Thứ Tư, tháng 1 01, 2014

67. Luật giới & bổn phận của Tăng chúng ; Morality & duties of Sangha

Thc hành dch sang Anh ng t hc: s 42
Practice self-taught English translation: No. 42
( Hiu chnh và dch thut : Lê Đức Huyến; Correction and Translation: Le Duc Huyen )
* Dch sang Anh ng; Translations into English: Hc hành phi biết "ch sai"...Tm cu hc hi, mit mài nên thân!; Learning to know "the wrong place" ... The demand to learn, hard to the body! 

Luật giới & bổn phận của Tăng chúng 
Morality & duties of Sangha
( Trang 179-203 ; Pages 179-203 )
Tứ Phần Luật Tỳ Kheo: 250 Giới Luật
Four parts Bhikshu Law: 250 Precepts
Tỳ Kheo Chư Tăng Khất Sĩ, trong ngày rằm và ba mươi, của mỗi tháng, phải tựu họp lại học luật, không được vắng mặt, mỗi lần đọc phải từ bốn vị sắp lên (một Tăng chúng là bốn vị, một Giáo hội Tăng già, là 20 vị Tăng) ; Mendicant monks Bhikkhu, in the fifteenth and thirty days, each month, to achieve law school together, not be absent, each reading must be between four and upward (a Sangha is four, a Church Sangha, 20 monks)
Sa-di tập sự phải đi ra ! ; Novice apprentice must come out!
Ai vắng mặt phải có người thay lời !Who is absent to have someone replace the word!
Giáo Hội Tăng Già: Tỳ Kheo Ni có xin thỉnh chư Tăng qua thuyết pháp, phải sắp đi cho rồi...! ; Sangha: Bhikshuni have to ask for the monks through the sermon, had going for it ...!
Chư vị Tỳ-kheo phải tựu đủ rồi ! ; Monks must you achieve enough!
Đại đức nói: Ngay hồi "sanh tiền", đức Phật có dạy chư Tăng, phải họp mặt nhau một tháng hai kỳ, để khuyên răn sám hối với nhau, mà giữ gìn đạo hạnh, chúng ta cúi đầu, tôn trọng Phật, Pháp, Tăng.  Venerable said: Even in "pre-born", the Buddha taught the monks, gathered together to semimonthly, to admonish penance together, but keeping virtue, we bow our heads, respecting the Buddha, Dharma and Sangha. Nay chúng ta hội lại theo lệ cũ, mà chúng ta khéo giữ gìn, để bảo tồn chánh pháp luôn luôn. ; Now we are meeting again under the old rules, which we cleverly preserve, to preserve the Dhamma always.



Giới luật thật là mênh-mông, mênh-mông như biển cả, thật là quí giá, quí giá hơn cả vàng bạc, mà người ta hằng tầm tòi chẳng biết mất mệt nhọc. Ấy vì muốn bảo tồn cái kho quí của giới luật Phật, nên chúng ta họp nhau lại đây, vậy chư đại-đức hãy nghe tôi, để khỏi phạm giới to hoặc nhỏ, và các ngài: Chư Phật Tỳ-Bà-Thi, Thích-Khí, Tỳ-Xá, Ca-La-Tôn-Đại, Câu-Na-Hàm-Mưu-Ni, Ca-Diếp, Thích-Ca-Mưu-Ni và các Ngài đại-từ đại-bi, đáng cho chúng-sanh sùng bái, xin các Ngài giúp cho tôi nói, tôi muốn nói những điều tôi phải nói và chư Thinh-Văn Đại-Đức hãy nghe tôi. Một người thiếu chơn không đi được, cũng như thế, một người sống đời, mà thiếu luật, không lên cõi thượng-thiên được. Ai muốn sanh lên cõi trên trong kiếp nầy, phải giữ giới-luật cho chín chắn kỹ-càng, vì nó là chơn của mình, mà mình không được khinh thường.

Một người đánh xe lúc qua truông hiểm, thấy mất cái chốt ở bánh xe, hay thấy chốt xe gãy, nó có rầu hay không? Kẻ phạm giới cũng thế, đến giờ chết thì rầu lắm.
Một người khác soi gương vui hay buồn, là do ở mặt mình tốt hay xấu, sạch hay dơ, giới-luật mà đọc ra đây cũng có cái kết quả y như vậy đó, chư Thinh-Văn sẽ được vui hay buồn, là do nơi mình có phạm giới hay trì giới.
Hai bên nghịch giao chiến, bên nhát thối lui, cũng như thế ai trong sạch thì vững bụng, ai lầm lỗi phải lo sợ. Ông vua hơn mọi người, biển cả hơn các thứ ngòi, rạch, mặt trăng hơn các ngôi sao, Phật hơn các Thánh hiền, cũng như thế giới luật đọc hôm nay hơn các giới luật khác.
Vậy nên đức Phật của chúng ta, có lập ra, cái lệ này mà không ai được bỏ qua, mỗi kỳ nửa tháng, phải đọc giới-bổn một lần. Vậy thì bạch chư đại-đức, tôi xin đọc giới-bổn hãy nghe cho kỹ, hãy xét cho kỹ, ai thấy mình phạm phải khai ra, còn ai biết mình vô tội cứ lặng thinh, các Ngài mà nín. Tôi sẽ kết-luận rằng: Các Ngài trong sạch! Dầu tôi có hỏi chung, cũng cầm bằng hỏi riêng từng người, ai có tội để tôi hỏi qua ba lần, mà không trả lời người ấy sẽ phạm giới vọng ngữ.
Phật có dạy rằng: Ai vọng ngữ mà không khai ra, không thể nào tấn tới về đạo-đức, các Ngài khá tránh chỗ đại hại đó. Ai có phạm điều gì, và có muốn thanh-tịnh lại, cứ khai ra rồi sẽ được an-tâm và vui vẻ.
Vậy tôi xin đọc đoạn vô đầu:
A.- BỐN ĐẠI GIỚI “TRỤC XUẤT”
1.     Đại dâm giới                           — Cấm dâm dục.
2.     Đại đạo giới                             Cấm trộm cắp.
3.     Đại sát giới                             — Cấm sát sanh.
4.     Đại vọng ngữ giới                   — Cấm nói dối.                                     (Hỏi 3 lần)
B.- MƯỜI BA GIỚI TỔN HẠI TĂNG TÀN “GIÁNG CẤP”
1.   Cấm lấy tay tự làm sự dâm.
2.   Cấm rờ mình đàn bà.
3.   Cấm làm mai cưới gả, sự hò hẹn.
4.   Cầm chọc ghẹo dụ dỗ đàn bà
5.   Cấm khoe phép tinh-tấn với đàn bà.
6.   Cấm tự ý cất phòng sái luật, và không trình chỗ cất.
7.    Cấm không trình chỗ cất, mặc dầu tự ý thí chủ cất cho.
8.   Cấm cáo gian một vị tỳ-kheo khác một tội gì mà không có.
9.   Cấm dùng cách nầy thế kia, mà phá sự hòa hiệp ở giáo hội.
10.  Cấm nghi quấy một vị tỳ-kheo khác, một tội gì mà không có.
11.  Cấm binh vực kẻ phá sự hòa hiệp ở giáo hội.
12.  Cấm không nghiêm làm quấy ác cho kẻ khác bắt chước.
13.  Cấm cưởng lý khi làm quấy mà chẳng chịu nghe lời khuyên giải.   (Hỏi 3 lần)
C.- HAI GIỚI KHÔNG ĐỊNH
1.     Cấm ngồi nói chuyện với đàn bà, chỗ vắng vẻ đáng nghi ngờ.
2.     Cấm ngồi nói chuyện với đàn bà, tự do chỗ chán chường.                (Hỏi 3 lần)
D.- BA CHỤC GIỚI PHÁ SỰ THANH BẦN “CẤM PHÒNG SÁU BỮA”
1.     Cấm cất giữ dư chăn áo quá mười ngày.
2.     Cấm bỏ chăn áo ở một nơi khác, trong một đêm.
3.     Cấm để dành vải quá một tháng, khi rách mất có người cúng.
4.     Cấm nhận áo cúng của một tỳ-kheo ni xa lạ (trừ sự đổi áo mới).
5.     Cấm để tỳ-kheo ni xa lạ, giặt nhuộm cất giữ áo cho mình.
6.     Cấm hỏi xin áo với nam nữ thí chủ, trừ khi thắc ngặt.
7.     Cấm nhận nhiều chăn áo quá bộ trừ khi thắc ngặt.
8.     Cấm tự ý kiểu muốn cắt may (khi có một thí chủ định sắm cho).
9.     Cấm tự ý kiểu muốn cắt may (khi có nhiều thí chủ định sắm cho)
10. Nhận tiền để may áo, và hối thúc giáo hội may liền.
11. Cấm dùng chăn áo bằng tơ lụa hàng (mặc dầu có pha lộn vải).
12. Cấm dùng ngọa cụ màu đen rặt, không có pha lộn màu khác.
13. Cấm dùng ngọa cụ màu trắng rặt, không có pha lộn màu khác.
14. Cấm chưa đúng sáu năm, mà sắm thêm ngọa cụ khác.
15. Cấm lấy ngọa cụ mới, che cho cái cũ làm mau hư.
16. Cấm khi viễn hành có ai cúng vải, mà ôm đi xa quá ba ngàn thước.
17. Cấm biểu tỳ-kheo ni xa lạ, giặt nhuộm cất giữ vải cho mình.
18. Cấm nhận tiền bạc vàng, gởi hoặc bảo kẻ khác nhận thế.
19. Cấm buôn bán đồ quí báu.
20. Cấm buôn bán bất luận vật gì.
21. Cấm giữ thêm một cái bát, cất giữ quá mười ngày.
22. Cấm kiếm bát mới tốt, mặc dầu đúng năm, mà cái cũ còn xài được.
23. Cấm đem chỉ cho thợ dệt xa lạ, dệt áo cho mình khi có kẻ cúng.
24. Cấm ra kiểu ni cho thợ dệt, khi thí chủ dệt áo cho mình.
25. Cấm giận hờn đòi áo lại, khi đã cho người rồi.
26. Cấm để dành thuốc, đường, dầu quá bảy ngày, trừ khi đau có người cúng.
27. Cấm xin vải choàng tắm mùa mưa, trước một tháng, dùng trước 15 ngày.
28. Cấm lãnh áo trước kỳ, khi đến lệ còn hỏi nữa.
29. Cấm gữi áo nhà người quen quá 6 ngày, sư ẩn cư khi về giáo hội.
30. Cấm lấy lén một MÓN ĐỒ GÌ của giáo hội.                                      (Hỏi 3 lần)
E.- CHÍN CHỤC GIỚI HÀNH PHẠT “QUỲ HƯƠNG”
1.     Cấm cho rằng phải một việc sái.
2.     Cấm chê dè làm cho người ta rủn chí.
3.     Cấm nói hai lưỡi đâm thọc, làm cho người ta giận nhau.
4.     Cấm ở chung nhà với đàn bà, trong một đêm.
5.     Cấm ở quá hai đêm, chung với người chưa thọ giới với nhà sư.
6.     Cấm tụng kinh chung và một lượt, với người chưa thọ đại-giới
7.     Cấm học tội một vị tỳ-kheo khác với người chưa thọ giới nhà sư.
8.     Cấm khoe mình đắc đạo có phép thần thông, với người chưa thọ đại giới.
9.     Cấm một mình thuyết pháp với đàn bà, năm sáu câu mà không có đàn ông trí-thức chứng dự.
10. Cấm đào đất, cuốc đất.
11. Cấm đốn cây phá chỗ thần ở.
12. Cấm cãi nhiều lời làm cho người ta phiền nghịch.
13. Cấm chê bai nói ác, xúc phạm đến vị sư trị-sự trong giáo hội.
14. Cấm dùng đồ của chùa mà bỏ ở ngoài, làm cho hư bể.
15. Cấm dùng đồ của chùa, khi đi không dẹp cất.
16. Cấm khi đi lữ hành, giành chỗ nằm của một người khác.
17. Cấm đuổi hay sai đuổi ra khỏi phòng, một tỳ-kheo không hạp ý mình.
18. Cấm giăng mùng lót ván, để cây rớt trúng người ta.
19. Cấm lấy nước dùng, mà trong ấy mình biết là có côn trùng.
20. Cấm dùng đồ nhiều quá, mà lợp tịnh-thất, chất nặng bậy làm sập.
21. Cấm dạy đạo, học giới-bổn với tỳ-kheo ni, không có lịnh giáo hội sai đi.
22. Cấm thuyết pháp với tỳ-kheo ni, buổi chiều, tối tới sáng mặc dầu có lịnh.
23. Cấm nói giễu vị sư đi thuyết pháp cho tỳ-kheo ni, là cốt để ăn uống no say.
24. Cấm tặng áo cho tỳ-kheo ni xa lạ, trừ khi mua dùm hoặc đổi áo mới.
25. Cấm may áo cho tỳ-kheo ni xa lạ.
26. Cấm ngồi chung với tỳ-kheo ni, ở một chỗ che khuất.
27. Cấm đi chung với tỳ-kheo ni, đầu làng nầy tới đầu làng kia.
28. Cấm hẹn nhau đi chung một thuyền, trừ khi qua đò.
29. Cấm ăn cơm của thí chủ đãi, mà nhờ có tỳ-kheo ni nói vào.
30. Cấm đi chung với đàn bà, đầu làng nầy tới làng kia cũng vậy.
31. Cấm ăn đến hai buổi cơm một ngày, hai buổi hai ngày trong một nhà.
32. Cấm ăn nhiều buổi cơm, ở nhiều chỗ trong một ngày (trừ cơn đau).
33. Cấm vắng mặt buổi cơm kỳ hội, trừ cơn đau, đi xa, trai tăng tởi áo.
34. Cấm ăn no rồi mà ăn lại nữa (nhưng còn đói có thể hỏi thêm)
35. Cấm lãnh đồ ăn nhiều quá, mà không chia sớt lại cho vị khác.
36. Cấm ép vị sư khác ăn no rồi, mà ăn lại nữa.
37. Cấm ăn sái giờ từ quá ngọ tới ngọ mai.
38. Cấm dùng và để đồ ăn vào miệng, món chẳng phải của cúng dường.
39. Cấm để dành đồ ăn cách đêm đặng khỏi đi xin.
40. Cấm hỏi đồ ăn mỹ-vị (trừ cơn đau tùy món cần dùng).
41. Cấm cố ý làm cho mấy vị “tỳ-kheo” khác trể quá giờ ăn.
42. Cấm trao tay thí đồ ăn, cho kẻ nam nữ phái ngoại đạo.
43. Cấm ăn rồi mà ngồi nán lại lâu trong nhà có đàn bà đẹp.
44. Cấm lãnh đồ ăn rồi mà ngồi lại chỗ kín, nhà có đàn bà đẹp.
45. Cấm ngồi gần đàn bà chỗ chán chường.
46. Cấm oán ghét kiếm cớ, làm cho một vị sư khác, bơ vơ nhịn đói.
47. Cấm lãnh để dành nhiều thuốc.
48. Cấm xem diễn binh tập lính.
49. Cấm ở chung với quân binh hai ngày (khi không có lý cớ gì).
50. Cấm ưa thích tập tành ngựa voi, quân binh đấu võ.
51. Cấm uống rượu men, các thứ rượu, thuốc hút, á phiện, trầu cau.
52. Cấm tắm rửa một cách quá tự do và giỡn cợt.
53. Cấm lấy tay chơn mà đánh đá người ta.
54. Cấm bất tuân và khinh dể lời quở trách can ngăn.
55. Cấm dọa nạt làm cho một vị tỳ-kheo khác kinh sợ.
56. Cấm tắm tới hai lần trong nửa tháng, trừ khi đau dơ nực.
57. Cấm vô cớ chụm lửa chỗ trống, trừ khi đau, lạnh đêm tối.
58. Cấm giễu cợt mà giấu, hoặc xúi giấu đồ của người khác..
59. Cấm lấy lén lại đồ, áo đã cho người ta rồi.
60. Cấm mặc dùng áo chăn, màu vải trắng (phải nhuộm cho xấu).
61. Cấm cố ý giết thác mạng thú vật.
62. Cấm uống nước mà mình biết là có côn trùng.
63. Cấm cố ý làm cho người ta buồn mà không khuyên giải.
64. Cấm giấu tội thô tục, chọc ghẹo, giao dâm của một tỳ-kheo khác.
65. Cấm nhận vào hàng tỳ-kheo kẻ nào chưa đúng 20 tuổi trọn.
66. Cấm khiêu gợi sự rầy rà sau khi đã êm thuận rồi.
67. Cấm đi chung với gian nhơn, đầu làng nầy tới làng kia cũng vậy.
68. Cấm nói dâm dục, không ngăn trở sự thành đạo đắc quả.
69. Cấm giữ lại chùa và để hầu mình, kẻ sa-di nói sái quấy ấy.
70. Cấm giao thiệp, đưa đồ nói chuyện, với vị sư nói sái quấy ấy.
71. Cấm chối tội nói rằng không biết để đi hỏi lại.
72. Cấm nói phá rằng đọc giới-bổn là phiền hà vô ích.
73. Cấm chối tội nói rằng tại mình không thuộc giới-bổn.
74. Cấm nói chư Tăng nghị xử chẳng công bình.
75. Cấm phá khuấy làm gián đoạn buổi hội nghị, đi vắng, đi ra ngoài.
76. Cấm cản không cho thi hành, điều mà giáo hội đã quyết nghị.
77. Cấm học đi học lại chuyện cãi lẫy gây gổ, sau khi đã êm thuận rồi.
78. Cấm giận mà đánh một vị tỳ-kheo khác.
79. Cấm giận mà vả, vặn tay một vị tỳ-kheo khác.
80. Cấm cáo gian rằng: Vị tỳ-kheo khác phạm giới tăng tàn.
81. Cấm vào cung vua thình lình, không chờ đợi nghinh tiếp.
82. Cấm lượm, sai lượm của quấy, vật bỏ rơi, trừ khi biết chủ mà giữ giùm.
83. Vào làng sái giờ, trừ ra có việc của giáo hội đúng giờ từ sáng tới ngọ.
84. Cấm ngồi ghế cao, nằm giường rộng, chiếu lớn xinh đẹp.
85. Cấm dồn ghế nệm gối bằng gòn tốt.
86. Cấm dùng ống đựng kim bằng xương, sừng, ngà.
87. Cấm tải ngọa cụ choán chỗ rộng quá.
88. Cấm dùng vải giẻ nhiều quá mà bó chỗ đau
89. Cấm dùng chăn tắm lớn quá.
90. Cấm mặc áo rộng dài như áo của Phật.                                             (Hỏi 3 lần)
F.- BỐN GIỚI ĐẶC BIỆT “XƯNG TỘI XẢ ĐỌA”
1.     Cấm chẳng đau, mà ăn nhờ đồ ăn của tỳ-kheo ni xa lạ.
2.     Cấm chẳng từ chối tỳ-kheo ni nói với thí chủ đải cơm mình trước.
3.     Cấm xin mãi một nhà làm cho người ta nghèo túng.
4.  Cấm sư ẩn cư chỗ nguy hiểm, để có sự hại cho thí chủ, đem cơm tới cho mình.   (Hỏi 3 lần)
G.-MỘT TRĂM GIỚI NHỎ PHẢI HỌC “SÁM-HỐI”
1.     Cái chăn phải vận từ nịch lưng tới nửa ống chân, đừng có xăn.
2.     Bộ áo ba cái phải mặc cho có thứ lớp.
3.     Chẳng nên ĐI VÀO nhà cư sĩ, mà xăn áo lên.
4.     Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà xăn áo lên.
5.     Chẳng nên ĐI VÀO nhà cư sĩ, mà lật áo lên tới vai.
6.     Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà lật áo lên tới vai
7.     Chẳng nên ĐI VÀO nhà cư sĩ, mà đội khăn đội mũ.
8.     Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà đội khăn đội mũ.
9.     Chẳng nên ĐI VÀO nhà cư sĩ, mà vừa đi vừa chạy.
10. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, sau khi vừa đi vừa chạy.
11. Chẳng nên ĐI VÀO nhà cư sĩ, mà chấp tay sau lưng, chống nạnh.
12. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà chấp tay sau lưng, chống nạnh.
13. Chẳng nên ĐI VÀO nhà cư sĩ, mà lay chuyển thân mình.
14. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà lay chuyển thân mình.
15. Chẳng nên ĐI VÀO nhà cư sĩ, mà múa tay.
16. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà múa tay.
17. Chẳng nên ĐI VÀO nhà cư sĩ, mà không mặc áo che mình.
18. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà không mặc áo che mình.
19. Chẳng nên ĐI VÀO nhà cư sĩ mà trông bên nầy bên nầy bên kia.
20. Chẳng nên ngồi trong nhà cư sĩ, mà trông bên nầy bên kia.
21. Chẳng nên ngồi chồm hổm trong nhà cư sĩ.
22. Hãy điềm tỉnh khi ĐI VÀO nhà cư sĩ.
23. Hãy điềm tỉnh khi ngồi trong nhà cư sĩ.
24. Chẳng nên cười cợt khi ĐI VÀO nhà cư sĩ.
25. Chẳng nên cười cợt khi ngồi trong nhà cư sĩ.
26. Phải để ý khi lãnh cơm.
27. Khi lãnh cơm đưa bát ra cho ngay thẳng đừng để đổ.
28. Khi lãnh canh đưa bát cho ngay thẳng đừng để đổ.
29. Phải trộn cơm với đồ ăn đã lãnh.
30. Món nào xúc trước thì ăn trước.
31. Chẳng nên lựa bên nầy bên kia hay giữa bát.
32. Chẳng nên hỏi canh ngon hoặc món lạ (trừ khi đau tùy món cần dùng).
33. Chẳng nên xới cơm lên che khuất đồ ăn đặng lãnh them nữa.
34. Chẳng nên thấy vị khác lãnh đồ ăn mà sanh lòng thèm.
35. Lãnh cơm đồ ăn đủ rồi, phủ cái bát lại, vừa ăn vừa suy nghĩ.
36. Chẳng nên ăn miếng lớn.
37. Chẳng nên hả miệng lớn, mà đút đồ ăn.
38. Chẳng nên nói chuyện khi ngậm một miệng đồ ăn.
39. Chẳng nên lấy cơm vò viên thảy vào miệng.
40. Chẳng nên ăn cho trám vàm đến đỗi đồ ăn rớt ra.
41. Chẳng nên đưa đồ ăn má bên nầy qua má bên kia.
42. Chẳng nên nhai lớn tiếng.
43. Chẳng nên núc mạnh trong khi ăn.
44. Chẳng nên lấy lưỡi liếm.
45. Chẳng nên quơ tay trong khi ăn.
46. Chẳng nên lấy tay lượm cơm rớt bỏ vào miệng.
47. Chẳng nên cầm tới bình uống nước mà chẳng rửa tay.
48. Chẳng nên tạt nước rửa bát ra sân thí chủ.
49. Chẳng nên đạ- tiểu, hỉ mũi, khạc nhổ trên rau cỏ trừ khi bịnh.
50. Chẳng nên đại-tiểu, hỉ mũi, khạc nhổ trên nước trừ khi bịnh.
51. Chẳng nên đứng mà đại-tiểu trừ khi bịnh.
52. Chẳng nên ở và ngủ trong chỗ thờ Phật trừ khi canh giữ.
53. Chẳng nên cất giữ đồ vật tại chỗ thờ Phật trừ khi bị cướp.
54. Chẳng nên mang dép vào chỗ thờ Phật.
55. Chẳng nên xách dép vào chỗ thờ Phật.
56. Chẳng nên mang dép đi chung quanh chỗ thờ Phật.
57. Chẳng nên mang giày vào chỗ thờ Phật.
58. Chẳng nên xách giày vào chỗ thờ Phật.
59. Chẳng nên ngồi ăn dưới chỗ thờ Phật (mà bỏ đồ dơ thúi).
60. Chẳng nên khiêng xác chết đi dưới chỗ thờ Phật.
61. Chẳng nên chôn xác chết tại chỗ thờ Phật.
62. Chẳng nên thiêu xác chết ngay chỗ thờ Phật.
63. Chẳng nên thiêu xác chết, chỗ nào mùi hôi thúi, bay tới chỗ thờ Phật.
64. Chẳng nên thiêu xác chết tại chỗ thờ Phật.
65. Chẳng nên đi dưới chỗ thờ Phật, mang đồ của người chết.
66. Chẳng nên đại-tiểu tại chỗ thờ Phật.
67. Chẳng nên đi nhà tiêu mang theo tượng Phật.
68. Chẳng nên đại-tiểu, chỗ nào mùi hôi thúi bay tới chỗ thờ Phật.
69. Chẳng nên đại-tiểu ngay chỗ thờ Phật.
70. Chẳng nên xỉa răng súc miệng dưới chỗ thờ Phật.
71. Chẳng nên tới chỗ thờ Phật mà xỉa răng sút miệng.
72. Chẳng nên đứng bốn phía, chỗ thờ Phật mà xỉa răng sút miệng.
73. Chẳng nên ở tại chỗ thờ Phật mà hỉ mũi khạc nhổ.
74. Chẳng nên đứng trước chỗ thờ Phật mà hỉ mũi khạc nhổ.
75. Chẳng nên đứng bốn phía chỗ thờ Phật mà hỉ mũi khạc nhổ.
76. Chẳng nên ngồi đưa chơn ngay chỗ thờ Phật.
77. Chẳng nên ở đứng trên cao hơn chỗ thờ Phật.
78. Chẳng nên nắm tay một người khác mà đi dạo.
79. Chẳng nên leo cây cao khỏi đầu, trừ khi có việc.
80. Chẳng nên bỏ bát vào bao mà quảy trên vai, chỗ đầu cây gậy.
81. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, lật áo.
82. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, quấn áo trên cổ.
83. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, khỏa đầu
84. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, che đầu.
85. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, chấp tay sau lưng chống nạnh.
86. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi guốc.
87. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi dép.
88. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cưỡi ngựa đi kiệu.
89. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi mà mình đứng.
90. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, nằm mà mình ngồi.
91. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi chỗ tốt mà mình ngồi chỗ xấu
92. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, ngồi chỗ cao mà mình ngồi chỗ thấp.
93. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi trước mà mình đi sau.
94. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đi trên mà mình đi dưới.
95. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, đứng giữa mà mình đứng bên
96. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm gậy.
97. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm gươm.
98. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm giáo.
99. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dao.
100. Chẳng nên vị tình thuyết pháp cho kẻ vô lễ, cầm dù.                 (Hỏi 3 lần)
H.- Bảy Giới  Luật: Hòa Giải, Diệt Tránh ;  Seven Precepts: Mediation, Avoiding Extinction.
(Khi có việc xảy ra, xung đột, bất bình thì xử cho êm đi. ; When something happens, conflicts, grievances are processed for smooth travel.)
1. Dùng cách tự thuận hòa. ; Using self-harmony.
2. Hoặc nói quyết rằng quên. ; Or say decided that forget.
3. Hoặc mình không biết không cố ý. ; Or they do not know is not intentional.
4. Hoặc xin lỗi thành thật, mình đã lỡ phạm. ;  Either apologize sincerely, I've missed violations.

5. Hoặc chuyển lên Giáo hội Tăng già xem xét cho. ; Or move up Sangha consider.
6. Hoặc nhờ một Thầy quảng đại, quyết định cho. ; Or through a generous teacher, decided to.
7. Hoặc cùng nhau: niệm Phật bỏ qua, khỏa lấp như cỏ mới mọc. ; Or together: nianfo ignored, like the new grass growing round.


"Hai Trăm Năm Chục Giới Luật" 
"Two hundred fifty Precepts"
Bạch chư Đại-Đức, tôi đã đọc để quí Ngài nghe đoạn vô đầu:
A. — Bốn đại giới:                                          4 giới
B. — Mười ba giới tổn hại tăng-tàn:        13 giới
C. — Hai giới không định:                           2 giới      
D. — Ba chục giới phá sự thanh bần:      30 giới
E. — Chín chục giới hành phạt:                90 giới
F. — Bốn giới đặc biệt:                                 4 giới
G. —Một trăm giới nhỏ phải học:          100 giới
H. — Bảy giới giải hòa:                                7 giới
Cộng là: Hai trăm năm chục giới:        (250 giới).
Tất cả bao nhiêu đó, mà đức Phật Tổ dạy chúng ta phải hội họp mỗi kỳ nửa tháng, đặng nghe đọc một lần, vậy cuộc họp nầy đến đây thì bế mạc.
(Nhưng truớc khi giải tán, tất cả giáo-hội đều đọc kệ chung với nhau, đại khái như dưới đây)
1.- ĐỨC PHẬT TỲ BÀ THI CÓ DẠY RẰNG:
Bền chịu với các sự nhẫn nhục, ấy là giới hạnh đầu tiên, mà chư Phật hằng khuyên ta, kẻ đã xuất gia bỏ thế, mà còn phiền giận, thật không đáng với tiếng tỳ-kheo.
2.- ĐỨC PHẬT THÍCH KHÍ CÓ DẠY RẰNG:
Người ta có mắt lanh, bao giờ cũng vượt qua khỏi hố sâu thẳm, cũng như thế, bậc Phật Thánh thoát khỏi các nạn khổ.
3.- ĐỨC PHẬT TỲ XÁ CÓ DẠY RẰNG:
Tránh nói hành và tật đố, giữ giới hạnh, vừa lòng với sự đủ dùng về đồ ăn uống, bao giờ cũng thỏa thích trong tịnh-thất thanh vắng của mình, bền chí về bổn nguyện, và cố tiến thủ ấy là các lý cốt yếu mà chư Phật đã ban truyền.
4.- ĐỨC PHẬT CA- LA TÔN-ĐẠI CÓ DẠY RẰNG:
Quanh quẩn trên hoa con ong chỉ lấy mật trong hoa mà thôi, chớ không phá màu hoa và mùi hoa, cũng như thế: Chư tỳ-kheo ở chung với giáo-hội, chớ nên làm nặng lòng ai hết, chớ xem coi họ có làm, hoặc không làm, mà phải lo lấy mình, xét coi đạo hạnh của mình có vẹn toàn hay không.
5.- ĐỨC PHẬT CÂU-NA-HÀM MƯU-NI CÓ DẠY RẰNG:
Chớ để cái tâm lạc bậy, hãy siêng học cái giới luật của Phật Thánh, như vậy người ta sẽ lánh xa mọi sự buồn và sẽ tấn tới Niết-Bàn.
6.- ĐỨC PHẬT CA-DIẾP CÓ DẠY RẰNG:
Chớ làm điều gì ác, phải làm các điều lành, cái sở-ý của người phải cho trong sạch luôn luôn, chư Phật đều dạy như vậy.
7.- ĐỨC PHẬT THÍCH-CA MƯU-NI DẠY RẰNG:
Hãy giữ lời nói của người, hãy làm cho tâm ý của người trở nên thanh bạch, đừng làm một việc gì sái quấy, giữ ba điều ấy là theo chánh đạo, đạo của chư Phật đó.
8.- CÁC NHÀ HIỀN ĐỨC GIỮ GIỚI:
Có ba điều an lạc lợi ích: Một là danh tiếng thơm lành, hai là được cúng-dường, ba là sanh lên cõi trên sau khi thác, nếu chưa đắc quả A-La-Hán.
9.- HÃY XEM QUA TRONG GIÁO-HỘI:
Coi mấy nhà hiền đức và thành tín, giữ giới luật thế nào, giữ giới và sống trong sạch, là sự phát sanh trí huệ, là nền tảng của mọi việc hay khác.
10.-NÓI THEO LỜI DẠY CỦA CHƯ PHẬT:
Quá khứ hiện tại và vị lai, người ta giải thoát khỏi mọi sự buồn thảm mà chư Phật hằng khuyên phải trân-trọng giữ giới, bảy đức Phật trên kia đều bảo rằng: Sự giữ giới gỡ cho mình ra khỏi các việc trói buộc, và đưa mình lên đến nơi cùng tột là Niết-Bàn, bây giờ sẽ dứt hết các cuộc phiền não.
11.- CHÚNG TA PHẢI NOI THEO LỜI DẠY CỦA CHƯ PHẬT, CHƯ TIÊN:
Lời khuyên của Thánh hiền, gương lành của mấy vị đệ-tử đích đáng, để nong nả tới nơi an-lạc của Niết-Bàn.
12.- TRƯỚC KHI TỊCH KHỎI CÕI THẾ MÀ VÀO NIẾT-BÀN:
Đức Phật Tổ có khuyến khích chư Tăng mấy lời nầy: “Khi ta từ giã, chư đệ-tử chớ nói rằng ta nhập Niết-Bàn là ta hết bảo hộ đâu, không, ta để luật lại, nó sẽ ủng hộ cho, hãy coi ta là thầy mãi, bao giờ luật của ta còn trì giữ, thì đạo Phật vẫn còn tỏ rõ và thạnh-hành, nếu chư đệ-tử giữ giới mà làm cho đạo sáng và thạnh, thì sẽ hưởng Niết-Bàn, còn để cho đạo tắt mất, thì trần thế sẽ bị chôn trở vào nơi hắc ám, cũng như lúc mặt trời lặn buổi chiều, hãy giữ giới cho kỹ, hãy hội họp lại mà đọc giới-bổn, theo như ta đã dạy, rán bảo tồn nó, vì nó giúp ích cho chúng-sanh, giúp cho tiến theo nẻo Phật”.
(Luật Tăng đồ nhà Phật nầy của phái Đàm-Vô-Đức bộ, do đại-sư Đàm-Đế dịch năm 254 sau Dương Lịch).
Kính lạy Ta-Bà Thế-Giới THÍCH-CA MƯU-NI PHẬT                    (3 lạy)
Giới-Bổn nầy tất cả Khất-Sĩ đều dùng được hết. 
Tổ sư Minh Đăng Quang ; Patriarch Minh Dang Quang 


Thiền quán, hãy tĩnh tọa, nhìn vào chữ vạn ! )
Meditation, be still is, looking at the swastika! )
@@@

Văn bản gốc (đang đ̀u chỉnh)
Luật giới & bổn phận của Tăng chúng
Trang 179-203 (Chơn lý số 67)
Tứ Phần Luật Tỳ Kheo: 250 Giới Luật
Tỳ Kheo Chư Tăng Khất Sĩ, trong ngày rằm và ba mươi, của mỗi tháng, phải tựu họp lại học luật, không được vắng mặt, mỗi lần đọc phải từ bốn vị sắp lên (một Tăng chúng là bốn vị, một Giáo hội Tăng già, là 20 vị Tăng)
Sa-di tập sự phải đi ra !
Ai vắng mặt phải có người thay lời ! 
Giáo Hội Tăng Già: Tỳ Kheo Ni có xin thỉnh chư Tăng qua thuyết pháp, phải sắp đi cho rồi...! 
Chư vị Tỳ-kheo phải tựu đủ rồi !
Đại đức nói: Ngay hồi "sanh tiền", đức Phật có dạy chư Tăng, phải họp mặt nhau một tháng hai kỳ, để khuyên răn sám hối với nhau, mà giữ gìn đạo hạnh, chúng ta cúi đầu, tôn trọng Phật, Pháp, Tăng. Nay chúng ta hội lại theo lệ cũ, mà chúng ta khéo giữ gìn, để bảo tồn chánh pháp luôn luôn. 
........
H.- Bảy Giới  Luật: Hòa Giải, Diệt Tránh
(Khi có việc xảy ra, xung đột, bất bình thì xử cho êm đi.)
1. Dùng cách tự thuận hòa.
2. Hoặc nói quyết rằng quên. 
3. Hoặc mình không biết không cố ý. 
4. Hoặc xin lỗi thành thật, mình đã lỡ phạm. 
5. Hoặc chuyển lên Giáo hội Tăng già xem xét cho. 
6. Hoặc nhờ một Thầy quảng đại, quyết định cho. 
7. Hoặc cùng nhau: niệm Phật bỏ qua, khỏa lấp như cỏ mới mọc. 
"Hai Trăm Năm Chục Giới Luật"
....

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét