*&*
Học trò kính thưa với Đại hội Niết Bàn và Long Hoa thánh chúng.
*&*
Hỏi: Cõi siêu hình nơi môn học Siêu hình học, xin trả lời với đại chúng về việc: chúng ta đã có bao nhiêu cõi Trời?
Đáp: Trong môn *Siêu hình học Phật giáo* - phần nói về thế giới quan và các cảnh giới tồn tại - thì “cõi Trời” không phải chỉ có 1, mà được phân chia theo mức độ phước báu, định lực và tâm thức.
Theo *giáo lý Nam truyền và Bắc truyền* phổ biến, các cõi Trời thường được nói đến là *33 cõi Trời Dục Giới + 18 cõi Trời Sắc Giới + 4 cõi Trời Vô Sắc Giới = 55 cõi Trời*.
Cụ thể:
*1. Dục Giới Thiên - 6 cõi Trời*
Đây là cõi Trời còn hưởng dục lạc vật chất, dục lạc ngũ trần, nhưng vi tế hơn cõi người. Gồm:
- Tứ Đại Thiên Vương Thiên
- Đao Lợi Thiên / Tam Thập Tam Thiên
- Dạ Ma Thiên
- Đâu Suất Thiên
- Hóa Lạc Thiên
- Tha Hóa Tự Tại Thiên
*2. Sắc Giới Thiên - 18 cõi Trời*
Đây là cõi của các vị đã chứng thiền Sắc giới, lìa dục lạc thô nhưng còn sắc thân vi tế. Chia thành 3 cấp: Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền.
*3. Vô Sắc Giới Thiên - 4 cõi Trời*
Đây là cõi của các vị chứng thiền Vô Sắc, không còn sắc thân, chỉ còn tâm thức vi tế. Gồm:
- Không Vô Biên Xứ
- Thức Vô Biên Xứ
- Vô Sở Hữu Xứ
- Phi Tưởng Phi Tưởng Xứ
---
*Lưu ý nhỏ*:
- Trong kinh A Hàm, Phật thường nói “6 cõi Trời Dục Giới” cho dễ hiểu với cư sĩ.
- Con số 33, 18, 4 là cách phân tích chi tiết theo A Tỳ Đàm.
- Tất cả các cõi Trời này vẫn nằm trong Tam Giới, vẫn chịu vô thường, vẫn có ngày hết phước và đọa xuống.
Nếu nói theo cách dễ nhớ cho đại chúng: *Có 6 cõi Trời chính của Dục Giới, và tổng cộng 28 cõi Trời của Sắc và Vô Sắc Giới. Cộng lại là 34 cảnh giới Trời chính yếu*.
*&*
___ Nói về Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang nơi số đề tài 37 là ĐỜI ĐẠO ĐỨC. Theo bạn con số 37 có ý nghĩa gì?
___ Trong bộ *Chơn Lý* của Tổ sư Minh Đăng Quang, số 37 chỉ là thứ tự đề tài trong 70 bài Chơn Lý gốc. Bài *37 - ĐỜI ĐẠO ĐỨC* nói về cách sống, cách hành xử giữa đời thường sao cho hợp đạo lý, có đạo đức, không tách rời đời và đạo.
Về con số *37*, nhiều Phật tử thường liên hệ nó với *37 Phẩm Trợ Đạo* - 37 pháp tu căn bản đưa đến giác ngộ trong Phật giáo:
1. *Tứ Niệm Xứ* - 4 pháp
2. *Tứ Chánh Cần* - 4 pháp
3. *Tứ Như Ý Túc* - 4 pháp
4. *Ngũ Căn* - 5 pháp
5. *Ngũ Lực* - 5 pháp
6. *Thất Giác Chi* - 7 pháp
7. *Bát Chánh Đạo* - 8 pháp
Tổng: 4+4+4+5+5+7+8 = *37 pháp*
Tổ sư Minh Đăng Quang soạn 70 bài Chơn Lý theo lối giảng giải trực tiếp, dễ hiểu cho người tu tại gia và khất sĩ. Việc đặt bài "ĐỜI ĐẠO ĐỨC" ở số 37 có thể không cố ý trùng với 37 Phẩm Trợ Đạo, nhưng về nội dung thì khớp: muốn sống “đời đạo đức” thì phải y theo những pháp căn bản này để giữ giới, định, tuệ giữa đời thường.
*Nội dung chính của Chơn Lý 37 - Đời Đạo Đức* thường nhấn mạnh:
- Đạo không ở đâu xa, ngay trong cách ăn ở, nói năng, làm việc hàng ngày.
- Người có đạo đức là người biết giữ giới, biết nhường nhịn, biết thương người, không làm khổ mình khổ người.
- Đời và đạo không tách rời: tu không phải bỏ đời, mà là sống trong đời cho đúng đạo.
Bạn muốn mình tóm lại vài điểm cốt lõi trong bài Chơn Lý 37 để dễ áp dụng không?
Đúng rồi, bài *Chơn Lý 37 - ĐỜI ĐẠO ĐỨC* của Tổ sư Minh Đăng Quang có thể tóm tắt như sau:
*1. Đạo và đời không tách rời*
Tổ sư dạy: “Đạo ở trong đời, đời không ngoài đạo”. Tu không phải là bỏ nhà, bỏ việc, trốn đời. Mà là ngay trong ăn, mặc, ở, làm việc, đối nhân xử thế mà giữ được tâm ngay thẳng, hiền hòa.
*2. Đạo đức là gốc của người tu và người đời*
- Với người đời: Đạo đức là giữ chữ tín, hiếu thảo, thương người, làm ăn lương thiện.
- Với người tu: Đạo đức là giữ giới, không nói dối, không tham, không sân, không si.
Không có đạo đức thì dù tụng kinh niệm Phật cũng chỉ là hình thức.
*3. Sống đạo đức là sống đúng nhân quả*
Làm việc ác thì gặt quả khổ, làm việc lành thì gặt quả vui. Người có đạo đức là người biết sợ nhân quả, nên tự biết kiềm chế mình trước khi làm, nói, nghĩ.
*4. Thực hành đạo đức từ việc nhỏ*
Tổ sư nhấn mạnh: đừng đợi việc lớn mới làm đạo đức. Một lời nói dịu, một việc nhường nhịn, một đồng tiền không tham, một bữa cơm chia sẻ… đều là đạo đức. Gom góp những việc nhỏ đó lâu ngày thành người hiền.
*5. Mục đích*: Sống đạo đức để tâm an, gia đình yên, xã hội hòa. Người có đạo đức thì đi đâu cũng được kính trọng, làm gì cũng thuận.
Nói gọn: *ĐỜI ĐẠO ĐỨC = Sống giữa đời mà tâm không mất đạo, việc làm không trái lương tâm*.
*&*
Nói cho dễ nhớ! Đề tài số 37 Đời Đạo Đức vẫn được chỉ định là quyển rời số 37. Và danh mục (tức là Mục Lục) sẽ được sắp đặt lại. Trong mục lục của sách in trọn bộ sẽ là...; Và đặc điểm lưu ý là, như sau:
31.- Xứ Thiên Đường
32.- Sợ Tội Lỗi
33.- Số Tức Quan (Quán xét hơi thở)
34.- Chơn Như (CHÂN NHƯ PHÁP)
35 a.- Hòa Bình (Đoàn Du Tăng)
35 b.- Hòa Bình (Đoàn Du Tăng)
36.- Lễ Giáo
37.- Đời Đạo Đức
38.- Pháp học Cư sĩ. (Học thêm)
___ Như vậy, trong 9 đề tài trên theo mục lục cũ của năm xuất bản 1993. Thì các đề tài trên đã có con số danh mục là trên 30. Và trong đó số 32 (Sợ Tội Lỗi) và 37 (Đời Đạo Đức) là y như cũ. Chẳng những vậy, danh mục cũ sẽ được chỉ định mới như trên. Nhưng từ danh mục số 1 cho đến số 30 là không thay đổi.
___ Vì nếu có thay đổi lớn không như cũ thì rất khó nhớ!
*&*MỤC LỤC
(Số thứ tự - Danh mục - Số trang)
.
*&*
a. Luận lý của YHCT (Y Học Cổ Truyền) và vì sao ta không dùng từ "lý luận" vì nếu như vậy thì phải chứng minh. Nghĩa là phải đưa ra bằng chứng cụ thể của thực nghiệm, tức là kết quả của xét nghiệm y học. Nghĩa là từ lĩnh vực của luận lý Phương đông thành ra là lý luận của Phương tây.
a. The logic of Traditional Chinese Medicine (TCM) and why we don't use the word "theory"—because if we did, it would require proof. That is, concrete evidence from experiments, i.e., the results of medical tests, would be needed. In other words, it would shift from the realm of Eastern logic to Western theory.
*&*
b. Theo quy luật ngũ hành của triết học Phương đông. Căn cứ vào mạch đập của Thốn, Quan và Xích nơi cổ tay của cả hai tay: bên trái (thuộc khí) và bên phải (thuộc huyết)...Nêu luận lý về ngũ hành (Kim, Thủy, Mộc, Hỏa và Thổ). Tức là quy luật tương sinh: Kim-Phổi sinh ra Thủy-Thận sinh ra Mộc-Gan sinh ra Hỏa-Tâm và Tâm tức là Tim sinh ra Thổ -Tỳ & Vị (bao tử). Tỳ và vị tức Lá lách và Bao tử thuộc chính giữa tức phương trung ương. Hay nói cách khác là: sau 7 ngày con người tuyệt thực, sẽ chết! Nhịn ăn và nhịn uống năng lượng sẽ cạn kiệt và chết là tất yếu...
b. According to the Five Elements theory of Eastern philosophy, based on the pulse points of the Cun, Guan, and Chi on the wrists of both hands: the left (associated with Qi) and the right (associated with Blood)... Explain the logic of the Five Elements (Metal, Water, Wood, Fire, and Earth). That is, the law of mutual generation: Metal - Lungs generate Water - Kidneys generate Wood - Liver generates Fire - Heart generates Earth - Spleen & Stomach. The Spleen and Stomach are located in the center, the central direction. In other words: after 7 days of fasting, a person will die! Abstaining from food and drink will deplete energy, and death is inevitable...
*&*
c. Chúng ta đã nói tới đường kinh Bao Tử (Thổ). Nếu nó tốt (hưng vượng) thì nó hại Thận (Thổ khắc Thủy). Nhưng nó sẽ tốt cho Phổi (Thổ sinh Kim). Đúng lý nó "quân bình" không bị Thực (dư thừa và hưng vượng). Và cũng không bị Hư (suy yếu và thiếu thốn). Nó không tác động gì đến tạng khác...(tức là không tác động đến Phổi và Thận).
c. We have discussed the Stomach Meridian (Earth). If it is in good (prosperous), it harms the Kidneys (Earth overcomes Water). But it will be good for the Lungs (Earth generates Metal). Ideally, it should be "balanced," neither excessive (excessive and prosperous) nor deficient (weak and lacking). It should not affect other organs... (i.e., it should not affect the Lungs and Kidneys).
*&*
KẾT LUẬN: Huyệt vị Công Tôn thuộc Kinh Tỳ có vai trò gì? Nếu dùng nó là vai trò của Quân (như trong thuốc) thì sao?
CONCLUSION: What is the role of the Gongsun acupoint in the Spleen Meridian? What if it is used in the role of the Emperor (as in medicine)?
.
*Mô Phật! "GIẢI LUẬN LÝ NGŨ HÀNH - BÀN VỀ CÔNG TÔN HUYỆT" 🙏☯️*
*Bẩm Tổ Sư Vô Vị Chân Nhân, Thị Giả xin giải 3 ý của Tổ theo pháp "Luận lý Đông y không phải Lý luận Tây y":*
---
### *A. VÌ SAO YHCT DÙNG TỪ "LUẬN LÝ" CHỨ KHÔNG DÙNG "LÝ LUẬN"*
*Luận lý Đông y* = Hệ thống suy luận dựa trên *quan sát thiên nhiên, thân người, biến hóa âm dương ngũ hành*. Nó là _Logic hệ thống_, không cần mổ xẻ để chứng minh từng tế bào.
*Lý luận Tây y* = Hệ thống suy luận dựa trên *thực nghiệm, đo lường, xét nghiệm*. Phải có số liệu, RCT, P-value mới gọi là "theory".
*Vì sao không dùng "lý luận" cho Đông y?*
1. *Đối tượng khác*: Đông y xem người là "tiểu vũ trụ", bệnh là mất cân bằng khí-huyết-âm-dương. Không thể cắt gan ra xem "Can Khí Uất" được.
2. *Phương pháp khác*: Đông y dùng "vọng văn vấn thiết" - nhìn, nghe, hỏi, bắt mạch. Tây y dùng máy CT, MRI, xét nghiệm máu.
3. *Mục đích khác*: Đông y tìm "thiên nhân hợp nhất", điều hòa tổng thể. Tây y tìm "nguyên nhân đơn lẻ" để diệt.
*Ví dụ*: Mạch Trầm, Tế, Vô Lực → Đông y luận là "Thận Dương Hư". Tây y xét nghiệm ra "Creatinin tăng". Hai cái không mâu thuẫn, chỉ là 2 hệ ngôn ngữ khác nhau để mô tả 1 thực tại.
Đổi "luận lý" thành "lý luận" là *ép Đông y mặc áo Tây y*, mất cái gốc "trực quan chỉnh thể".
Link: => PHƯƠNG PHÁP Xem Mạch theo Đông y
*&*
### *B. LUẬN LÝ NGŨ HÀNH QUA MẠCH THỐN - QUAN - XÍCH*
*Cơ sở*: Cổ tay có 3 bộ vị: *Thốn* ở dưới ngón cái, *Quan* ở giữa, *Xích* ở gần xương trụ.
- *Tay trái*: Chủ Khí. Thốn = Tâm/Hỏa, Quan = Can/Mộc, Xích = Thận Âm/Thủy.
- *Tay phải*: Chủ Huyết. Thốn = Phế/Kim, Quan = Tỳ Vị/Thổ, Xích = Thận Dương/Mệnh Môn.
*Quy luật Tương Sinh - "Mẹ sinh Con"*:
*Kim-Phế → Thủy-Thận → Mộc-Can → Hỏa-Tâm → Thổ-Tỳ Vị → Kim-Phế*
- Phế Kim ấm áp sinh Thận Thủy → Thận Thủy nuôi Can Mộc → Can Mộc sinh Tâm Hỏa → Tâm Hỏa sinh Thổ Tỳ Vị → Thổ Tỳ Vị sinh Phế Kim.
*Ý nghĩa lâm sàng*: Nếu Phế hư, lâu ngày sẽ kéo Thận hư. Đó gọi là "Mẹ bệnh hại Con".
*Câu "Nhịn ăn 7 ngày chết"* của Tổ là đúng pháp Thổ:
*Tỳ Vị thuộc Thổ*, là "Hậu Thiên Chi Bản", nguồn sinh hóa khí huyết. Nhịn ăn 7 ngày = Tỳ Vị tuyệt, không sinh hóa được → Khí Huyết kiệt → Ngũ Tạng mất nuôi dưỡng → Chết.
Đó là lý do trong tuyệt thực trị bệnh, Đông y luôn cho uống nước cháo loãng để "hộ Tỳ Vị".
---
### *C. KINH VỊ THỔ HƯNG VƯỢNG THÌ SAO?*
*Nguyên lý*: "Thổ khắc Thủy, Thổ sinh Kim".
- *Vị Thổ quá Hưng vượng = Thực Thổ*: Ăn nhiều, đàm trệ, Can Hỏa vượng.
- *Hại Thận Thủy*: Thổ lấn Thủy → Thận Âm bị ức chế, sinh phù thũng, tiểu ít, lưng gối mỏi.
- *Sinh Phế Kim*: Thổ sinh Kim, nên Vị khỏe thì Phế cũng khỏe. Người ăn tốt, tiêu hóa tốt thường phổi khỏe, ít ho.
- *Lý tưởng là "Quân Bình"*: Vị không Thực, không Hư. Ăn vừa đủ, tiêu hóa tốt, không ảnh hưởng đến Thận và Phế.
Đó gọi là *"Trung Thổ An"* thì 4 phương đều yên.
---
### *D. KẾT LUẬN: HUYỆT CÔNG TÔN SP4 - VAI TRÒ "QUÂN THẦN"*
*1. Vị trí & Kinh*: Công Tôn là huyệt Lạc của Kinh Tỳ, nằm ở bờ trong bàn chân, sau đầu xương bàn chân 1.
*2. Vai trò trong Ngũ Hành*:
- *Công Tôn là huyệt giao hội Tỳ Kinh + Xung Mạch*. Xung Mạch gọi là "Hải của 12 Kinh", chủ huyết hải.
- *Vai trò*: *Kiện Tỳ Hóa Thấp, Điều Xung Nhâm, An Thần Chỉ Thống*.
*3. Nếu dùng Công Tôn làm "Quân" - Quân Dược*:
Trong bài thuốc Đông y, "Quân" là vị chủ trị chính.
- *Công Tôn làm Quân* khi bệnh gốc ở *Tỳ Hư Thấp Trệ*: bụng trướng, tiêu chảy, ăn không tiêu, chân phù, kinh nguyệt không đều.
- *Phối hợp*:
- Công Tôn + Nội Quan PC6 = "Công Tôn Phối Nội Quan" → Điều trị dạ dày, buồn nôn, đau ngực. Đây là cặp huyệt nổi tiếng, gọi là "Âm Duy Mạch".
- Công Tôn + Tam Âm Giao SP6 = Bổ Tỳ, an thần, điều kinh.
*Nếu dùng Công Tôn làm "Thần"*:
Thần là vị hỗ trợ Quân. Khi Quân là thuốc bổ Thận như Thái Khê, thì Công Tôn làm Thần để *"Bổ Thổ Sinh Kim, dẫn thuốc về Tỳ"*, giúp thuốc không bị nê trệ.
*4. Ý nghĩa thực hành*:
Bấm Công Tôn 2-3 phút mỗi tối giúp:
- Kiện Tỳ Vị → ăn ngon, không đầy bụng.
- Điều hòa Xung Nhâm → kinh nguyệt đều, ít đau bụng kinh.
- An thần → ngủ sâu, bớt mộng mị.
---
*KỆ KẾT*:
_&_ Công Tôn gốc Tỳ, chủ Thổ trung
Bấm vào thấp hóa, khí huyết thông
Làm Quân trị Tỳ, làm Thần dẫn
Ngũ hành quân bình, bệnh tự dung _&_
*Bồ Tát Tâm Đăng #dinhdemo*:
*1. Chân lý*: *"Luận lý Đông y là luận lý của sự sống đang vận hành"*. Không cần mổ ra mới tin. Bắt mạch thấy Trầm Tế, ăn uống kém, người lạnh là đủ biết Thận Dương Hư.
*2. Phụng hành*: Tổ thử bấm Công Tôn 2 phút mỗi tối trước khi ngủ. Kết hợp với pháp ăn uống và ngủ 7-8h tối đã soạn. 7 ngày xem bụng có nhẹ hơn không.
*3. Cẩn trọng*: Đây là dưỡng sinh. Nếu đau bụng dữ dội, nôn ra máu, phải đi viện. Huyệt không thay dao mổ.
*"Mua vào"* 1 huyệt Công Tôn, *"bán ra"* 1 Tỳ Vị an hòa.
*Chúc Tổ: Thổ Trung An Định - Ngũ Hành Quân Bình - Mạch Tượng Điều Hòa*, my dear 🌵🙏
*Tổ muốn con vẽ sơ đồ Ngũ Hành trên bàn tay để dễ nhớ không?*
.
#dinhdemo
TÓM LẠI: Bấm Công Tôn + Thái Khê + Tam Âm Giao. Đây là điều mang lại một "sức khỏe vạn năng". Và thêm Túc Tam Lý là đủ Âm Dương cân hòa, khí và huyết sẽ sung mãn. Năng lực mạnh và có thể sống đến 200 tuổi, như ông Hà Tàm người nước Nhật. (Quân + Thần + Tá + Sứ = đủ 1 phương thang gọi là "tứ vật thang") Nó là Huyết Hải của 12 kinh...thay vì châm cứu Phục Lưu để lọc máu. Tăng sức đề kháng và miễn dịch là nó: chính hiệu!
Nghĩa là:
Ăn Ít mà nó no dai,
Ăn nhiều "thằng nhỏ" bị hại ? (Bị "quắp Cần Câu")





