Thứ Tư, tháng 1 01, 2014

68. Luật giới & Bổn phận của Ni Sư ; Morality & Duty of Nun

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 68
Practice self-taught English translation: No. 68
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 

Luật giới & Bổn phận của Ni Sư 
 Morality & Duty of Nun
( Trang 205-235; Paes 205-325 )
Tứ Phần Luật Tỳ Kheo Ni: 348 Giới Luật
Four parts Bhikshuni Law: 348 Precepts
Tỳ Kheo Ni, nữ Khất Sĩ trong ngày rằm và ba mươi của mỗi tháng, phải tựu họp lại, học giới luật, không được vắng mặt, mỗi lần đọc phải từ bốn vị sắp lên (một Tăng chúng là bốn vị, một giáo hội là hai chục vị Ni.) ; Nuns, female mendicant in the fifteenth day of each month and thirty, have gathered achievements, school discipline, not absence, each reading must be between four and upward (a Sangha is four, a teacher Assembly is twenty nuns.)
Sa-di tập sự phải đi ra. ; Novice apprentice must come out.
Ai vắng mặt, phải có người thay lời. ; Who is absent, there must be people instead of words.
Chư vị Tỳ Kheo Ni phải tựu đủ. ; Bhikshuni you have enough achievement.
Vị thượng tọa nói: Ngay hồi "sanh tiền", đức Phật có dạy chư Tăng, Ni, phải họp mặt nhau một tháng hai kỳ, để khuyên răn sám hối với nhau, mà giữ gìn đạo hạnh, chúng ta cúi đầu, để tôn trọng Phật, Pháp, Tăng. ; Venerable says: Even in "pre-born", the Buddha taught the monks and nuns, have gathered together semimonthly, to admonish penance together, but keeping virtue, we bow our heads, to respecting the Buddha, Dharma and Sangha. Nay chúng ta hội lại theo lệ cũ, mà chúng ta khéo giữ gìn, để bảo tồn chánh pháp luôn luôn. ; Now we are meeting again under the old rules, which we cleverly preserve, to preserve the Dhamma always.
Giới luật thật là mênh mông, mênh mông như biển cả, thật là quí giá, quí giá hơn cả vàng bạc, mà người ta hằng tiềm tòi, quán xét, chẳng biết mệt nhọc. ; Real discipline is vast, vast as the sea, it is precious, more precious than gold and silver, which one constant potential research, introspection, not knowing weariness. Ấy vì, muốn bảo tồn cái kho quí, của giới luật Phật; nên chúng ta họp nhau lại đây ! ;  Because, you want to preserve the warehouse, the precepts of the Buddha; Should we gather back here! Vậy các chư Ni hãy nghe đây, để khỏi phạm giới to hoặc nhỏ, và các ngài: Chư Phật Tỳ Bà Thi, Thích-Khí, Tỳ Xá, Ca La Tôn Đại, Câu-Na-Hàm Mâu Ni, Ca Diếp, Thích Ca Mâu Ni và các Ngài đại từ đại bi. ; So the nuns listen up, to avoid transgression big or small, and they: Buddhas Vipassī , Thich-Khi, Vaisali , Ca-La Ton-Dai, Cau-Na-Ham Muni, Mahakasyapa, Sakyamuni and his compassionate. ;  Đáng cho chúng sanh sùng bái, xin các Ngài giúp cho tôi nói, tôi muốn nói những điều tôi phải nói và các chư Ni hãy nghe những lời của người quá khứ ở nơi tôi: ; Worthy of being worshiped, please can you help me to say, I want to say what I have to say, and the nuns who hear the words of the past in my place:
Thiếu chân, không đi được, cũng như thế, thiếu luật, không lên cõi thượng thiên được. ; Missing legs, could not walk, so, too, lack of laws, not to celestial realms. Ai muốn sanh lên cõi trên, ngay kiếp nầy, phải giữ giới luật cho kỹ càng, vì nó là chân của mình, đưa mình đi. ; Who wants to arise on the plane, even their lives, to keep to the rules carefully, because it is her legs, put her away.
Tên mà đánh xe, khi qua truông, thấy mất : "cái chốt" ở bánh xe, hay thấy "cốt" xe gãy, thì nó rầu. ; The name that the coachman, when the last scene, find lost: "peg" on wheels, or see "core" broken car, it morosely. Kẻ mà phạm giới luật cũng thế, đến giờ chết, thì rầu lắm. ; Whom the rule violation as well, until now dead, really sad. Soi gương vui hay buồn, là tùy ở mặt mình tốt hay xấu, đọc giới luật cũng như thế, người nghe vui hay buồn, là do nơi mình có giữ giới luật hay phạm giới luật. ; Mirror happy or sad, depending on his face is good or bad, read the rules and the like, the listener happy or sad, is where I abide by the precepts or rules violations. Hai bên nghịch giao chiến, bên nhát thối lui, cũng như thế ai trong sạch thì vững bụng, ai lầm lỗi phải sợ, lo. ; The two sides fighting against, the shy regress, neither does one clean the abdomen, one mistake to fear, worry. ; Ông vua hơn mọi người, biển cả hơn các thứ, như ngòi, rạch, mặt trăng hơn các ngôi sao, đức Phật, hơn các Thánh nhân, hiền tài , cũng như thế: giới luật đọc hôm nay hơn các giới luật khác. ; King over people, over these seas, such as canals, ditches, and the moon over the stars, Buddha, than the Saints, talented, well like: read today rules over the other rules. Vậy nên Đức Phật của chúng ta, có lập cái lệ nầy mà không ai được bỏ qua, mỗi kỳ nửa tháng phải đọc "Luật giới và Bổn phận của Ni Sư" một lần.So our Buddha, has established the rules that none of this is ignored, each half-month period must read "Morality and the duty of Nun" once.
Vậy thì bạch các Ni Sư! Tôi xin đọc "Luật giới & Bổn phận của Ni Sư", hãy nghe cho kỹ! Hãy xét cho kỹ! ; Then the nun transparency! I would read "Morality & duty of Nun", listen carefully! Consider carefully! Ai thấy bản thân mình, phạm phải khai ra, còn ai biết rằng bản thân mình vô tội cứ lặng thinh. ; Who saw myself, the declaration committed, and who know that innocent myself on mute. Các Ni Sư mà nín, tôi kết luận rằng ai nấy đều trong sạch, dầu tôi có hỏi chung cũng cầm bằng hỏi riêng từng người. ; The nun that hold, I conclude that they all clean, though I have also asked general questions held by individual persons. Ai có tội, khi hỏi qua ba lần mà không trả lời, người ấy sẽ vi phạm, giới luật "vọng-ngữ". ; Who is guilty, when asked three times without reply, she would be guilty, precepts "hope-term". Phật dạy rằng: Ai đã "vọng-ngữ" mà chẳng khai ra, không thể nào tấn tới về đạo đức, chúng ta nên tránh chỗ tai hại đó. ; Buddha taught: Who has "expectations-term" without opening up, could not attack to morals, we should avoid such disastrous place. Ai còn phạm điều gì, và có muốn thanh tịnh trở lại, cứ khai ra…rồi sẽ được an tâm và vui vẻ, vậy tôi xin đọc đoạn vô đầu: ; Who also committed anything, and want pure back, if carried out ... and then will be relieved and happy, so I would read the very beginning:
Tứ "Y-Pháp Bảo"
Quartet "Robe-Dharma"
1.NHÀ SƯ KHẤT-THỰC: phải lượm những vải bỏ mà đâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải và đồ cũ thì được nhận.
2. NHÀ SƯ KHẤT-THỰC: chỉ ăn đồ xin mà thôi, những ngày hội, thuyết-pháp, đọc Giới-Bổn, được ăn tại chùa.
3.  NHÀ SƯ KHẤT-THỰC: phải nghỉ dưới cội cây, nhưng nếu ai cúng lều, am nhỏ bằng lá, một cửa thì được ở.
4. NHÀ SƯ KHẤT-THỰC: chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có ai cúng thuốc, dầu, đường thì được dùng.
BÁT-KÍNH-PHÁP
1.     Ni-cô bao giờ cũng lễ bái chư Tăng (dầu cho lớn tuổi thế mấy cũng vậy).
2.     Ni-cô không được phép trách mắng rầy rà nói hành chư Tăng.
3.     Ni-cô không được phép xen vào việc ưng oan của chư Tăng.
4.     Ni-cô tập sự hai năm, nếu muốn vào hàng xuất-gia thiệt-thọ phải có Giáo-Hội chư Tăng chứng nhận.
5.     Ni-cô nếu phạm giới phải sám-hối giữa hai Giáo-Hội nữ và nam.
6.     Ni-cô phải nhờ Giáo-Hội chư Tăng chứng-minh đọc Giới-Bổn mỗi kỳ nửa tháng.
7.     Ni-cô không được tựu hội nghỉ mùa mưa ở một xứ không có chư Tăng.
8.     Ni-cô phải nhờ chư Tăng sắp đặt chỗ nơi hành đạo, khi dứt mùa mưa.
TỲ-KHEO NI 348 GIỚI
A.- TÁM ĐẠI GIỚI “TRỤC XUẤT”
1.     Cấm dâm dục.
2.     Cấm trộm cắp.
3.     Cấm sát sanh.
4.     Cấm nói láo.
5.     Cấm rờ, đẩy, kéo một người đàn ông.
6.     Cấm đến gần, hoặc hẹn hò với một người đàn ông.
7.     Cấm dấu tội nặng của một Ni-cô khác.
8.     Cấm a-tùng theo một Ni-cô khác phạm đại-giới.
Bạch các Sư-Ni, tôi vừa đọc xong tám đại-giới, chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?
(Hỏi 3 lần)
B.- MƯỜI BẢY GIỚI TỔN HẠI TĂNG TÀN “GIÁNG CẤP”
1.     Cấm làm mai cưới gả, sự hẹn hò.
2.     Cấm cáo gian cô khác một tội gì mà không có.
3.     Cấm nghi quấy cô khác một tội gì mà không có.
4.     Cấm kiện thưa đến quan chức.
5.     Cấm cho nhập đạo một người phạm tội đáng chết.
6.     Cấm binh vực một cô phạm đại giới.
7.     Cấm đi xa một mình.
8.     Cấm vì ý riêng, lãnh của đàn ông những thức cần dùng.
9.     Cấm vì ý riêng, mượn kẻ khác lãnh thế của đàn ông những thức cần dùng.
10. Cấm dùng cách nầy, thế kia mà phá sự hòa-hợp ở Giáo-Hội.
11. Cấm bênh vực kẻ phá sự hòa-hợp ở Giáo-Hội.
12. Cấm không nghiêm, làm quấy ác cho kẻ khác bắt chước.
13. Cấm cưỡng lý, khi làm quấy mà chẳng chịu nghe lời khuyên bảo.
14. Cấm giấu lỗi một cô khác vì tình thân.
15. Cấm đốc xúi những cô khác, bảo đừng nghe Giáo-Hội.
16. Cấm đốc xúi những cô khác hườn giới.
17. Cấm gây gổ và phiền trách Giáo-Hội.
Bạch các Sư-Ni tôi vừa đọc xong mười bảy giới tổn-hại vậy chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?                                                                                                                      (Hỏi 3 lần)
C.- BA CHỤC GIỚI PHÁ SỰ THANH-BẦN “CẤM PHÒNG SÁU BỮA”
1.     Cấm cất dư chăn áo quá mười ngày.
2.     Cấm bỏ rơi chăn áo trong một đêm.
3.     Cấm để dành vải quá một tháng.
4.     Cấm hỏi xin áo nơi người thí chủ, trừ khi thắc ngặt.
5.     Cầm nhận nhiều chăn áo quá bộ, trừ khi thắc ngặt.
6.     Cấm tự ý kiểu cắt may, khi có một thí chủ định sắm cho.
7.     Cấm tự ý kiểu cắt may, khi có nhiều thí chủ định sắm cho.
8.     Cấm nhận tiền để may áo và hối thúc Giáo-Hội phải may liền.
9.     Cấm nhận tiền bạc vàng hoặc bảo kẻ khác nhận thế.
10. Cấm buôn bán đồ quí báu.
11. Cấm buôn bán bất luận vật gì.
12. Cấm kiếm bát mới tốt nếu cái cũ còn xài được.
13. Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ, dệt áo cho mình.
14. Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình.
15. Cấm giận hờn mà đòi áo lại, khi đã đổi cho người rồi.
16. Cấm để dành thuốc, dầu, đường quá bảy ngày, trừ khi đau có người cúng.
17. Cấm lãnh áo trước kỳ, khi đến lệ còn hỏi nửa.
18. Cấm lấy lén một món gì của Giáo-Hội.
19. Cấm mua sắm đồ cho một người đàn ông.
20. Cấm dùng làm của riêng mình, món đồ mà người ta cúng cho Giáo-Hội.
21. Cấm dùng làm của riêng mình, món đồ mà một cô khác trao ra để giao cho Giáo-Hội
22. Cấm dùng đồ của thí chủ cho về việc khác, (dùng sái luật đạo không theo ý thí chủ).
23. Cấm nhơn danh Giáo-Hội mà sắm đồ riêng cho mình.
24. Cấm có đến hai cái bát để thay đổi.
25. Cấm chứa nhiều đồ tốt đẹp xuê lịch.
26. Cấm hứa cho một cô khác, vải bó rịt trong cơn đau mà không cho.
27. Cấm đổi lấy áo của thí chủ cho, chớ không lấy áo của Giáo-Hội phát, vì áo cho đó tốt hơn.
28. Cấm bất bình mà đòi áo lại, khi đã cho người rồi.
29. Cấm dùng may áo mùa Đông bốn xấp vải.
30. Cấm dùng may áo mùa Hè trên hai xấp rưỡi vải.
Bạch các Sư-Ni tôi vừa đọc xong ba chục giới phá sự thanh-bần, vậy chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?                                                                                                            (Hỏi 3 lần)
D.- MỘT TRĂM BẢY MƯƠI TÁM GIỚI HÀNH PHẠT “QUÌ HƯƠNG” 
1.     Cấm cho rằng phải một việc sái.
2.     Cấm chê dè làm cho người rủn chí.
3.     Cấm nói hai lưỡi đâm thọc làm cho người giận nhau.
4.     Cấm ở chung phòng với đàn ông trong một đêm.
5.     Cấm ở chung cùng người chưa thọ giới xuất-gia.
6.     Cấm tụng kinh chung cùng người chưa thọ giới xuất-gia.
7.     Cấm học tội của một Ni-Cô cùng người chưa thọ giới xuất-gia.
8.     Cấm khoe mình đắc đạo có phép thần-thông cùng người chưa thọ đại-giới.
9.     Cấm thuyết pháp với đàn ông năm sáu câu, mà không có đàn bà trí-thức chứng dự.
10. Cấm đào đất giết thác côn trùng.
11. Cấm đốn cây phá chỗ thần ở.
12. Cấm cãi nhiều lời làm cho người phiền nghịch.
13. Cấm dùng lời chế nhạo và thề thốt.
14. Cấm dùng đồ của chùa, mà bỏ hư bể.
15. Cấm dùng đồ của chùa mà không dẹp cất.
16. Cấm giành chỗ nằm của người khác, khi đi lữ hành.
17. Cấm đuổi hay sai đuổi khỏi phòng một Ni-Cô không hạp ý mình.
18. Cấm giăng mùng lót ván để cây rớt trúng người.
19. Cấm lấy nước dùng mà biết có côn trùng.
20. Cấm lợp tịnh-thất dùng đồ nhiều quá, chất nặng sập.
21. Cấm ăn nhiều bữa cơm trong một ngày, trừ khi đau.
22. Cấm vắng mặt buổi cơm kỳ hội (trừ cơn đau, đi xa, trai tăng, tởi áo).
23. Cấm lãnh đồ ăn nhiều mà không chia sớt cho vị khác.
24. Cấm ăn sái giờ, từ quá ngọ đến mai.
25. Cấm để dành đồ ăn đặng khỏi đi xin.
26. Cấm dùng và để vào miệng món chẳng phải của cúng dường.
27. Cấm cố ý làm cho mấy vị khác trễ quá giờ ăn.
28. Cấm ăn rồi mà ngồi nán lâu nơi nhà có đàn ông.
29. Cấm lãnh đồ ăn rồi mà còn ngồi lại chỗ kín, nơi nhà có đàn ông.
30. Cấm ngồi gần đàn ông chỗ chán chường.
31. Cấm oán ghét kiếm cớ làm cho vị khác bơ-vơ nhịn đói.
32. Cấm lãnh để nhiều thuốc.
33. Cấm xem diễn binh tập lính.
34. Cấm ở chung với quân binh hai ngày, trừ khi có lý cớ gí.
35. Cấm ưa thích tập tành ngựa, voi, quân binh đấu võ.
36. Cấm uống rượu men, các thứ rượu, á phiện, thuốc hút, trầu cau.
37. Cấm tắm rửa một cách quá tự-do và giỡn cợt.
38. Cấm lấy tay chơn đánh đá người.
39. Cấm bất tuân và khinh dễ lời quở trách can ngăn.
40. Cấm dọa nạt làm cho người ta kinh sợ.
41. Cấm tắm tới hai lần một ngày trong nửa tháng, trừ khi đau dơ nực.
42. Cấm vô cớ chụm lửa chỗ trống, trừ khi đau lạnh, đêm tối.
43. Cấm giễu cợt mà giấu, hoặc xúi giấu đồ của người khác.
44. Cấm lấy lén lại đồ đã cho người rồi.
45. Chẳng mặc dùng áo chăn đồ vải trắng (chẳng nhuộm xấu).
46. Chẳng uống nước có côn trùng.
47. Chẳng cố ý giết mạng thú vật.
48. Chẳng cố ý làm cho người buồn (mà không khuyên giải).
49. Chẳng dấu tội của một Ni-Cô khác.
50. Chẳng khiêu gợi sự rầy rà sau khi đã êm thuận.
51. Chẳng đi chung với gian nhân (đầu làng nầy tới làng kia).
52. Chẳng nói dâm dục, không ngăn trở sự thành đạo đắc quả.
53. Chẳng giao thiệp, đưa đồ, nói chuyện với kẻ nói sái quấy ấy.
54. Chẳng giữ tại chùa và để hầu mình kẻ nói sái quấy ấy.
55. Chẳng chối tội hay nói rằng chưa hay kẻ ấy sái quấy.
56. Chẳng nói phá rằng, đọc Giới-Bổn là phiền hà vô ích.
57. Chẳng chối tội nói rằng, tại mình không thuộc Giới-Bổn.
58. Chẳng nói Giáo-Hội nghị xử chẳng công bình.
59. Chẳng phá khuấy làm gián đoạn buổi hội nghị (đi vắng, đi ra ngoài).
60. Chẳng cản không cho thi-hành những điều Giáo-Hội đã quyết nghị.
61. Chẳng học đi học lại chuyện cãi lẫy sau khi đã êm thuận.
62. Chẳng giận, đánh một Ni-Cô khác.
63. Chẳng giận xô đẩy, vặn tay một cô khác.
64. Chẳng giận cáo gian một cô khác phạm giới tổn hại.
65. Chẳng vào cung vua thình-lình, không chờ đợi nghinh tiếp.
66. Chẳng lượm, sai lượm của quấy, vật bỏ rơi (trừ khi biết chủ mà giữ giùm).
67. Chẳng vào làng sái giờ (trừ ra có việc của Giáo-Hội).
68. Chẳng ngồi ghế cao, nằm giường rộng.
69. Chẳng dồn ghế, nệm, gối bằng gòn tốt.
70. Chẳng ăn tỏi, hành, hẹ, nén, kiệu, ngò.
71. Cấm bất tuân chẳng cạo chơn mày.
72. Cấm cười bậy.
73. Cấm nói chuyện thế tục.
74. Cấm hai cô dùng tay bỡn cợt (trửng giỡn).
75. Cấm một Ni, một Sư uống nước chung và quạt cho nhau.
76. Cấm xin cơm mà để giành lại.
77. Cấm đại tiểu làm dơ cây cối.
78. Cấm quăng ra ngoài rào, đồ đại tiểu khi đêm.
79. Cấm đi xem hát.
80. Cấm nói chuyện với đàn ông chỗ vắng vẻ.
81. Cấm nói chuyện với đàn ông chỗ chán chường.
82. Cấm bảo cô khác đi xa để nói chuyện với đàn ông.
83. Cấm ở nhà cư-gia mà ra đi thình-lình không cho chủ nhà hay.
84. Cấm vào nhà cư-gia mà chủ nhà chẳng hay biết rồi tự tiện ở đêm nơi đó.
85. Cấm vào nhà cư-gia mà chủ nhà chẳng hay biết rồi ngồi nằm nơi đó.
86. Cấm vô nhà người, vào phòng kín với đàn ông.
87. Cấm đọc bậy với kẻ khác, lời của bà thầy dạy học.
88. Cấm thề oán tức tối.
89. Cấm tranh hơn thua, đấm ngực kêu la.
90. Cấm hai cô nằm chung trừ khi đau.
91. Cấm hai cô ngủ chung trừ khi cần kíp.
92. Cấm làm phiền hoặc làm trễ mấy cô khác trong cuộc tụng kinh, hộ niệm, làm lễ giảng đạo.
93. Cấm chẳng săn sóc người ở gần mình trong cơn đau.
94. Cấm trong mùa mưa đuổi một cô đi chỗ khác, sau khi mình đã tìm xong chỗ ngụ.
95. Cấm đi xa lúc mùa mưa (vì làm dơ đồ và giết sâu bọ).
96. Cấm đã hết mùa mưa mà chẳng đi.
97. Cấm đi quanh trong vùng nguy hiểm.
98. Cấm đi quanh trong xứ lộn xộn.
99. Cấm thân cận và ở chung nhà với đàn ông.
100. Cấm đi xem đền-đài cung-viện của vua.
101. Cấm tắm dưới nước mà chẳng có choàng tắm.
102. Cấm dùng choàng tắm rộng quá thước tấc.

103. Cấm may một cái áo để quá năm ngày.

104. Cấm may áo rồi mà chẳng mặc liền.

105. Cấm nhơn danh Giáo-Hội, phát áo và vải rồi để dành một ít cho mình.

106. Cấm mặc đồ của một cô khác mà không hỏi trước.

107. Cấm lấy áo của một cô khác mà cho người.

108. Cấm có ý cản trở sự phát áo của Giáo-Hội.

109. Cấm dùng lời nói, cản trở sự phát áo của Giáo-Hội.

110. Cấm làm cách thế cản trở sự phát áo của Giáo-Hội.

111. Cấm có người giải-hòa mà chẳng chịu hòa.

112. Cấm trao tay thí đồ ăn cho kẻ ngoại đạo.

113. Cấm rat ay làm việc nhà cho người cu-gia.

114. Cấm tự tay mình kéo chỉ quay tơ.

115. Cấm nằm ngồi trên giường ván của cư-gia.

116. Cấm nghỉ đêm nơi nhà cư-gia, mà sang sớm đi không cho chủ nhà hay.

117. Cấm đọc chú cho những kẻ pháp phù.

118. Cấm dạy người ta đọc chú.

119. Cấm cho nhập đạo một cô có thai.

120. Cấm cho nhập đạo một cô còn có con nhỏ.

121. Cấm cho nhập hàng Ni-Cô một người chưa đúng hai mươi tuổi tròn.

122. Cấm cho nhập hàng Ni-Cô một người chưa tập sự hai năm.

123. Cấm cho nhập hàng Ni-Cô một người phạm đại giới (mặc dầu đúng tuổi và đã tập sự).

124. Cấm cản không cho nhập hàng Ni-Cô một người đã đủ điều kiện.

125. Cấm cho nhập đạo sớm lắm mà chẳng tập-sự.

126. Cấm cho nhập đạo mà chẳng có Giáo-Hội chư Tăng thị nhận.

127. Cấm dấu những sự sơ thất nầy.

128. Cấm đã thâu nhận học trò mà không lo dạy dỗ trong hai năm tập sự.

129. Cấm mới nhập đạo chưa được hai năm mà thâu nhận học trò.

130. Cấm một cô thiếu sức mà truyền giới cụ-túc cho người.

131. Cấm một cô thiếu tuổi mà truyền giới cụ-túc cho người.

132. Cấm một cô thiếu phép mà truyền giới cụ-túc cho người.

133. Cấm phiền trách khi Giáo-Hội chẳng cho phép truyền giới.

134. Cấm nhận một kẻ tập tu vào hàng Ni-Cô thiệt thọ, nếu người nhà kẻ ấy chẳng thuận.

135. Cấm làm cho một thiếu phụ buồn chán sợ-sệt, đặng bỏ gia-đình nhập đạo.

136. Cấm hứa nếu ai dễ dạy thì cho nhập đạo, kế không giữ lời.

137. Cấm hứa nếu ai cúng áo thì cho nhập đạo, kế không giữ lời.

138. Cấm mới nhập đạo chưa được một năm mà thâu nhận người khác cho thọ giới cụ-túc.
139. Cấm sau khi thâu nhận một Ni-Cô mà để qua đêm mới đi trình diện với Giáo-Hội chư Tăng.
140. Cấm vắng mặt ngày đọc giới luật, trừ khi đau.
141. Cấm quên hỏi Giáo-Hội cầu thầy thuyết pháp và đọc Giới-Bổn.
142. Cấm cuối mùa mưa quên đọc lại với Giáo-Hội chư Tăng những điều nghe thấy.
143. Cấm họp nhau trong mùa mưa ở một xứ không có chư Tăng.
144. Cấm vào tịnh-xá chư Tăng mà không xin phép.
145. Cấm nhiếc mắng mấy NiCô khác.
146. Cấm dùng lời thô bỉ gây nên sự rầy rạc ở Giáo-Hội.
147. Cấm khi bịnh không có Giáo-Hội cho phép mà để người khác cắt hoặc bó cho mình.
148. Cấm ăn no rồi mà còn ăn lại nữa.
149. Cấm ganh-ghét các Ni-Cô khác.
150. Cấm dồi mài trang điểm thân mình.
151. Cấm dồi phấn xức dầu.
152. Cấm xúi một Ni-Cô dồi phấn xức dầu.
153. Cấm xúi một kẻ tập tu dồi phấn xức dầu.
154. Cấm xúi học trò dồi phấn xức dầu.
155. Cấm xúi người tại gia dồi phấn xức dầu.
156. Cấm bận áo mỏng thấy mình.
157. Cấm lấy y-phục của người tại gia mặc vào.
158. Cấm mang giày cầm dù đi ra đường.
159. Cấm đi kiệu trừ khi đau.
160. Cấm vào làng mà chẳng mặc áo Ni-Cô.
161. Cấm khi đêm vào nhà cư-sĩ.
162. Cấm vào buổi chiều mở cổng chùa ra đi, không cho mấy cô khác hay.
163. Cấm sau khi mặt trời lặn, mở cổng chùa ra đi, không cho mấy cô khác hay.
164. Cấm vắng mặt ngày hội trong mùa mưa.
165. Cấm cho nhập đạo một cô có bịnh khó.
166. Cấm cho nhập đạo một cô bán nam bán nữ.
167. Cấm cho nhập đạo một cô có bịnh khác thường.
168. Cấm cho nhập đạo một cô mắc nợ hoặc tàn tật. 
160. Cấm học cách bói đoán vận mạng sanh nhai theo người thế tục.
170. Cấm dạy người cách bói đoán vận mạng.
171. Cấm đã có ai bảo đi mà chẳng đi.
172. Cấm chẳng xin phép mà thình lình hỏi lý một vị sư.
173. Cấm ngồi nằm chỗ đường đi làm khó và phiền kẻ khác.
174. Cấm cất tháp xây mồ một Ni khác trong vòng chùa chư Tăng.
175. Cấm một Ni-Cô già gặp một vị sư trẻ mà chẳng làm lễ theo luật.
176. Cấm vừa đi vừa uốn éo thân hình.
177. Cấm mặc đồ và trang điểm như mấy cô ở thế.
178. Cấm xúi một cô khác, ngoại đạo dồi phấn xức dầu.
Bạch các Sư-Ni, tôi vừa đọc xong một trăm bảy mươi tám giới linh-tinh, vậy chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?                                                                                                (Hỏi 3 lần)

Đ.- TÁM GIỚI ĐẶC-BIỆT “XƯNG TỘI VÀ XẢ ĐỌA”
1.     Cấm nếu không đau, không được xin sữa (đậu)
2.     Cấm nếu không đau, không được xin dầu.
3.     Cấm nếu không đau, không được xin mật (hoa)
4.     Cấm nếu không đau, không được xin đường.
5.     Cấm nếu không đau, không được xin bột.
6.     Cấm nếu không đau, không được xin cháo.
7.     Cấm nếu không đau, không được xin đồ ngon.
8.     Cấm nếu không đau, không được ăn đồ quí.
Bạch các Sư-Ni, tôi vừa đọc xong tám giới đặc-biệt, vậy chẳng hay trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?                                                                                                       (Hỏi 3 lần)
E.- MỘT TRĂM GIỚI NHỎ PHẢI HỌC “SÁM-HỐI”
1.     Chẳng nên vận chăn có lằn nếp.
2.     Chẳng nên mặc áo không thứ lớp.
3.     Chẳng nên đi vào nhà cư-sĩ mà xăn áo lên.
4.     Chẳng nên ngồi trong nhà cư-sĩ mà xăn áo lên.
5.     Chẳng nên đi vào nhà cư-sĩ mà lật áo lên tới vai.
6.     Chẳng nên ngồi trong nhà cư-sĩ mà lật áo tới vai.
7.     Chẳng nên đi vào nhà cư-sĩ mà đội khăn đội mũ.
8.     Chẳng nên ngồi trong nhà cư-sĩ mà đội khăn đội mũ.
9.     Chẳng nên đi vào nhà cư-sĩ mà vừa đi vừa chạy.
10. Chẳng nên ngồi trong nhà cư-sĩ sau khi vừa đi vừa chạy.
11. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ, mà chấp tay sau lưng, chống nạnh.
12. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà chấp tay sau lưng, chống nạnh.
13. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ, mà lay chuyển thân mình.
14. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà lay chuyển thân mình.
15. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ, mà múa tay.
16. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà múa tay.
17. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ, mà không mặc áo che mình.
18. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà không mặc áo che mình.
19. Chẳng nên đi vào nhà cư sĩ mà trông bên nầy bên nầy bên kia.
20. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà trông bên nầy bên kia.
21. Chẳng nên xao-động khi đi vào nhà cư sĩ.
22. Chẳng nên xao-động khi ngồi trong nhà cư sĩ.
23. Chẳng nên cười cợt khi đi vào nhà cư sĩ.
24. Chẳng nên cười cợt khi ngồi trong nhà cư sĩ.
25. Chẳng nên ngồi chồm hổm trong nhà cư sĩ.
26. Chẳng nên nhìn liếc khi lãnh cơm.
27. Chẳng nên đưa bát nghiên, để cơm phải đổ
28. Chẳng nên đưa bát nghiên, để canh phải đổ.
29. Chẳng nên phân biệt thức ăn.
30. Chẳng nên kén chọn món ăn.
31. Chẳng nên lựa bên nầy bên kia hay giữa bát.
32. Chẳng nên hỏi canh ngon hoặc món lạ (trừ cơn đau).
33. Chẳng nên xới cơm lên che khuất đồ ăn đặng lãnh thêm nữa.
34. Chẳng nên thấy vị khác lãnh đồ ăn mà sanh lòng ưa thích (thèm).
35. Chẳng nên thiếu sự trang-nghiêm trong khi ăn.
36. Chẳng nên ăn miếng lớn.
37. Chẳng nên hả miệng lớn, mà đút đồ ăn.
38. Chẳng nên nói chuyện khi ngậm một miệng đồ ăn.
39. Chẳng nên lấy cơm vò viên thảy vào miệng.
40. Chẳng nên ăn cho trám vàm đến đỗi đồ ăn rớt ra.
41. Chẳng nên đưa đồ ăn má bên nầy qua má bên kia.
42. Chẳng nên nhai lớn tiếng.
43. Chẳng nên núc mạnh trong khi ăn.
44. Chẳng nên lấy lưỡi liếm.
45. Chẳng nên quơ tay trong khi ăn.
46. Chẳng nên lấy tay lượm cơm rớt bỏ vào miệng.
47. Chẳng nên cầm tới bình uống nước khi chưa rửa tay.
48. Chẳng nên tạt nước rửa bát ra sân thí chủ.
49. Chẳng nên đại-tiểu, hỉ mũi, khạc nhổ trên rau cỏ trừ khi bịnh.
50. Chẳng nên đại-tiểu, hỉ mũi, khạc nhổ trên nước sạch trừ khi bịnh.
51. Chẳng nên đứng mà đại-tiểu trừ khi bịnh.
52. Chẳng nên ở và ngủ trong tháp thờ Phật trừ khi canh giữ.
53. Chẳng nên cất giữ đồ vật tại tháp thờ Phật trừ khi bị cướp.
54. Chẳng nên mang dép vào tháp thờ Phật.
55. Chẳng nên xách dép vào tháp thờ Phật.
56. Chẳng nên mang dép đi chung quanh chỗ thờ Phật.
57. Chẳng nên mang giày vào tháp thờ Phật.
58. Chẳng nên xách giày vào tháp thờ Phật.
59. Chẳng nên ngồi ăn dưới tháp thờ Phật (mà bỏ đồ dơ thúi).
60. Chẳng nên khiêng xác chết đi dưới tháp thờ Phật.
61. Chẳng nên chôn xác chết tại tháp thờ Phật.
62. Chẳng nên thiêu xác chết tại tháp thờ Phật.
63. Chẳng nên thiêu xác chết ngay phía tháp thờ Phật.
64. Chẳng nên thiêu xác chết, chỗ nào mùi hôi thúi, bay tới tháp thờ Phật.
65. Chẳng nên mang đồ của người chết đi trước tháp thờ Phật.
66. Chẳng nên đại-tiểu tại tháp thờ Phật.
67. Chẳng nên đại tiểu ngay phía tháp thờ Phật.
68. Chẳng nên đại-tiểu, chỗ nào mùi hôi thúi bay tới tháp thờ Phật.
69. Chẳng nên đi nhà tiêu mang theo tượng Phật.
70. Chẳng nên ở tại tháp thờ Phật mà xỉa răng súc miệng.
71. Chẳng nên đứng trước tháp thờ Phật mà xỉa răng sút miệng.
72. Chẳng nên đứng bốn phía, tháp thờ Phật mà xỉa răng sút miệng.
73. Chẳng nên ở tại tháp thờ Phật mà hỉ mũi khạc nhổ.
74. Chẳng nên đứng trước tháp thờ Phật mà hỉ mũi khạc nhổ.
75. Chẳng nên đứng bốn phía tháp thờ Phật mà hỉ mũi khạc nhổ.
76. Chẳng nên ngồi đưa chơn ngay tháp thờ Phật.
77. Chẳng nên ở từng trên cao hơn chỗ thờ Phật.
78. Chẳng nên nắm tay một người khác mà đi dạo.
79. Chẳng nên leo cây cao khỏi đầu, trừ khi có việc.
80. Chẳng nên quảy bát nơi đầu cây gậy.
81. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, lật áo.
82. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, quấn áo trên cổ.
83. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, che đầu
84. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, khỏa đầu.
85. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, chấp tay sau lưng hoặc chống nạnh.
86. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi guốc.
87. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi dép.
88. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cỡi ngựa đi kiệu.
89. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi mà mình đứng.
90. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, nằm mà mình ngồi.
91. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi chỗ tốt mà mình ngồi chỗ xấu
92. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi chỗ cao mà mình ngồi chỗ thấp.
93. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi trước mà mình đi sau.
94. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi trên mà mình đi dưới.
95. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đứng giữa mà mình đứng bên
96. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm gậy.
97. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm gươm.
98. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dáo.
99. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dao.
100. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dù.                                    
Bạch các Sư-Ni, tôi vừa đọc xong một trăm giới nhỏ phải học vậy trong các Sư-Ni có ai phạm chăng?     (Hỏi 3 lần)
Ê.- BẢY GIỚI GIẢI HÒA

Khi có việc xảy ra xung đột bất bình thì nên xử cho êm đi.
1.     Dùng cách tự thuận.
2.     Hoặc nói quyết rằng quên.
3.     Hoặc mình không biết, không cố ý.
4.     Hoặc xin lỗi thành thật, mình đã lỡ phạm.
5.     Hoặc chuyển lên Giáo-Hội xem xét cho.
6.     Hoặc nhờ thầy quảng-đại quyết định cho.
7.     Hoặc cùng nhau niệm Phật, bỏ qua khỏa lấp như cỏ mới mọc.
Bạch các Sư-Ni, tôi đã đọc để quí vị nghe đoạn vô đầu
A. Tám đại-giới:                                                 8 giới                                        
B. Mười bảy giới tổn-hại:                                 17 giới
C. Ba chục giới phá sự thanh-bần:               30 giới
D. Một trăm bảy mươi tám giới linh-tinh: 178 giới
E. Tám giới đặc-biệt:                                        8 giới
F. Một trăm giới nhỏ phải học:                   100 giới
G. Bảy giới giải-hòa:                                        7 giới
  Cộng là: Ba trăm bốn mươi tám giới (348 giới)
Tất cả bao nhiêu đó, mà đức Phật Tổ dạy chúng ta phải hội họp mỗi kỳ nửa tháng, đặng nghe đọc một lần, vậy cuộc họp nầy đến đây thì bế mạc.
(Nhưng truớc khi giải tán, tất cả Giáo-Hội đều đọc kệ chung với nhau, đại khái như dưới đây)
1.- Phật TỲ BÀ THI, Có Dạy Rằng ; Vipassī Buddha, taught that: Bền chịu với các sự nhẫn nhục, ấy là giới hạnh đầu tiên, mà chư Phật hằng khuyên ta, kẻ đã xuất gia bỏ thế, mà còn phiền giận, thật không đáng với tiếng người tu.
2.- Phật "Thích-Khí", Có Dạy Rằng ; Buddha "Thich-Khi", taught that:   
Người ta có mắt lanh, bao giờ cũng vượt qua khỏi hố sâu thẳm, cũng như thế, bậc Phật Thánh thoát khỏi các nạn khổ.
3.- Phật Tỳ Xá, Có Dạy Rằng ; Vaisali Buddha, taught that:
Tránh nói hành và tật đố, giữ giới hạnh, vừa lòng với sự đủ dùng về đồ ăn uống, bao giờ cũng thỏa thích trong tịnh-thất thanh vắng của mình, bền chí về bổn nguyện, và cố tiến thủ ấy là các lý cốt yếu mà chư Phật đã ban truyền.
4.- Phật "Ca La Tôn Đại", Có Dạy Rằng ; Buddha "Ton Dai Ca La", taught that:
Quanh quẩn trên hoa con ong chỉ lấy mật trong hoa mà thôi, chớ không phá màu hoa và mùi hoa, cũng như thế: Các Ni-Cô ở chung với giáo-hội, chớ nên làm nặng lòng ai hết, chớ xem coi họ có làm, hoặc không làm, mà phải lo lấy mình, xét coi đạo hạnh của mình có vẹn toàn hay không.
5.- Phật "Câu-Na-Hàm Mâu-Ni", Có Dạy Rằng ; Buddha "Cau-Na-Ham Mau-Ni", taught that:
Chớ để cái tâm lạc bậy, hãy siêng học cái giới luật của Phật Thánh, như vậy người ta sẽ lánh xa mọi sự buồn và sẽ tấn tới Niết Bàn.
6.- Phật CA DIẾP, Có Dạy Rằng ; Kassapa Buddha, taught that:
Chớ làm điều gì ác, phải làm các điều lành, cái sở-ý của người phải cho trong sạch luôn luôn, chư Phật đều dạy như vậy.
7.- Phật Thích Ca Mâu Ni, Có Dạy Rằng ; Shakyamuni Buddha, taught that:
Hãy giữ lời nói của người, hãy làm cho tâm ý của người trở nên thanh bạch, đừng làm một việc gì sái quấy, giữ ba điều ấy là theo chánh đạo, đạo của chư Phật đó.
8.- CÁC NHÀ HIỀN ĐỨC GIỮ GIỚI:
Có ba điều an lạc lợi ích: Một là danh tiếng thơm lành, hai là được cúng-dường, ba là sanh lên cõi trên sau khi thác, nếu chưa đắc quả A-La-Hán.
9.- HÃY XEM QUA TRONG GIÁO-HỘI:
Coi mấy nhà hiền đức và thành tín, giữ giới luật thế nào, giữ giới và sống trong sạch, là sự phát sanh trí huệ, là nền tảng của mọi việc hay khác.
10.-NÓI THEO LỜI DẠY CỦA CHƯ PHẬT:
Quá khứ hiện tại và vị lai, người ta giải thoát khỏi mọi sự buồn thảm mà chư Phật hằng khuyên người phải trân-trọng giữ giới, bảy đức Phật trên kia đều bảo rằng: Sự giữ giới gỡ cho mình ra khỏi các việc trói buộc, và đưa mình lên đến nơi cùng tột là Niết-Bàn, bây giờ sẽ dứt hết các cuộc phiền não.
11.- CHÚNG TA PHẢI NOI THEO LỜI DẠY CỦA CHƯ PHẬT, CHƯ TIÊN:
Lời khuyên của Thánh hiền, gương lành của mấy vị đệ-tử đích đáng, để thong thả tới nơi an-lạc của Niết-Bàn.
12.- TRƯỚC KHI TỊCH KHỎI CÕI THẾ MÀ VÀO NIẾT-BÀN:
Đức Phật Tổ có khuyến khích chư Tăng mấy lời nầy: “Khi ta từ giã, chư đệ-tử chớ nói rằng ta nhập Niết-Bàn là ta hết bảo hộ đâu, không, ta để luật lại, nó sẽ ủng hộ cho, hãy coi ta là thầy mãi, bao giờ luật của ta còn trì giữ, thì đạo Phật vẫn còn tỏ rõ và thạnh-hành, nếu chư đệ-tử giữ giới mà làm cho đạo sáng và thạnh, thì sẽ hưởng Niết-Bàn, còn để cho đạo tắt mất, thì trần thế sẽ bị chôn trở vào nơi hắc ám, cũng như lúc mặt trời lặn buổi chiều, hãy giữ giới cho kỹ, hãy hội họp lại mà đọc giới-bổn, theo như ta đã dạy, rán bảo tồn nó, vì nó giúp ích cho chúng-sanh, giúp cho tiến theo nẻo Phật”.
(Luật Tăng đồ nhà Phật nầy của phái Đàm-Vô-Đức bộ, do đại-sư Đàm-Đế dịch năm 254 sau Dương Lịch).
Kính lạy Ta-Bà Thế-Giới THÍCH-CA MƯU-NI PHẬT                    (3 lạy)
Giới luật và Bổn phận nầy,  tất cả nữ Khất Sĩ đều dùng được hết. ; This discipline and duty, all mendicant women are fully used.
Tổ sư Minh Đăng Quang ; 
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )

Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
Luật giới & bổn phận của Ni Sư 
Tứ Phần Luật Tỳ Kheo Ni: 348 Giới Luật
Tỳ Kheo Ni, nữ Khất Sĩ trong ngày rằm và ba mươi của mỗi tháng, phải tựu họp lại, học giới luật, không được vắng mặt, mỗi lần đọc phải từ bốn vị sắp lên (một Tăng chúng là bốn vị, một giáo hội là hai chục vị Ni.)
Sa-di tập sự phải đi ra. 
Ai vắng mặt, phải có người thay lời. 
Chư vị Tỳ Kheo Ni phải tựu đủ.
Vị thượng tọa nói: Ngay hồi "sanh tiền", đức Phật có dạy chư Tăng, Ni, phải họp mặt nhau một tháng hai kỳ, để khuyên răn sám hối với nhau, mà giữ gìn đạo hạnh, chúng ta cúi đầu, để tôn trọng Phật, Pháp, Tăng. Nay chúng ta hội lại theo lệ cũ, mà chúng ta khéo giữ gìn, để bảo tồn chánh pháp luôn luôn.
Giới luật thật là mênh mông, mênh mông như biển cả, thật là quí giá, quí giá hơn cả vàng bạc, mà người ta hằng tiềm tòi, quán xét, chẳng biết mệt nhọc. Vậy các chư Ni hãy nghe đây, để khỏi phạm giới to hoặc nhỏ, và các ngài: Chư Phật "Tỳ-Bà-Thi", "Thích-Khí", "Tỳ-Xá", Ca-La Tôn-Đại, "Câu-Na-Hàm Mâu Ni, Ca-Diếp, Thích Ca Mâu Ni và các Ngài đại từ đại bi. Đáng cho chúng sanh sùng bái, xin các Ngài giúp cho tôi nói, tôi muốn nói những điều tôi phải nói và các chư Ni hãy nghe những lời của người quá khứ ở nơi tôi:
Thiếu chân, không đi được, cũng như thế, thiếu luật, không lên cõi thượng thiên được. Ai muốn sanh lên cõi trên, ngay kiếp nầy, phải giữ giới luật cho kỹ càng, vì nó là chân của mình, đưa mình đi. 
Tên mà đánh xe, khi qua truông, thấy mất : "cái chốt" ở bánh xe, hay thấy "cốt" xe gãy, thì nó rầu. Kẻ mà phạm giới luật cũng thế, đến giờ chết, thì rầu lắm. Soi gương vui hay buồn, là tùy ở mặt mình tốt hay xấu, đọc giới luật cũng như thế, người nghe vui hay buồn, là do nơi mình có giữ giới luật hay phạm giới luật. Hai bên nghịch giao chiến, bên nhát thối lui, cũng như thế ai trong sạch thì vững bụng, ai lầm lỗi phải sợ, lo. Ông vua hơn mọi người, biển cả hơn các thứ, như ngòi, rạch, mặt trăng hơn các ngôi sao, đức Phật, hơn các Thánh nhân, hiền tài , cũng như thế: giới luật đọc hôm nay hơn các giới luật khác. Vậy nên Đức Phật của chúng ta, có lập cái lệ nầy mà không ai được bỏ qua, mỗi kỳ nửa tháng phải đọc "Luật giới và Bổn phận của Ni Sư" một lần. 
Vậy thì bạch các Ni Sư! Tôi xin đọc "Luật giới & Bổn phận của Ni Sư", hãy nghe cho kỹ! Hãy xét cho kỹ! Ai thấy bản thân mình, phạm phải khai ra, còn ai biết rằng bản thân mình vô tội cứ lặng thinh. Các Ni Sư mà nín, tôi kết luận rằng ai nấy đều trong sạch, dầu tôi có hỏi chung cũng cầm bằng hỏi riêng từng người. Ai có tội, khi hỏi qua ba lần mà không trả lời, người ấy sẽ vi phạm, giới luật "vọng-ngữ". Phật dạy rằng: Ai đã "vọng-ngữ" mà chẳng khai ra, không thể nào tấn tới về đạo đức, chúng ta nên tránh chỗ tai hại đó. Ai còn phạm điều gì, và có muốn thanh tịnh trở lại, cứ khai ra…rồi sẽ được an tâm và vui vẻ, vậy tôi xin đọc đoạn vô đầu: 
Tứ "Y-Pháp Bảo"
.....
Giới luật và Bổn phận nầy,  tất cả nữ Khất Sĩ đều dùng được hết.
Tổ sư Minh Đăng Quang.
Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét