gặp biết chơn như, hết lòng cung kính, lễ bái trì niệm, khác nào cúng dường trì niệm hầu hạ tất cả chư Phật ba đời, nhờ phước đức ấy mà thoát khỏi các nạn khổ, và sẽ đắt Niết Bàn trọn vẹn. Thế nên gọi chơn như là bửu pháp vô giá, qúi báu thần thông, oai lực rất nhiệm mầu. Chơn như ví như mặt trời cao, đối với chúng sanh cát bụi thấp dưới, ai ai nhô đầu ngước mắt, thọ hưởng ánh sáng của chơn như, là sẽ được cái sống, biết, linh hoàn toàn cử động, trở nên lợi ích, qúy báo vô cùng, sáng rỡ vô lượng.
Lại người ta cũng gọi rằng: chơn như là khí thở, vì không khí thở, thì ai ai cũng sẽ chết, chơn như cũng ví như mặt đất, kêu là Phật địa, Phật tâm. Nó sẽ dung chứa sanh sản tất cả, tất cả đều đang ở nơi nó nên gọi chơn như là xứ Cực Lạc, là chổ đến tột vui, là miếng đất trong sạch trang nghiêm, là ngôi nhà ấm kín, nó như áo mặc của người như cơm ăn nước uống như bà con quyến thuộc v.v...
NÓI TÓM LẠI: Không một ai thiếu sót "Chân-Như" được ! Vì giờ phút nào ta lãng quên nó, ấy là phút khổ loạn, mà khi nhớ lại, thì sẽ định vui liền.
Bởi thế nên kẻ đã giác ngộ, không còn ai dám lãng quên, xa lìa với "Chân-Như", vì nó là sự thành tựu của tất cả.
"Chân-Như" là phương pháp an ủi, cứu độ tất cả chúng sanh.
"Chân-Như" là phương pháp rốt ráo không ở trên không trung. Cũng như khi xưa Phật đã hỏi với các vị "Tiên" tu ở trong rừng: Pháp tu nào mới diệt được cái ta phàm tục, để dứt luân hồi sanh tử, khổ?... Thì các ông ấy không ai trả lời được. Sau đó đức Phật mới giác ngộ "Chân-Như", trong khi nhập định dưới cội bồ đề chánh giác, Ngài thấy rõ được "Chân-Như" là vô ngã, không ta ! Hay có thể nói rằng: "Chân-Như" chính thật là: "Chân-Ngã"; mang ý nghĩa "bản ngã" của sự "chân thật" ! Vì thế mà Ngài dạy rằng: "Chân-Như" là chánh pháp, chánh lý, đạo tâm của chúng sanh, hay đạo tâm ấy là đạo Phật. Vậy thì những ai tu học "Chân-Như", tức là tu học với tất cả vạn pháp rồi...! Bởi vạn pháp là "Chân-Như" ánh sáng, túa ra, mà người đã đến được với "Chân-Như", ấy là vạn pháp đã ở nơi mình, tự mình túa ra, chớ không còn nương theo vạn pháp. Phải hiểu rằng: "Chân-Như" là của sự tự nhiên và thiên nhiên, chớ không phải có hoặc không, hay trung.
Hiểu như vậy, "Chân-Như" rất quý báu, vì đi theo bao nhiêu ánh sáng, là cũng chỉ đến một mặt trời "Chân-Như" đây thôi.
Ai ai cũng đang có "Chân-Như", có trong mỗi niệm và cả thảy đều sống trong "Chân-Như".
Vậy chúng ta nên phải đến với mục đích của đạo đức đại đồng vũ trụ chân như.
Tổ sư Minh Đăng Quang

 
(Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn !)
(Meditation, be still is, looking at the swastika!)
@@@

"Bấm vào chữ Dịch bên dưới" !  <= (mở trang nầy! trước khi Dịch! đã có liên kết trang!)
( Hãy bấm  quay trở lại ! Sau khi đã copy bản dịch hoàn chỉnh !) (Copy văn bản dán vào ô Dịch)
Tiếng Việt
Tiếng Anh
Tiếng Pháp
Phát hiện ngôn ngữ

Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Trung (Giản Thể)













Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét